Cơ sở thực tiễn về quản lý, điều hành trong tập đoàn kinh tế nhà nước
3.2. Thực trạng pháp luật về quản lý, điều hành trong tập đoàn kinh tế
3.2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý, điều hành trong tập đoàn kinh tế nhà nước
Theo Báo cáo số 512/BC-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 11 năm 2014, đến hết năm 2013, tổng tài sản của khối TĐKT, TCT là 2.639.916 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu tại khối TĐKT, TCT là 1.042.365 tỷ đồng. Tổng doanh thu của các TĐKT trong năm 2013 là 989.184 tỷ đồng, các TCT là 527.663 tỷ đồng. Trong đó Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đạt mức doanh thu lớn nhất 404.171 tỷ đồng. Các TĐKT đạt mức lợi nhuận trước thuế 137.648 tỷ đồng, thu nộp Ngân sách nhà nước 197.240 tỷ đồng. Trong đó Tập đoàn viễn thông quân đội (Viettel) đạt mức lợi nhuận cao nhất 35.098 tỷ đồng, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) nộp ngân sách nhiều nhất 127.354 tỷ đồng.
Tuy nhiên, tổng số nợ phải trả của khối các TĐKT, TCT đến hết năm 2013 là 1.514.915 tỷ đồng. Trong đó nợ phải trả của các TĐKT nhà nước chiếm tỉ trọng lớn. Đối với nợ vay các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) vay 163.063 tỷ đồng, Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) vay 78.583 tỷ đồng. Đối với khoản nợ nước ngoài, Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) vay 114.577 tỷ đồng, Tập đoàn dầu khí Việt Nam vay 17.417 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy vấn đề rất nghiêm trọng trong việc quản lý và điều hành các TĐKT nhà nước tại Việt Nam hiện nay, khi các TĐKT nhà nước nắm một nguồn lực lớn, với nhiều ưu đãi nhưng vẫn hoạt động kinh doanh thiếu hiệu quả.
3.2.1.1. Cơ cấu tổ chức trong tập đoàn kinh tế nhà nước
TĐKT nhà nước bao gồm công ty mẹ, công ty con và các công ty liên kết. Trong đó: công ty con do công ty mẹ nắm 100% vốn điều lệ hoặc nằm tỉ lệ vốn góp, cổ phần chi phối; công ty liên kết do công ty mẹ sở hữu tỉ lệ cổ phần, vốn góp dưới mức chi phối hoặc công ty không có vốn góp của công ty mẹ và công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết và có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường, các dịch vụ khác với công ty mẹ. TĐKT nhà nước có không quá ba cấp doanh nghiệp bao gồm: công ty mẹ (doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và giữ quyền chi phối; công ty con của doanh nghiệp cấp I (doanh nghiệp cấp II) là doanh nghiệp do công ty mẹ nắm quyền chi phối; công ty con của doanh nghiệp cấp II (doanh nghiệp cấp III) là doanh nghiệp do doanh nghiệp cấp I nắm quyền chi phối [30]. Công ty mẹ và công ty con, công ty liên kết có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định pháp luật; tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình; chịu sự ràng buộc về quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng liên kết, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp.
Hoạt động quản lý TĐKT nhà nước được thực hiện thông qua công ty mẹ. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty mẹ cũng có sự thay đổi theo từng thời kỳ. Trước thời điểm 01-07-2010, công ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty nhà nước được quy định trong Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) bao gồm: HĐQT, Ban kiểm soát, Ban giám đốc (Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc), Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc. Hiện nay, công ty mẹ trong tập đoàn hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được quy định tại Nghị định 25/2010/NĐ-CP, theo đó cơ cấu tổ chức công ty mẹ bao gồm: Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc và các Kiểm soát viên.
Thứ nhất, Hội đồng thành viên.
Hội đồng thành viên là đại diện chủ sở hữu nhà nước trực tiếp tại công ty mẹ. Hội đồng thành viên có toàn quyền quản lý, điều hành tập đoàn: quyết định kế hoạch, chiến lược kinh doanh của tập đoàn; xây dựng cơ cấu tổ chức; phê duyệt các chủ trương đầu tư; phê duyệt đề án tái cơ cấu. Hội đồng thành viên có không quá 07 (bảy) thành viên trong đó tối đa 01 (một) thành viên tham gia quản lý điều hành công ty mẹ. Tại các TĐKT ở Việt Nam, thông thường một thành viên Hội đồng thành viên (thành viên này không giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng thành viên) kiêm chức vụ Tổng giám đốc tập đoàn. Chế độ làm việc của Hội đồng thành viên được quy định trong Điều lệ, Quy chế hoạt động của Hội đồng thành viên của tập đoàn. Một số TĐKT nhà nước quy định việc họp Hội đồng thành viên được tiến hành định kỳ hàng tuần.
Điều kiện trở thành thành viên Hội đồng thành viên được quy định tại Nghị định 69/2014/NĐ-CP khá đơn giản và mang tính hình thức. Ngoài điều kiện tốt nghiệp đại học, các điều kiện khác đều chung chung. Nghị định 69/2014/NĐ-CP cho phép các tập đoàn có thể quy định thêm các điều kiện khác trong điều lệ tuy nhiên điều lệ các TĐKT nhà nước đã được ban hành hiện nay không bổ sung thêm bất kỳ điều kiện nào khác. Nghị định 97/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 10 năm 2015 quy định về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% quy định về đánh giá, bồi dưỡng kiến thức, quy hoạch và điều kiện bổ nhiệm người quản lý trong công ty mẹ của các TĐKT. Quy trình bổ nhiệm thành viên hội đồng thành viên đã được luật hóa nhằm lựa chọn được những người có đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ được giao, tuy nhiên, nếu không thay đổi về tư duy trong việc thu hút nguồn nhân lực thì những quy định này không đảm bảo cho việc nâng cao nă ng lực quản lý của thành viên Hội đồng thành viên.
