Một số vấn đề lý luận về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng
Trong giai đoạn tiền hợp đồng, các bên tiến hành đàm phán với nhau để đi đến sự ưng thuận giao kết hợp đồng, mặc dù vậy, có rất nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến hợp đồng về sau. Để đạt được sự ưng thuận thì các bên phải cung cấp cho nhau các thông tin cần thiết liên quan đến nội dung, đối tượng của hợp đồng. Mặc dù pháp luật của một số quốc gia trên thế giới còn chưa hoàn thiện trong việc quy định về giai đoạn tiền hợp đồng nhưng đông đảo các học giả, luật sư vẫn đánh giá cao vai trò của giai đoạn này đối với toàn bộ quá trình giao kết hợp đồng, thậm chí là cả quá trình thực hiện hợp đồng. Một mặt, xuất phát từ tư tưởng “đầu xuôi đuôi lọt” của hợp đồng, nếu xem nhẹ giai đoạn đàm phán hợp đồng (tiền hợp đồng) sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cả quá trình thực hiện hợp đồng sau đó, bởi vì giai đoạn tiền hợp đồng chuẩn bị đầy đủ điều kiện cần và đủ cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng. Mặt khác, trong giai đoạn này thể hiện sự tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ về cung cấp thông tin và bảo mật thông tin một cách thiện chí và trung thực của các bên tham gia; do đó, hợp đồng thiếu đi thông tin chẳng khác nào vô tình đẩy các bên vào bẫy rủi ro và thiệt hại.
Vì vậy, nghiên cứu các phương diện lý luận về giai đoạn tiền hợp đồng và nghĩa vụ tiền hợp đồng; hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng không chỉ giúp làm rõ bản chất của nghĩa vụ tiền hợp đồng mà còn xác định rõ mối quan hệ của nghĩa vụ tiền hợp đồng đối với nghĩa vụ trong hợp đồng và hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ này. Qua đó, cung cấp khung lý thuyết để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề giai đoạn tiền hợp đồng, nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng.
1.1. Khái quát về giai đoạn tiền hợp đồng
Hợp đồng là loại giao dịch dân sự phổ biến mà quá trình hình thành trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, bao gồm: giai đoạn trước khi hợp đồng có hiệu lực; giai đoạn hợp đồng có hiệu lực; giai đoạn thực hiện hợp đồng và giai đoạn chấm dứt hợp đồng. Trong hợp đồng, các bên có sự thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự cho nhau. Để đạt được sự thống nhất ý chí giữa các bên trong hợp đồng, biểu hiện bằng việc ký kết hợp đồng, trên cơ sở đó làm phát sinh các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của họ thì giữa các bên phải trải qua giai đoạn chuẩn bị cho việc hình thành hợp đồng, giai đoạn này - khoa học pháp lý gọi là giai đoạn tiền hợp đồng. Đây là một công đoạn có tính chất tiền đề, xác định các yếu tố liên quan, cung cấp các điều kiện cần thiết (nhu cầu của các bên, thông tin,…) cho việc hình thành hợp đồng. Ở giai đoạn tiền hợp đồng, có thể tồn tại thỏa thuận sơ bộ của các bên – những người dự tính sẽ cùng nhau thiết lập hợp đồng trong tương lai. Thông thường, thoả thuận sơ bộ xuất hiện khi vì lý do này hay lý do khác mà các bên muốn tham gia vào một thỏa thuận tạm thời hoặc thỏa thuận ban đầu, sau này nếu một hợp đồng chính thức được thiết lập sẽ ghi lại đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đó của họ. Trong một số trường hợp, một thỏa thuận sơ bộ sẽ không nhằm tạo ra các mối quan hệ hợp đồng ràng buộc, mà chỉ nhằm mục đích như một tuyên bố để đảm bảo một cam kết đạo đức từ các đối tác kinh doanh hoặc nhà đầu tư tiềm năng. Trong một số trường hợp nhất định, thoả thuận sơ bộ cũng bao gồm điều khoản bảo mật (những thông tin không được tiết lộ cho bên thứ ba) để hỗ trợ cho quá trình đàm phán sau này ngay cả khi không có thỏa thuận ràng buộc hợp đồng nào được đưa vào. Mặc dù không có hợp đồng nào được dự định thiết lập, bản chất ràng buộc của điều khoản bảo mật là bắt buộc với các bên. Kết quả cuộc đàm phán có thể là chính các thỏa thuận của họ ở thời điểm ban đầu đó. Một thỏa thuận sơ bộ có thể mang lại cho các bên sự thoải mái và động lực để họ tiến tới việc giao kết hợp đồng trong tương lai. Như vậy, giai đoạn tiền hợp đồng hay thoả thuận sơ bộ là hết sức cần thiết cho các chủ thể có ý định tham gia vào hợp đồng chính thức. Nghiên cứu kỹ về vấn đề này có ý nghĩa trong việc nhận thức đầy đủ về nội dung, tính chất, đặc thù của giai đoạn tiền hợp đồng cũng như nghĩa vụ tiền hợp đồng.
