Thực trạng pháp luật về quan niệm tập đoàn kinh tế và thành lập đoàn kinh tế
3.1. Thực trạng pháp luật về quan niệm tập đoàn kinh tế và thành lập đoàn kinh tế
3.1.1. Thực trạng pháp luật về quan niệm tập đoàn kinh tế
Trong các văn bản pháp luật hiện hành có tới 03 khái niệm để chỉ các tập hợp công ty có mối liên kết chặt chẽ với nhau đó là: nhóm công ty, tổng công ty và TĐKT. Việc sử dụng đồng thời nhiều khái niệm cho thấy sự thiếu nhất quán trong quá trình soạn thảo văn bản pháp luật, gây nhầm lẫn và khó hiểu khi sử dụng các thuật ngữ.
Luật Doanh nghiệp (2014) có quy định tại Chương VIII về “nhóm công ty”, tuy nhiên trong nội dung của Chương không có quy định về khái niệm “nhóm công ty” mà chỉ quy định về TĐKT và TCT. Luật Doanh nghiệp (2014) không quy định rõ tiêu chí phân biết giữa mô hình TĐKT và mô hình TCT. Nghị định 69/2014/NĐ-CP quy định mô hình TĐKT nhà nước và TCT nhà nước theo hướng TĐKT nhà nước có quy mô lớn hơn so với mô hình TCT nhà nước dựa trên cơ sở vốn điều lệ của công ty mẹ và số lượng công ty thành viên. Theo đó, vốn điều lệ của công ty mẹ trong TĐKT nhà nước không thấp hơn 10.000 tỷ đồng, vốn điều lệ của công ty mẹ trong TCT nhà nước không thấp hơn 1.800 tỷ đồng. Sự phân biệt này chỉ nhằm giải quyết thực trạng tại Việt Nam đang tồn tại song song cả mô hình TĐKT và TCT mà không phản ánh đúng bản chất của vấn đề. Sự phân biệt này cũng không giải quyết được những vấn đề trong hoạt động của các TĐKT mà còn tạo ra sự tùy tiện, Chính phủ có thể chuyển từ TCT thành TĐKT, khi hoạt động không hiệu quả lại chuyển đổi từ TĐKT thành TCT. Điển hình của trường hợp này là vụ việc của Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam được chuyển thành Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam.
Điều 188 Luật Doanh nghiệp (2014) và Khoản 2 Điều 5 Nghị định 69/2014/NĐ-CP đều thống nhất về quan niệm TĐKT: TĐKT không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân và không phải đăng ký kinh doanh. Quan niệm này hoàn toàn phù hợp với bản chất pháp lý của TĐKT. Việc quy định rõ ràng về tư cách chủ thể của TĐKT đã chấm dứt những tranh luận cũng như những đòi hỏi về sự ghi nhận tính độc lập của TĐKT. Tuy nhiên những vấn đề về tên gọi tập đoàn và tiêu chí xác định TĐKT vẫn còn chưa có sự thống nhất.
Về tên gọi tập đoàn kinh tế
Khoản 1 Điều 5 Nghị định 69/2014/NĐ-CP quy định, TĐKT nhà nước có tên, có thương hiệu riêng. Công ty mẹ, công ty con và các công ty liên kết trong TĐKT nhà nước có trách nhiệm trong việc xây dựng, bảo vệ và sử dụng thương hiệu của tập đoàn. Quy định này khẳng định bản chất pháp lý của TĐKT là một tổ chức, có tên riêng, nhưng không có tài sản, không có năng lực chủ thể để tham gia các quan hệ pháp luật. Trên thực tế, việc đặt tên cho TĐKT nhà nước rất dễ gây nhầm lẫn giữa tên của tập đoàn và tên của công ty mẹ, cụ thể:
- Tập đoàn dầu khí Việt Nam là công ty mẹ trong Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam;
- Tập đoàn điện lực Việt Nam là công ty mẹ trong Tập đoàn điện lực quốc gia Việt Nam;
- Đối với Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel, tên công ty mẹ và tên tập đoàn là trùng nhau.
- Đối với TĐKT tư nhân, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không có quy định về tên gọi của TĐKT tư nhân. Từ Nghị định 139/2007/NĐ-CP đến Nghị định 102/2010/NĐ-CP, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ tạo điều kiện cho công ty mẹ sử dụng cụm từ “tập đoàn” trong thành tố cấu thành tên riêng của công ty mẹ. Quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 đang làm hạn chế quá trình xây dựng thương hiệu tập đoàn của các TĐKT tư nhân.
Đối với tiêu chí xác định TĐKT nhà nước
Khoản 3, Điều 4, Nghị định 69/2014/NĐ-CP quy định TĐKT nhà nước có công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối. Theo Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2014): doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối không phải là doanh nghiệp nhà nước như Luật Doanh nghiệp (2005). Quy định này dẫn đến bất cập trong việc xác định tiêu chí TĐKT nhà nước. Vì trong trường hợp, Nhà nước chỉ nắm giữ cổ phần, phần vốn góp chi phối của công ty mẹ, công ty mẹ không phải là doanh nghiệp nhà nước, nhưng TĐKT được gọi là TĐKT nhà nước thì không phù hợp.
