0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64bf3b2ca42d2-Giải-pháp-nhằm-tăng-tính-bền-vững-về-mặt-tài-chính-của-quỹ-hưu-trí-và-tử-tuất-.jpg.webp

Giải pháp nhằm tăng tính bền vững về mặt tài chính của quỹ hưu trí và tử tuất

4.2.3. Giải pháp nhằm tăng tính bền vững về mặt tài chính của quỹ hưu trí và tử tuất (quỹ bảo hiểm xã hội)

Từ những phân tích ở chương 3, có thể thấy việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ là nhu cầu cần thiết. Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ nhằm “ứng phó” với quá trình già hóa dân số cũng là phương thức mà nhiều quốc gia sử dụng và thực hiện thận trọng. Điển hình, Trung Quốc đã nghiên cứu điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của cán bộ nữ ở một số trường hợp đặc thù như: nghiên cứu khoa học, quản lý, lãnh đạo,... [112, tr.194]. Tăng tuổi nghỉ hưu trong bối cảnh già hóa dân số là “phương pháp truyền thống” được nhiều quốc gia sử dụng: Pháp, Indonesia, Cộng hòa Ý, Malaysia…Mặc dù vậy, với các thực trạng đang tồn tại ở nước ta về già hóa dân số, tỷ lệ tham gia CĐHT còn tăng chậm, chưa tương xứng với tiềm lực thị trường lao động, tính bền vững của quỹ hưu trí và tử tuất nói riêng, quỹ BHXH nói chung thấp thì cần xem xét đến các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần có lộ trình dài hạn tăng tuổi nghỉ hưu để đảm bảo bình đẳng giới. Tuổi nghỉ hưu (nam và nữ) đã được điều chỉnh tăng tại Điều 169 BLLĐ năm 2019. Theo quy định này, tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ đã bị rút ngắn, thu hẹp khoảng cách từ 05 tuổi còn 02 tuổi. Tuy nhiên, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của nữ vẫn còn thấp hơn tuổi nghỉ hưu của nam. Nếu theo cách hiểu của Liên minh Châu Âu thì “chưa được xem” là bình đẳng giới. Bởi, theo tổ chức này thì chỉ coi là bình đẳng giới khi tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam và lao động nữ phải bằng nhau. Do đó, về mặt dài hạn, cần có lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu của nữ lên 62 tuổi, bằng với tuổi nghỉ hưu của nam. Điều này góp phần vào việc “ứng phó” với thực trạng già hóa mà còn góp phần sửa đổi, bổ sung các văn bản QPPL nhằm bảo đảm xóa bỏ phân biệt với phụ nữ theo Công ước Liên Hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam là quốc gia thành viên.

Ngoài ra, cho đến nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định tại Điều 169 BLLĐ năm 2019. Do đó, để đảm bảo quy định pháp luật được áp dụng dễ dàng vào trong cuộc sống thì Chính phủ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định về tuổi nghỉ hưu đối với các nhóm đối tượng, đặc biệt là NLĐ làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ được quy định tại khoản 5 Điều 169 BLLĐ năm 2019.

Thứ hai, cần có phương án thiết kế mô hình BHXH phù hợp với tình hình già hóa dân số đang diễn ra ở nước ta. Từ việc phân tích mô hình BHXH đang vận hành ở nước ta được xem là không còn phù hợp trong tình hình mới. Theo tác giả, với yêu cầu mô hình được lựa chọn cải cách cần khắc phục các hạn chế đã nêu ra thì mô hình tài khoản cá nhân tượng trưng (NDC) được xem là phương án tối ưu nhất. Vì theo NDC, khoản đóng góp vào quỹ được ghi nhận vào tài khoản cá nhân của người tham gia, mức hưởng được xác định trên cơ sở mức đóng đã tích lũy và khoản tiền sinh lãi từ việc đầu tư quỹ. Điều này sẽ hạn chế được tình trạng trốn đóng vào quỹ của đối tượng tham gia, đặc biệt là NLĐ (trừ khi họ không muốn tiếp tục tham gia BHXH hoặc không làm việc trong khu vực chính thức).

