Nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, đạo đức hành nghề của luật sư và công ty luật hợp danh
3.2.3. Hoàn thiện các quy định nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, đạo đức hành nghề của luật sư và công ty luật hợp danh
Luật sư không chỉ mang trên mình trách nhiệm theo quy định của pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp, mà còn có trách nhiệm đạo đức đối với khách hàng và xã hội. Trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư được thể hiện bởi sự giới hạn những hành vi của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp, điều đó có nghĩa là luật sư phải tuân thủ các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động hành nghề luật sư. Trong trường hợp luật sư không tôn trọng các quy tắc hành nghề thì sẽ phải chịu trách nhiệm về hình phạt và bồi thường vì những vi phạm đó.
Trong quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư, luật sư phải bảo đảm cả trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm đạo đức thể hiện lương tâm nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp của luật sư, còn trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm luật sư phải chịu khi vi phạm các quy định của pháp luật về hành nghề luật sư. Để nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư, trước hết cần hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư một cách đầy đủ, đồng bộ và thống nhất. Tác giả đề xuất hoàn thiện, cần phân định rõ việc xử lý kỷ luật đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động hành nghề luật sư.
Theo quy định hiện nay, LLS 2012 đang có sự đồng nhất giữa chấm dứt tư cách hành nghề luật sư của cá nhân và chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, công ty luật hợp danh. Cụ thể:
Khoản 2 Điều 47 LLS 2012 quy định: “Trong trường hợp chấm dứt hoạt động theo quy định tại điểm b (bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động) và điểm c (bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư) khoản 1 Điều 47 Luật Luật sư, thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày thu hồi Giấy đăng ký hoạt động, chứng chỉ hành nghề luật sư, Sở Tư pháp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với Đoàn Luật sư, cơ quan thuế ở địa phương nơi đăng ký hoạt động và nơi có trụ sở của chi nhánh về việc thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Chứng chỉ hành nghề luật sư”.
Còn theo điểm c, khoản Điều 47 LLS 2012, tổ chức hành nghề luật sư chấm dứt hoạt động trong trường hợp Trưởng Văn phòng luật sư, Giám đốc Công ty luật trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên hoặc tất cả các thành viên của Công ty luật hợp danh, thành viên của Công ty luật TNHH hai thành viên trở lên bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư. Có nghĩa rằng, công ty luật hợp danh chấm dứt hoạt động kể từ ngày (những) luật sư thành lập tổ chức đó bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư; và Sở Tư pháp chỉ có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan có liên quan như đoàn luật sư, cơ quan thuế… về việc thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư của (những) luật sư này mà thôi. Không một điều khoản nào trong Luật Luật sư quy định Sở Tư pháp chịu trách nhiệm thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư bị chấm dứt hoạt động theo điểm c, khoản 1 Điều 47 LLS 2012. Từ đó, Sở Tư pháp trở nên đuối lý khi yêu cầu nộp lại Giấy đăng ký hoạt động hoặc tổ chức hành nghề luật sư có quyền từ chối nộp lại Giấy đăng ký hoạt động cho Sở này.
Trong hệ thống pháp luật hiện hành, tổ chức hành nghề luật sư chỉ được coi là đã chính thức chấm dứt hoạt động khi được cơ quan thuế đồng ý đóng mã số thuế, hoàn trả con dấu cho cơ quan công an và nộp lại Giấy đăng ký hoạt động cho Sở Tư pháp. Như vậy, việc thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư chỉ chấm dứt việc hành nghề của luật sư đó, không thể làm chấm dứt hoạt động của một tổ chức.
Ngay cả đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà luật sư đó bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư thì công ty với tư cách một pháp nhân độc lập vẫn đang tồn tại, và vẫn đang chịu các nghĩa vụ liên quan tới thuế, tài chính vì tổ chức này chưa thực hiện các thủ tục về chấm dứt hoạt động. Vì vậy, chiếu theo các quy định hiện hành của Luật Luật sư, sự chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, công ty luật hợp danh chỉ được xem là sự chấm dứt “trên lý thuyết” mà thôi.
Ngoài ra, khi bị chấm dứt hoạt động, tổ chức hành nghề luật sư phải thỏa thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với họ nhưng chưa thực hiện xong. Luật chỉ quy định phải thỏa thuận với khách hàng, còn việc các bên có thỏa thuận được với nhau hay không thì Luật không đề cập đến cũng như không quy định về trách nhiệm liên đới của (những) luật sư thành lập tổ chức đó sau khi chấm dứt hoạt động.
Do đó, tác giả đề xuất, cần phải thống nhất với LDN 2020, quy định thời gian đủ dài là 180 ngày để hoàn tất thủ tục hành chính về thuế, cũng như trách nhiệm liên đới của các thành viên tổ chức hành nghề luật sư, công ty luật hợp danh.
Theo: Nguyễn Minh Đức
Link luận án: Tại đây