3.1.2. Thực trạng pháp luật về thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước
3.1.2.1. Điều kiện, tiêu chuẩn thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định chi tiết về thành lập TĐKT nhà nước là Nghị định 101/2009/NĐ-CP. Tuy nhiên, trước khi Nghị định này có hiệu lực, 09 (chín) TĐKT nhà nước đã được thí điểm thành lập. Nghị định 101/2009/NĐ-CP được coi là cơ sở pháp lý quan trọng trong quá trình phát triển mô hình TĐKT nhà nước, mặc dù chỉ dừng ở mức độ thí điểm. Sau khi Nghị định 101/2009/NĐ-CP có hiệu lực, Chính phủ đã thí điểm thành lập 02 (hai) tập đoàn trong lĩnh vực xây dựng trên cơ sở tái cơ cấu, hợp nhất các TCT lớn củ a nhà nước.
Điểm bất cập của Nghị định 101/2009/NĐ-CP là không đưa ra một tiêu chí định lượng cụ thể để hình thành TĐKT. Điều 10 Nghị định 101/2009/NĐ-CP quy định các tiêu chí rất chung chung: (i) vốn điều lệ công ty mẹ không thấp hơn mức vốn tối thiểu do Thủ tướng chính phủ ban hành với từng ngành nghề, nhưng trên thực tế, không có quyết định nào cho vấn đề này; (ii) có nguồn nhân lực đủ trình độ; (iii) có khả năng sử dụng công nghệ, có thương hiệu; (iv) có nguồn lực tài chính, v.v.. Không có tiêu chí rõ ràng thành lập tập đoàn , lại trong tâm lý nóng vội, 02 (hai) tập đoàn trong lĩnh vực xây dựng được thí điểm thành lập tập đoàn theo hình thức lắp ghép cơ học, không tính toán tới các yếu tố truyền thống kinh doanh, thời điểm thí điểm khi thị trường bất động sản gặp nhiều khó khăn, cách thức quản lý điều hành. Tuy nhiên, đợt thí điểm này đã không đạt được kết quả như mong đợi, Thủ tướng Chính phủ phải ra quyết định số 1428/QĐ -TTg ngày 02 tháng 12 năm 2012, kết thúc thí điểm thành lập Tập đoàn công nghiệp xây dựng Việt Nam và Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam.
Những bài học từ kinh nghiệm thí điểm trên đã được nhà làm luật đưa vào trong Nghị định 69/2014/NĐ-CP. Điều 9 Nghị định 69/2014/NĐ-CP đã quy định khá chi tiết điều kiện thành lập TĐKT nhà nước.
Thứ nhất, điều kiện của TCT làm nòng cốt hình thành TĐKT
Tổng công ty làm nòng cốt tập đoàn phải đáp ứng điều kiện về tài chính trong 03 (ba) năm liền kề phải kinh doanh có lãi, mức độ bảo đảm cao và đáp ứng các điều kiện về công nghệ, kỹ thuật, quản lý. Quy định này tương đối phù hợp xét từ khía cạnh lộ trình thành lập tập đoàn tuy nhiên lại bộc lộ bất cập trong quan điểm về TĐKT. Như vậy, để chỉ một tổ hợp công ty có 03 (ba) khái niệm: nhóm công ty, TCT, TĐKT. Theo đó, một nhóm công ty nhà nước phát triển đến một quy mô nhất định trở thành TCT, TCT đó phát triển đến một quy mô nhất định trở thành TĐKT. Hơn nữa, sự chuyển đổi từ mô hình này sang mô hình khác lại từ một Quyết định của Thủ tướng.
Thứ hai, điều kiện của TĐKT nhà nước dự kiến thành lập.
Một là , về ngành nghề kinh doanh: ngành nghề kinh doanh phải thuộc ngành, lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia về kinh tế; tạo nền tảng về hạ tầng kinh tế quốc gia; tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Theo Quyết định 929/QĐ-TTg và Quyết định số 37-QĐ/TTg những ngành nghề kinh doanh đó bao gồm: hàng không, viễn thông, khai thác khoáng sản, xăng dầu, điện năng, giao thông đường sắt, lương thực, cao su, cà phê. Hai là, về điều kiện đối với công ty mẹ:
(i) Vốn điều lệ của công ty mẹ không thấp hơn 10.000 tỷ đồng. Mức vốn này được đánh giá là thấp so với quy mô của các TĐKT nhà nước hiện nay, không phản ánh đúng nhu cầu vốn của TĐKT nhà nước và mang tính cào bằng. Thực tế, có một số tập đoàn quy mô vốn rất lớn như: Vốn điều lệ của công ty mẹ trong Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam là 177.628.383.625.944 đồng (Một trăm bảy mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi tám tỷ, ba trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm bốn mươi bốn đồng) ; vốn điều lệ của công ty mẹ trong Tập đoàn điện lực Việt Nam tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2012 là 143.404 tỷ đồng (một trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm lẻ bốn tỷ đồng); vốn điều lệ của công ty mẹ Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam là 35.000 tỷ đồng (ba mươi lăm nghìn tỷ đồng)
Mặc dù vậy, cũng có một số tập đoàn quy mô vốn của công ty mẹ ở dưới mức 10.000 tỷ đồng như: vốn điều lệ công ty mẹ Tập đoàn hóa chất Việt Nam chỉ là 8.000 tỷ đồng (tám nghìn tỷ đồng); vốn điều lệ công ty mẹ Tập đoàn dệt may Việt Nam chỉ là 3.400 tỷ đồng (ba nghìn bốn trăm tỷ đồng). Hiện nay, Chính phủ chưa có giải pháp để khắc phục tình trạng quy mô vốn của các tập đoàn dưới mức quy định.
Theo: Vũ Phương Đông
Link luận án: Tại đây