0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c235786c92a-Nhóm-giải-pháp-nhằm-thúc-đẩy-ngành-du-lịch-Việt-Nam-phát-triển-tạo-đà-cho-thị-trường-bất-động-sản-du-lịch-cất-cánh.jpg.webp

Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển tạo đà cho thị trường bất động sản du lịch cất cánh

 

4.2. Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển tạo đà cho thị trường bất động sản du lịch cất cánh

Phát triển thị trường BĐS du lịch luôn gắn liền và bám sát với những mục tiêu, định hướng và chiến lược phát triển của ngành du lịch Việt Nam bởi điều không thể phủ nhận là: Du lịch có phát triển, lượng khách trong nước và quốc tế ngày càng lớn thì đồng nghĩa với đó là nhu cầu về BĐS phục vụ thiết yếu cho mục đích này cũng ngày càng cao. Theo đó, thị trường BĐS sẽ có nhiều cơ hội để phát triển đa dạng và lớn mạnh. Vì vậy, bên cạnh các đề xuất về giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động kinh doanh BĐS du lịch, đối với thị trường BĐS du lịch thì các giải pháp để thúc đẩy để Việt Nam trở thành cường quốc du lịch của thế giới, đóng góp lớn về kinh tế, nâng cao hình ảnh quốc gia, hội nhập quốc tế cũng có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy thị trường BĐS du lịch phát triển.

Theo Báo cáo cạnh tranh du lịch và lữ hành ấn bản 2019 thì Việt Nam đứng thứ 63/140 quốc gia. Mục tiêu chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam đến năm 2030 là Việt Nam sẽ đứng thứ 50 khi đáp ứng đủ 14 tiêu chí của Tổ chức du lịch thế giới (WTO). Cụ thể: (1) Độ mở với quốc tế (chỉ số miễn visa); (2) Chính sách ưu tiên cho du lịch, lữ hành; (3) Sự sẵn sàng cho CNTT-TT; (4) Nguồn nhân lực và thị trường lao động; (5) Sức khoẻ và vệ sinh; (6) An toàn và an ninh; (7) Môi trường kinh doanh; (8) Cạnh tranh về giá cả; (9) Môi trường bền vững; (10) Hạ tầng hàng không; (11) Hạ tầng mặt đất và cảng; (12) Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; (13) Tài nguyên thiên nhiên và (14) Tài nguyên văn hoá.

Với các tiêu chí nêu trên, NCS nhận thấy, giải pháp trọng tâm để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới là:

Thứ nhất, tiếp tục đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng, trong đó có hạ tầng kỹ thuật như làm mới, mở rộng sân bay, cảng tầu du lịch, đường cao tốc, mạnh dạn đẩy nhanh dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, hạ tầng công nghệ thông tin và hạ tầng xã hội như các khu phi thuế quan (duty free zone), trường học, bệnh viện quốc tế... Có chính sách hấp dẫn thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước, trong đó chú trọng vốn tư nhân cho các công trình hạ tầng này.

Thứ hai, cần ban hành quy định về việc miễn visa đơn phương cho khách quốc tế từ tất cả các nước trên thế giới. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không có nước nào đón trên 20 triệu du khách quốc tế/năm mà lại không miễn visa cho hầu hết các nước. Du khách càng đến nhiều sẽ tạo cầu cho du lịch, BĐS du lịch xuất khẩu tại chỗ. Hiện tại, Việt Nam đang miễn visa cho người mang hộ chiếu phổ thông với 25 nước, trong khi bình quân của top 10 quốc gia có du khách quốc tế nhiều nhất miễn visa cho 53 nước; bình quân cho nhóm 10 nước tiếp theo (từ 11-18) là 88 nước, riêng trong ASEAN là 79 nước.

Thứ ba, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch trên cơ sở kết hợp hài hòa với tiềm năng và thế mạnh của mỗi vùng, miền, chú trọng tới các sản phẩm có sự tích hợp của nhiều tiện ích, tạo thêm các điểm đến du lịch hấp dẫn, quan tâm chú trọng tới chất lượng dịch vụ, vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Thứ tư, cần sớm triển khai mạnh mẽ Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, theo đó cần đa dạng hoá nguồn đóng góp cho Quỹ, trong đó có xã hội hoá. Nên dành 1-2% doanh thu từ du lịch để phát triển nguồn nhân lực; chú trọng đào tạo miễn phí tiếng Anh cho người dân tại các trung tâm du lịch quốc gia, các địa bàn nổi tiếng về du lịch; Dành 1-2% doanh thu từ du lịch cho truyền thông Việt Nam ra thế giới thông qua các kênh mạng xã hội (Google, Facebook, WhatsApp, Youtube, TikTok, Wechat, Twitter…), các kênh truyền thông lớn như CNN, BBC, Discovery, NHK…), hợp tác với Hollywood làm các bộ phim điện ảnh về Việt Nam hoặc lấy bối cảnh Việt Nam, hợp tác với các KOL… để quảng bá văn hoá, lịch sử, thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam.