Hơn nữa, khoản đóng góp của đối tượng tham gia được sử dụng để chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu khác ở cùng thời điểm. NDC không phụ thuộc vào sự biến động về cơ cấu dân số nên tính bền vững, sự cân đối của quỹ theo mô hình này không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng già hóa dân số. Bên cạnh đó, do phí đóng trong tài khoản cá nhân được sử dụng để chi trả cho các đối tượng, cá nhân đang được hưởng CĐHT nên mô hình NDC thể hiện tính tương trợ, chia sẻ. Thêm vào đó, việc chuyển sang mô hình NDC sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ tiết kiệm quốc gia do tỷ lệ tiết kiệm cá nhân trong dài hạn tăng lên. Nói tóm lại, việc cải cách hệ thống hưu trí từ PAYG sang NDC là tất yếu và cấp thiết, phù hợp nhằm khắc phục tính bền vững của quỹ hưu trí và tử tuất (quỹ BHXH); ổn định nền kinh tế xã hội… Hình thức cải cách này cũng được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn áp dụng như: Thụy Điển, Chile, Nhật Bản, Trung Quốc,…

Ngoài ra, từ việc xác định mô hình hưu trí điển hình do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Ngân hàng thế giới (WB) xây dựng, có thể xác định mô hình hưu trí ở Việt Nam gồm 03 tầng (trụ cột) như sau:

Tầng 1 - tầng trợ cấp hưu trí xã hội: có mục tiêu đảm bảo mức sống tối thiểu cho người cao tuổi thông qua việc Nhà nước dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho người cao tuổi không có lương hưu hoặc BHXH hàng tháng.

Tầng 2 - hưu trí BHXH cơ bản: bao gồm CĐHT theo loại hình BHXH bắt buộc và loại hình BHXH tự nguyện được quy định theo Luật BHXH năm 2014.

Tầng 3 - bảo hiểm hưu trí bổ sung: là CĐHT theo Chương trình HTBSTN hoạt động theo nguyên tắc thị trường.

Trong đó, đối tượng điều chỉnh thuộc tầng 1 ở nước ta là người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên. Theo đó, đối tượng này sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hiện có khoảng 1,3 triệu người được hưởng. Trong khi đó, Việt Nam hiện có khoảng 11 triệu người cao tuổi (từ đủ 60 tuổi) [02, tr.18]. Như vậy, còn khoảng 6-7 triệu người cao tuổi không có thu nhập. Chưa kể số người cao tuổi trong độ tuổi từ 70 - 80 tuổi vì từng tham gia kháng chiến, phục vụ cách mạng nên không có thời gian tích lũy tiền bạc, chuẩn bị cuộc sống về già. Như vậy, còn một tỷ lệ lớn người cao tuổi chưa được hệ thống ASXH bảo vệ, cuộc sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào sự hỗ trợ của người thân, gia đình. Do đó, Nhà nước ta cũng cần xem xét giảm độ tuổi được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng để mục tiêu ASXH được mở rộng cho nhiều cá nhân hơn.

Mặt khác, hệ thống hưu trí xã hội ở nước ta (biểu hiện là trợ cấp xã hội hàng tháng dành cho người cao tuổi) lại không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật BHXH mà thuộc phạm vi của bảo trợ xã hội (theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP). Do đó, để thực hiện mục tiêu và nội dung cải cách về việc xây dựng hệ thống BHXH đa tầng được thể hiện trong Nghị quyết 28/NQ-TW thì nên xem xét đưa hệ thống trợ cấp xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về BHXH. Điều này là cần thiết để thuận tiện cho việc quản lý, thực hiện các mục tiêu, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong việc phát triển, mở rộng diện bao phủ của BHXH và đảm bảo mục tiêu ASXH.