Để giúp việc cho Hội đồng thành viên, Hội đồng thành viên có thể thành lập các Ban giúp việc: Ban tài chính, Ban nhân sự tiền lương, Ban kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, việc thành lập Ban tài chính hay Ban nhân sự tiền lương là không cần thiết, dễ chồng chéo với hoạt động điều hành tập đoàn do đó hầu hết các TĐKT nhà nước chỉ thành lập Ban kiểm soát nội bộ.
Thứ hai, Tổng giám đốc
Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty mẹ, điều hành hoạt động hàng ngày của tập đoàn theo mục tiêu, kế hoạch và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên tập đoàn phù hợp với Điều lệ tổ chức và hoạt động của tập đoàn; chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên tập đoàn và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Điều lệ tập đoàn đều quy định rõ điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với Tổng giám đốc.
Giúp việc cho Tổng giám đốc là các Phó tổng giám đốc. Điều lệ các tập đoàn quy định số lượng Phó tổng giám đốc (Tập đoàn dầu khí Việt Nam không quá 08 Phó tổng giám đốc, Tập đoàn điện lực Việt Nam không quá 07 Phó tổng giám đốc, Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam không quá 07 Phó tổng giám đốc, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam không quá 05 Phó tổng giám đốc). Việc quy định số lượng Phó tổng giám đốc cho từng tập đoàn phụ thuộc vào quy mô là một giải pháp hợp lý tuy nhiên số lượng Phó tổng giám đốc vẫn khá nhiều. Nghị định 69/2014/NĐ-CP và Điều lệ TĐKT nhà nước hiện nay đều không quy định về điều kiện bổ nhiệm cho Phó tổng giám đốc.
Thứ ba, Kiểm soát viên
Kiểm soát viên là cá nhân do chủ sở hữu bổ nhiệm để giúp chủ sở hữu kiểm soát việc tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, việc quản lý điều hành công việc kinh doanh tại công ty mẹ tập đoàn của Hội đồng thành viên và Tổng Giám đốc. Quy chế hoạt động của kiểm soát viên theo quy định tại Quyết định số 35/2013/QĐ-TTg .
Để đảm bảo hoạt động quản lý đạt hiệu quả, công ty mẹ trong các tập đoàn đều có quy định phân công trách nhiệm cụ thể cho Chủ tịch và từng thành viên Hội đồng thành viên, cho Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc. Mối quan hệ giữa Hội đồng thành viên và Ban giám đốc, giữa Kiểm soát viên và Hội đồng thành viên, Ban giám đốc đã được luật hóa tương đối cụ thể. Những cơ chế quản lý hiện đại đang được triển khai trong tập đoàn.
Trong các TĐKT nhà nước ở Việt Nam hiện nay, chỉ có công ty mẹ Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel không hoạt động theo cơ cấu tổ chức này. Mô hình quản lý công ty mẹ- Tập đoàn viễn thông quân đội bao gồm: Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng.
3.2.1.2. Quyền hạn và trách nhiệm của công ty mẹ với công ty con và công ty thành viên
Tập đoàn kinh tế nhà nước không có bộ máy quản trị, hoạt động quản lý và điều hành tập đoàn do công ty mẹ thực hiện. Về nguyên tắc, chủ sở hữu cấp vốn cho TĐKT nhà nước, công ty mẹ của TĐKT đại diện cho các công ty trong TĐKT tiếp nhận nguồn vốn đầu tư và cấp vốn lại cho các công ty con trong tập đoàn. Công ty mẹ trong TĐKT nhà nước chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu nhà nước để thực hiện các mục tiêu kinh doanh ngành nghề chính và mục tiêu kinh doanh khác do chủ sở hữu quy định. Công ty mẹ đại diện cho TĐKT thực hiện các hoạt động chung của TĐKT trong quan hệ với bên thứ ba ở trong và ngoài nước hoặc các hoạt động khác theo thỏa thuận với doanh nghiệp thành viên và quy định của pháp luật có liên quan.
Quyền hạn, trách nhiệm của công ty mẹ với công ty con: Công ty mẹ hoạch định các chính sách phát triển chung của tập đoàn, định hướng và tạo các liên kết kinh doanh giữa các thành viên trong tập đoàn. Nghị định 99/2012/NĐ-CP và Nghị định 69/2014/NĐ-CP đã quy định cụ thể mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con cấp II do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ, mối quan hệ giữa công ty con cấp II do công ty mẹ giữa cổ phần, phần vốn góp chi phối và mối quan hệ giữa công ty mẹ với các công ty liên kết. Nghị định 69/2014/NĐ-CP cũng quy định khá rõ ràng chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu, quyền và nghĩa vụ của công ty mẹ được quy định là quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Nghị định 69/2014/NĐ-CP quy định cho công ty mẹ trách nhiệm định hướng hoạt động của công ty con thông qua việc định hướng tổ chức, cán bộ đối với các công ty con; định hướng nội dung điều lệ và kiểm soát cơ cấu vốn điều lệ của công ty..
Theo: Vũ Phương Đông
Link luận án: Tại đây