0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c1f7b664e39-Một-số-kiến-nghị-hoàn-thiện-pháp-luật-về-nghĩa-vụ-tiền-hợp-đồng-và-hậu-quả-pháp-lý-do-vi-phạm-nghĩa-vụ-tiền-hợp-đồng.jpg.webp

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng

3.2.1.  Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng

BLDS 2015 đã quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng tại Điều 387 BLDS 2015 theo đó: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết. Bên vi phạm quy định này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Quy định này cho thấy một bên phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên kia trước khi các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, thông tin này bao gồm những thông tin gì thì BLDS năm 2015 không đề cập. Có thể thấy, việc quy định cụ thể loại thông tin nào là rất khó cho nhà làm luật vì với mỗi loại hợp đồng thì thông tin cần cung cấp có thể rất khác nhau. Chính vì vậy mà Điều 387 BLDS 2015 chỉ nêu lên vai trò của loại thông tin này đối với bên được cung cấp thông tin là các thông tin này ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của một bên. Thực tế cho thấy, việc quy định không cụ thể như vậy có thể dẫn tới tranh chấp giữa các bên. Nên chăng, để hạn chế những tranh chấp phát sinh, BLDS năm 2015 cần có hướng dẫn cụ thể hơn về nội hàm “thông tin ảnh hưởng”. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm xây dựng pháp luật của Pháp tại Điều 112- 1 đoạn 3 BLDS Pháp năm 2016, như sau: thông tin có tầm quan trọng mang tính quyết định là những thông tin có mối liên hệ trực tiếp và cần thiết tới nội dung hợp đồng hoặc với tư cách của các bên, Tòa án có trách nhiệm giải thích mối liên hệ trực tiếp và cần thiết này.

Như vậy, Điều luật có thể diễn giải cụ thể hơn theo hướng “thông tin ảnh hưởng là những thông tin có mối liên hệ trực tiếp và cần thiết tới nội dung hợp đồng hoặc với tư cách của các bên, Toà án hoặc Trọng tài có trách nhiệm giải thích mối liên hệ trực tiếp và cần thiết này dựa trên lẽ công bằng”. Quy định như vậy thể hiện việc học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật của Pháp nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, cụ thể đó là Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương Mại 2005 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng

Nghiên cứu các quy định chung và một số quy định chuyên ngành của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ bảo mật thông tin, thấy rằng những quy định này điều chỉnh trong giai đoạn tiền hợp đồng còn chưa nhiều, một số quy định còn chưa thực sự rõ ràng, thống nhất dẫn đến những khó khăn trong thực tiễn thực hiện. Nhận thấy, các quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng cần được hoàn thiện theo hướng sau:

Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng để đảm bảo sự thống nhất giữa quy định chung trong BLDS và các quy định chuyên ngành.

Để điều chỉnh nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng cần có các quy định đầy đủ, đồng bộ ở cả hai cấp độ là: cấp độ một là các quy định chung để áp dụng cho các quan hệ hợp đồng; cấp độ hai là các quy định riêng dành cho từng loại quan hệ hợp đồng cụ thể. Hiện nay, ở cấp độ một, BLDS 2015 đã có quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng được áp dụng chung cho quan hệ hợp đồng. Khoản 2 Điều 387 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác” và Khoản 3 Điều 387 cũng quy định rõ trách nhiệm của bên vi phạm: “Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Tuy nhiên, ở cấp độ hai, một số quy định chuyên ngành lại chưa tương thích với quy định chung này. Ngay trong phần riêng của BLDS 2015 điều chỉnh một số hợp đồng chuyên ngành và các văn bản quy phạm pháp luật khác mới đặt ra nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn thực hiện hợp đồng và sau khi chấm dứt hợp đồng mà chưa điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng. Docđó, cần có sự sửa đổi, bổ sung các quy định riêng để đảm bảo tính thống nhất với quy định chung. Cụ thể, trong các loại hợp đồng chuyên ngành, cần quy định nghĩa vụ bảo mật thông tin ở giai đoạn tiền hợp đồng, tránh việc các chủ thể hiểu rằng vì không có quy định nên không thực hiện bảo mật thông tin.

Thứ hai, cần xác định cụ thể hơn về giới hạn bảo mật thông tin, đặc biệt là trong các hợp đồng chuyên ngành.

Có thể nói, BLDS hiện hành chưa nhắc đến nghĩa vụ bảo mật thông tin trong các hợp đồng chuyên ngành. Hiện nay, BLDS chỉ quy định chung chung về nghĩa vụ bảo mật “thông tin bí mật” mà không đưa ra giới hạn nào khác cho loại nghĩa vụ này. Điều này cũng có thể coi là phù hợp với tư cách là một đạo luật chung nhưng nếu đã đề cập đến các nghĩa vụ khác thì cũng phải quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng và bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Trong giai đoạn đàm phán, các bên có thể cung cấp cho nhau rất nhiều các thông tin khác nhau và không phải thông tin nào cũng là thông tin bí mật. Xác định phạm vi thông tin phải bảo mật có ý nghĩa rất lớn, tạo ra sự minh bạch cho các bên. Vì vậy, nếu không quy định cụ thể về giới hạn thông tin cần bảo mật, thời gian bảo mật thông tin và những trường hợp ngoại lệ mà bên nhận được thông tin có thể được hoặc phải tiết lộ thông tin bí mật của bên kia sẽ tạo ra nhiều kẽ hở của pháp luật, pháp luật trở nên không khả thi và tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tiền hợp đồng trong dân sự sẽ trở nên phổ biến.