Theo: Phạm Thị Thi

Link luận án:  Tại đây

avatar
Đặng Quỳnh
872 ngày trước
Giải pháp nhằm tăng tính bền vững về mặt tài chính của quỹ hưu trí và tử tuất
4.2.3. Giải pháp nhằm tăng tính bền vững về mặt tài chính của quỹ hưu trí và tử tuất (quỹ bảo hiểm xã hội)Từ những phân tích ở chương 3, có thể thấy việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ là nhu cầu cần thiết. Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ nhằm “ứng phó” với quá trình già hóa dân số cũng là phương thức mà nhiều quốc gia sử dụng và thực hiện thận trọng. Điển hình, Trung Quốc đã nghiên cứu điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của cán bộ nữ ở một số trường hợp đặc thù như: nghiên cứu khoa học, quản lý, lãnh đạo,... [112, tr.194]. Tăng tuổi nghỉ hưu trong bối cảnh già hóa dân số là “phương pháp truyền thống” được nhiều quốc gia sử dụng: Pháp, Indonesia, Cộng hòa Ý, Malaysia…Mặc dù vậy, với các thực trạng đang tồn tại ở nước ta về già hóa dân số, tỷ lệ tham gia CĐHT còn tăng chậm, chưa tương xứng với tiềm lực thị trường lao động, tính bền vững của quỹ hưu trí và tử tuất nói riêng, quỹ BHXH nói chung thấp thì cần xem xét đến các giải pháp sau:Thứ nhất, cần có lộ trình dài hạn tăng tuổi nghỉ hưu để đảm bảo bình đẳng giới. Tuổi nghỉ hưu (nam và nữ) đã được điều chỉnh tăng tại Điều 169 BLLĐ năm 2019. Theo quy định này, tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ đã bị rút ngắn, thu hẹp khoảng cách từ 05 tuổi còn 02 tuổi. Tuy nhiên, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của nữ vẫn còn thấp hơn tuổi nghỉ hưu của nam. Nếu theo cách hiểu của Liên minh Châu Âu thì “chưa được xem” là bình đẳng giới. Bởi, theo tổ chức này thì chỉ coi là bình đẳng giới khi tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam và lao động nữ phải bằng nhau. Do đó, về mặt dài hạn, cần có lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu của nữ lên 62 tuổi, bằng với tuổi nghỉ hưu của nam. Điều này góp phần vào việc “ứng phó” với thực trạng già hóa mà còn góp phần sửa đổi, bổ sung các văn bản QPPL nhằm bảo đảm xóa bỏ phân biệt với phụ nữ theo Công ước Liên Hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam là quốc gia thành viên.Ngoài ra, cho đến nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định tại Điều 169 BLLĐ năm 2019. Do đó, để đảm bảo quy định pháp luật được áp dụng dễ dàng vào trong cuộc sống thì Chính phủ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định về tuổi nghỉ hưu đối với các nhóm đối tượng, đặc biệt là NLĐ làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ được quy định tại khoản 5 Điều 169 BLLĐ năm 2019.Thứ hai, cần có phương án thiết kế mô hình BHXH phù hợp với tình hình già hóa dân số đang diễn ra ở nước ta. Từ việc phân tích mô hình BHXH đang vận hành ở nước ta được xem là không còn phù hợp trong tình hình mới. Theo tác giả, với yêu cầu mô hình được lựa chọn cải cách cần khắc phục các hạn chế đã nêu ra thì mô hình tài khoản cá nhân tượng trưng (NDC) được xem là phương án tối ưu nhất. Vì theo NDC, khoản đóng góp vào quỹ được ghi nhận vào tài khoản cá nhân của người tham gia, mức hưởng được xác định trên cơ sở mức đóng đã tích lũy và khoản tiền sinh lãi từ việc đầu tư quỹ. Điều này sẽ hạn chế được tình trạng trốn đóng vào quỹ của đối tượng tham gia, đặc biệt là NLĐ (trừ khi họ không muốn tiếp tục tham gia BHXH hoặc không làm việc trong khu