Thực trạng pháp luật về tổ chức, quản lý công ty luật hợp danh và một số nhận xét
2.2. Thực trạng pháp luật về tổ chức, quản lý công ty luật hợp danh và một số nhận xét
2.2.1. Thực trạng pháp luật về tổ chức, quản lý công ty luật hợp danh
Là loại hình công ty đối nhân nên việc tổ chức quản lý nội bộ của công ty luật hợp danh mang nhiều nét khác biệt và đặc trưng so với các loại hình công ty khác. Luật Luật sư năm 2012 chỉ quy định nguyên tắc về thể chế quản lý trong công ty luật hợp danh, những vấn đề khác của công ty luật hợp danh không được Luật Luật sư quy định thì áp dụng quy định của Luật Doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, cơ cấu tổ chức của công ty hợp danh nói chung bao gồm HĐTV, Chủ tịch HĐTV kiêm Giám đốc hoặc TGĐ công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác (Điều 182 LDN 2020).
Thực tế cho thấy, hầu hết các công ty luật hợp danh được thành lập đều vận dụng quy định của Luật Doanh nghiệp để thiết lập cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành công ty luật như các quy định về HĐTV, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc hoặc TGĐ, vốn góp, phân chia lợi nhuận, chế độ tài chính, thuế... Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Hội đồng thành viên là cơ quan quản lý cao nhất trong công ty luật hợp danh. Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên trong công ty có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch hội đồng thành viên, đồng thời kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác. Thành viên hợp danh có quyền yêu cầu triệu tập họp hội đồng thành viên để thảo luận và quyết định công việc kinh doanh của công ty. Thành viên yêu cầu triệu tập họp phải chuẩn bị nội dung, chương trình và tài liệu họp. Khi biểu quyết, mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác. Các quyết định quản lý, điều hành trong công ty luật hợp danh cần phải được sự thống nhất của đa số các thành viên hợp danh, các tỷ lệ cụ thể được quy định tại Điều 182 LDN 2020. Quy định tại Điều 182 LDN 2020 cũng tương đồng với việc phân chia quyền lực quản lý trong công ty hợp danh tại các quốc gia trên thế giới, có nhóm quyết định chỉ cần 1 thành viên hợp danh thông qua; có nhóm quyết định phải được 2/3 hoặc 3/4 số lượng thành viên hợp danh thông qua; và có những quyết định phải được toàn bộ số lượng thành viên hợp danh thông qua.
Như vậy, có thể thấy vai trò của người đứng đầu công ty luật hợp danh cũng có sự khác biệt so với vị trí, vai trò của người đứng đầu công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong công ty trách nhiệm hữu hạn, vai trò của chủ tịch, giám đốc/ tổng giám đốc hết sức quan trọng trong quá trình quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, trong công ty hợp danh lại không như vậy, điều này đã thể hiện thông qua quyền hạn và nghĩa vụ của các thành viên hợp danh, cũng như hội đồng thành viên trong công ty hợp danh.
Cụ thể, Giám đốc hoặc tổng giám đốc do hội đồng thành viên cử ra trong số các thành viên hợp danh (kiêm chủ tịch hội đồng thành viên nếu điều lệ công ty không có quy định khác), có trách nhiệm điều hành hoạt động của công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc có các nhiệm vụ sau: (i) Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh;
(ii) Triệu tập và tổ chức họp hội đồng thành viên; ký các quyết định hoặc nghị quyết của hội đồng thành viên; (iii) Phân công, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh; ký các quyết định về quy chế, nội dung và các công việc tổ chức nội bộ khác của công ty; (iv) Tổ chức sắp xếp, lưu trữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật; (v) Là người đại diện theo pháp luật của công ty, đại diện công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp; (vi) Các nhiệm vụ khác do điều lệ công ty quy định (Điều 137, Luật Doanh nghiệp).
Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số. Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận. Công ty có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng thành viên chỉ định thành viên được ủy quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó. Như vậy, trong công ty luật hợp danh, Hội đồng thành viên là cơ quan có quyền hành cao nhất, các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty.
Tuy nhiên, sự phân chia quyền lực trong tổ chức, điều hành công ty luật hợp danh xuất phát từ bản chất mang tính đối nhân của công ty. Quyền lực trong hệ thống công ty được xác lập trên cơ sở tư cách pháp lý của thành viên, tỷ lệ vốn góp hay tuân thủ sự thỏa thuận, thống nhất giữa các luật sư thành viên hợp danh. Trong công ty luật hợp danh, các luật sư thành viên hợp danh không chỉ tham gia với tư cách là thành viên hợp danh - chủ sở hữu công ty mà bản thân họ còn mang tư cách là các luật sư sẽ bình đẳng với nhau trong quá trình hành nghề luật sư. Các luật sư trong công ty luật có thể thống nhất phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty. Điều đó thể hiện tính liên kết và chia sẻ rủi ro trong công ty được xác lập và đảm bảo không phải duy nhất vào tỷ lệ vốn góp mà gắn kết trên cơ sở niềm tin, danh dự và phẩm giá của luật sư. Vì vậy, đây là yếu tố gắn kết mang tính bền vững trong công ty luật.
Đây là điểm khác biệt với việc phân chia quyền lực trong Văn phòng luật sư hay công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Đối với văn phòng luật sư thì Trưởng Văn phòng là người đại diện và là người chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Văn phòng luật sư. Trong công ty luật trách nhiệm hữu hạn cơ chế phân chia quyền lực có thể được xác lập theo một số tiêu chí: (i) Loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu hay nhiều chủ sở hữu; (ii) Tỷ lệ vốn góp của thành viên vào công ty.
Theo: Nguyễn Minh Đức
Link luận án: Tại đây