1.1.1. Khái niệm về giai đoạn tiền hợp đồng
Bất kì hành vi nào của con người dù ở trạng thái đơn phương hay có sự liên quan tới nhiều chủ thể cũng cần được “lập kế hoạch” đầy đủ và chi tiết. Hợp đồng là sản phẩm của sự thống nhất ý chí các bên tham gia quan hệ dân sự là một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, hợp đồng làm hình thành mối quan hệ giữa các bên mà trong đó, quyền dân sự của bên này là nghĩa vụ tương ứng của bên kia và ngược lại.
Khi trở thành chủ thể (một bên) của hợp đồng họ có những lợi ích nhất định (quyền dân sự) nhưng chính họ cũng phải đảm nhận, gánh vác một số nghĩa vụ dân sự. Khi tham gia hợp đồng, đích đến cuối cùng của mọi chủ thể là đạt được một lợi ích nhất định do bên kia mang lại và vì vậy, họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định để mang lại lợi ích cho bên kia. Trong mối liên quan đó, về mong muốn chủ quan mỗi bên đều hướng tới những lợi ích cao nhất với những nghĩa vụ thấp nhất có thể.
Muốn bảo đảm được nhu cầu đó, mỗi chủ thể trước khi tiến tới hình thành hợp đồng, họ vừa chủ động tự do tìm kiếm đối tác là các cá nhân, pháp nhân phù hợp với nhu cầu; họ vừa tích cực tìm hiểu thông tin, cung cấp thông tin cho đối phương. Những vấn đề vừa đề cập (tìm kiếm đối tác, tìm hiểu thông tin, cung cấp thông tin cho đối tác) thuộc về giai đoạn tiền hợp đồng. Theo Rodrigo Novoa cho rằng: giai đoạn tiền hợp đồng là “giai đoạn ban đầu của việc đàm phán trong đó các bên xem xét khả năng giao kết hợp đồng, thương lượng những điều khoản nhất định và tạo những điều kiện cần thiết cho việc giao kết”19. Về vấn đề này, trong bài viết “Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng trong các thương vụ mua bán và sáp nhập tại Séc”, tác giả Ivan Karpják cũng đã đưa ra nhận xét: trách nhiệm tiền hợp đồng thường phát sinh như là kết quả của các hành vi được thực hiện bởi một bên trước khi giao kết hợp đồng.
Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Huy có lập luận: “Các nghĩa vụ tại thời điểm trước khi hợp đồng được giao kết hợp thành trách nhiệm tiền hợp đồng” trong bài viết “Trách nhiệm tiền hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và vấn đề pháp lý đặt ra”. Với những bình giải liên quan, tác giả Đỗ Văn Đại đã thể hiện quan điểm về giai đoạn tiền hợp đồng là giai đoạn các bên trao đổi thông tin trước khi hợp đồng được giao kết trong cuốn sách“Luật hợp đồng Việt Nam: bản án và bình luận bản án”. Trong luận án tiến sĩ “Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”, tác giả Lê Trường Sơn cũng đồng quan điểm khi tiếp cận: “giai đoạn tiền hợp đồng là giai đoạn bắt đầu từ việc một bên thể hiện ý muốn xác lập một hợp đồng đến khi hợp đồng được giao kết”. Nhóm tác giả Vũ Thị Ngọc Huyền và Trần Ngọc Phương Minh cũng bày tỏ:“Giai đoạn đàm phán hợp đồng hay giai đoạn tiền hợp đồng bắt đầu khi một bên thể hiện ý định muốn xác lập một hợp đồng đến khi hợp đồng được giao kết” trong bài viết “Trách nhiệm trung thực, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng dưới góc độ luật học so sánh Bộ luật dân sự 2015 và CISG”. Với bài viết “Trách nhiệm tiền hợp đồng và việc bảo vệ quyền của các bên trong tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng”, nhóm tác giả Võ Minh Trí và Trần Phú Quý có đưa ra nhận xét tương tự:“Vấn đề quy định trách nhiệm của các bên trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng, hay còn được gọi là trách nhiệm tiền hợp đồng”.
Nội dung khái niệm về giai đoạn tiền hợp đồng còn tiếp tục được nhóm tác giả Nguyễn Hải Yến và Nguyễn Ngọc Yến thể hiện: “Giai đoạn từ khi một bên chủ thể thể hiện mong muốn xác lập một hợp đồng bảo hiểm được giao kết, các bên chưa chịu sự ràng buộc của hợp đồng mà các bên muốn xác lập nhưng họ đã có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau” trong bài viết “Nghĩa vụ tiền hợp đồng của bên bảo hiểm trong Bộ nguyên tắc của Luật Hợp đồng bảo hiểm Châu Âu và một số đề xuất”. Cũng có cách hiểu và áp dụng trên thực tiễn cho rằng: Giai đoạn tiền hợp đồng chỉ diễn ra khi các bên chưa ký kết hợp đồng, gọi là “giai đoạn đàm phán”, khi đã ký kết hợp đồng thì phải xác định là hợp đồng, còn thời điểm có hiệu lực hợp đồng là do các bên thỏa thuận, phụ thuộc vào ý chí của các bên.
Theo: Đỗ Thị Hoa
Link luận án: Tại đây