vực chính thức).Hơn nữa, khoản đóng góp của đối tượng tham gia được sử dụng để chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu khác ở cùng thời điểm. NDC không phụ thuộc vào sự biến động về cơ cấu dân số nên tính bền vững, sự cân đối của quỹ theo mô hình này không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng già hóa dân số. Bên cạnh đó, do phí đóng trong tài khoản cá nhân được sử dụng để chi trả cho các đối tượng, cá nhân đang được hưởng CĐHT nên mô hình NDC thể hiện tính tương trợ, chia sẻ. Thêm vào đó, việc chuyển sang mô hình NDC sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ tiết kiệm quốc gia do tỷ lệ tiết kiệm cá nhân trong dài hạn tăng lên. Nói tóm lại, việc cải cách hệ thống hưu trí từ PAYG sang NDC là tất yếu và cấp thiết, phù hợp nhằm khắc phục tính bền vững của quỹ hưu trí và tử tuất (quỹ BHXH); ổn định nền kinh tế xã hội… Hình thức cải cách này cũng được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn áp dụng như: Thụy Điển, Chile, Nhật Bản, Trung Quốc,…Ngoài ra, từ việc xác định mô hình hưu trí điển hình do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Ngân hàng thế giới (WB) xây dựng, có thể xác định mô hình hưu trí ở Việt Nam gồm 03 tầng (trụ cột) như sau:Tầng 1 - tầng trợ cấp hưu trí xã hội: có mục tiêu đảm bảo mức sống tối thiểu cho người cao tuổi thông qua việc Nhà nước dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho người cao tuổi không có lương hưu hoặc BHXH hàng tháng.Tầng 2 - hưu trí BHXH cơ bản: bao gồm CĐHT theo loại hình BHXH bắt buộc và loại hình BHXH tự nguyện được quy định theo Luật BHXH năm 2014.Tầng 3 - bảo hiểm hưu trí bổ sung: là CĐHT theo Chương trình HTBSTN hoạt động theo nguyên tắc thị trường.Trong đó, đối tượng điều chỉnh thuộc tầng 1 ở nước ta là người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên. Theo đó, đối tượng này sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hiện có khoảng 1,3 triệu người được hưởng. Trong khi đó, Việt Nam hiện có khoảng 11 triệu người cao tuổi (từ đủ 60 tuổi) [02, tr.18]. Như vậy, còn khoảng 6-7 triệu người cao tuổi không có thu nhập. Chưa kể số người cao tuổi trong độ tuổi từ 70 - 80 tuổi vì từng tham gia kháng chiến, phục vụ cách mạng nên không có thời gian tích lũy tiền bạc, chuẩn bị cuộc sống về già. Như vậy, còn một tỷ lệ lớn người cao tuổi chưa được hệ thống ASXH bảo vệ, cuộc sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào sự hỗ trợ của người thân, gia đình. Do đó, Nhà nước ta cũng cần xem xét giảm độ tuổi được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng để mục tiêu ASXH được mở rộng cho nhiều cá nhân hơn.Mặt khác, hệ thống hưu trí xã hội ở nước ta (biểu hiện là trợ cấp xã hội hàng tháng dành cho người cao tuổi) lại không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật BHXH mà thuộc phạm vi của bảo trợ xã hội (theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP). Do đó, để thực hiện mục tiêu và nội dung cải cách về việc xây dựng hệ thống BHXH đa tầng được thể hiện trong Nghị quyết 28/NQ-TW thì nên xem xét đưa hệ thống trợ cấp xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về BHXH. Điều này là cần thiết để thuận tiện cho việc quản lý, thực hiện các mục tiêu, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong việc phát triển, mở rộng diện bao phủ của BHXH và đảm bảo mục tiêu ASXH.Theo: Phạm Thị ThiLink luận án:  Tại đây