Theo: Đỗ Thị Hoa 

Link luận án:  Tại đây

 

avatar
Nguyễn Mai Phương
873 ngày trước
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng
3.2.1.  Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tiền hợp đồng và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng*  Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồngBLDS 2015 đã quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng tại Điều 387 BLDS 2015 theo đó: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết. Bên vi phạm quy định này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Quy định này cho thấy một bên phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên kia trước khi các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, thông tin này bao gồm những thông tin gì thì BLDS năm 2015 không đề cập. Có thể thấy, việc quy định cụ thể loại thông tin nào là rất khó cho nhà làm luật vì với mỗi loại hợp đồng thì thông tin cần cung cấp có thể rất khác nhau. Chính vì vậy mà Điều 387 BLDS 2015 chỉ nêu lên vai trò của loại thông tin này đối với bên được cung cấp thông tin là các thông tin này ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của một bên. Thực tế cho thấy, việc quy định không cụ thể như vậy có thể dẫn tới tranh chấp giữa các bên. Nên chăng, để hạn chế những tranh chấp phát sinh, BLDS năm 2015 cần có hướng dẫn cụ thể hơn về nội hàm “thông tin ảnh hưởng”. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm xây dựng pháp luật của Pháp tại Điều 112- 1 đoạn 3 BLDS Pháp năm 2016, như sau: thông tin có tầm quan trọng mang tính quyết định là những thông tin có mối liên hệ trực tiếp và cần thiết tới nội dung hợp đồng hoặc với tư cách của các bên, Tòa án có trách nhiệm giải thích mối liên hệ trực tiếp và cần thiết này.Như vậy, Điều luật có thể diễn giải cụ thể hơn theo hướng “thông tin ảnh hưởng là những thông tin có mối liên hệ trực tiếp và cần thiết tới nội dung hợp đồng hoặc với tư cách của các bên, Toà án hoặc Trọng tài có trách nhiệm giải thích mối liên hệ trực tiếp và cần thiết này dựa trên lẽ công bằng”. Quy định như vậy thể hiện việc học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật của Pháp nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, cụ thể đó là Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương Mại 2005 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp.*  Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồngNghiên cứu các quy định chung và một số quy định chuyên ngành của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ bảo mật thông tin, thấy rằng những quy định này điều chỉnh trong giai đoạn tiền hợp đồng còn chưa nhiều, một số quy định còn chưa thực sự rõ ràng, thống nhất dẫn đến những khó khăn trong thực tiễn thực hiện. Nhận thấy, các quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng cần được hoàn thiện theo hướng sau:Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng để đảm bảo sự thống nhất giữa quy định chung trong BLDS và các quy định chuyên ngành.Để điều chỉnh nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng cần có các quy định đầy đủ, đồng bộ ở cả hai cấp độ là: cấp độ một là các quy định chung để áp dụng cho các quan hệ hợp đồng; cấp độ hai là các quy định riêng dành cho từng loại quan hệ hợp đồng cụ thể. Hiện nay, ở cấp độ một, BLDS 2015 đã có quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng được áp dụng chung cho quan hệ hợp đồng. Khoản 2 Điều 387 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác” và Khoản 3 Điều 387 cũng quy định rõ trách nhiệm của bên vi phạm: “Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Tuy nhiên, ở cấp độ hai, một số quy định chuyên ngành lại chưa tương thích với quy định chung này. Ngay trong phần riêng của BLDS 2015 điều chỉnh một số hợp đồng chuyên ngành và các văn bản quy phạm pháp luật khác mới đặt ra nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn thực hiện hợp đồng và sau khi chấm dứt hợp đồng mà chưa điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng. Docđó, cần có sự sửa đổi, bổ sung các quy định riêng để đảm bảo tính thống nhất với quy định chung. Cụ thể, trong các loại hợp đồng chuyên ngành, cần quy định nghĩa vụ bảo mật thông tin ở giai đoạn tiền hợp đồng, tránh việc các chủ thể hiểu rằng vì không có quy định nên không thực hiện bảo mật thông tin.Thứ hai, cần xác định cụ thể hơn về giới hạn bảo mật thông tin, đặc biệt là trong các hợp đồng chuyên ngành.Có thể nói, BLDS hiện hành chưa nhắc đến nghĩa vụ bảo mật thông tin trong các hợp đồng chuyên ngành. Hiện nay, BLDS chỉ quy định chung chung về nghĩa vụ bảo mật “thông tin bí mật” mà không đưa ra giới hạn nào khác cho loại nghĩa vụ này. Điều này cũng có thể coi là phù hợp với tư cách là một đạo luật chung nhưng nếu đã đề cập đến các nghĩa vụ khác thì cũng phải quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng và bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Trong giai đoạn đàm phán, các bên có thể cung cấp cho nhau rất nhiều các thông tin khác nhau và không phải thông tin nào cũng là thông tin bí mật. Xác định phạm vi thông tin phải bảo mật có ý nghĩa rất lớn, tạo ra sự minh bạch cho các bên. Vì vậy, nếu không quy định cụ thể về giới hạn thông tin cần bảo mật, thời gian bảo mật thông tin và những trường hợp ngoại lệ mà bên nhận được thông tin có thể được hoặc phải tiết lộ thông tin bí mật của bên kia sẽ tạo ra nhiều kẽ hở của pháp luật, pháp luật trở nên không khả thi và tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tiền hợp đồng trong dân sự sẽ trở nên phổ biến.Theo: Đỗ Thị Hoa Link luận án:  Tại đây