Thứ năm, chú trọng tới giải pháp trước mắt để “lấy ngắn nuôi dài” cần đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa. Dư địa khách nội địa của Việt Nam còn rất lớn. Tỷ lệ khách nội địa trên dân số của Việt Nam mới chỉ đạt 0.88 ( 88% của dân số năm 2019). Trong khi trung bình của top 10 thế giới là hơn 9 lần. Top 20 là hơn 6 lần và ASEAN là 2,5 lần163. Do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2021 chỉ đạt 157.300.000 lượt. Hiện tại Việt Nam chưa chính thức công bố mở cửa cho khách quốc tế nên kế hoạch đón khách quốc tế trong năm 2022 coi như không đáng kể (thực tế, các đại lý lữ hành (Travel Agency - TA) và đại lý lữ hành trực tuyến (Online Travel Agency – OTA) thường lập kế hoạch trước 6 tháng). Vì thế, cần coi trọng du lịch nội địa để ban hành các chính sách và triển khai hành động phù hợp, sớm tăng trở lại con số 80 triệu khách nội địa ở thời điểm 2019, tạo đà cho các năm tiếp theo và thúc đẩy du lịch đại chúng trong nước (public domestic tourism).

Thứ sáu, nhà nước sớm xem xét lại việc thành lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (đặc khu) tại Vân Đồn của Quảng Ninh, Vân Phong của Khánh Hoà và Phú Quốc của Kiên Giang trên cơ sở Điều 110 Hiến pháp 2013 để tạo thêm các đầu tầu kinh tế mới, thử nghiệm thể chế mở (open) và tự do (free) trong đó đặc biệt chú trọng đến các chính sách ưu tiên cho du lịch nói chung và BĐS du lịch nói riêng.

Hoàn thiện pháp luật kinh doanh BĐS du lịch là nhu cầu tất yếu và cần được triển khai càng sớm càng tốt. Việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh BĐS du lịch phải đáp ứng một số yêu cầu như phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và những yêu cầu đặt ra từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phù hợp với tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành; có tham khảo pháp luật kinh doanh BĐS của các nước trên thế giới và được thực hiện theo một lộ trình phù hợp.

Các giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh doanh BĐS du lịch được đề xuất một cách toàn diện trong các lĩnh vực pháp luật liên quan như pháp luật về đất đai, đầu tư, xây dựng, kinh doanh BĐS, tài chính, môi trường và những vấn đề phát sinh mới trên thị trường BĐS mà bản thân pháp luật hiện hành chưa đề cập tới. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BĐS du lịch còn hướng tới việc giải quyết những tồn đọng đã phát sinh từ các giai đoạn trước song hiện tại chưa có cơ chế pháp lý để giải quyết thỏa đáng.

Ngoài ra, để pháp luật kinh doanh BĐS du lịch thật sự phát huy hiệu quả, cần thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật từ cả góc độ thể chế, con người, các định chế và các hoạt động liên quan.

Theo: Đoàn Văn Bình

Link luận án:  Tại đây

avatar
Nguyễn Mai Phương
872 ngày trước
Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển tạo đà cho thị trường bất động sản du lịch cất cánh
 4.2. Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển tạo đà cho thị trường bất động sản du lịch cất cánhPhát triển thị trường BĐS du lịch luôn gắn liền và bám sát với những mục tiêu, định hướng và chiến lược phát triển của ngành du lịch Việt Nam bởi điều không thể phủ nhận là: Du lịch có phát triển, lượng khách trong nước và quốc tế ngày càng lớn thì đồng nghĩa với đó là nhu cầu về BĐS phục vụ thiết yếu cho mục đích này cũng ngày càng cao. Theo đó, thị trường BĐS sẽ có nhiều cơ hội để phát triển đa dạng và lớn mạnh. Vì vậy, bên cạnh các đề xuất về giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động kinh doanh BĐS du lịch, đối với thị trường BĐS du lịch thì các giải pháp để thúc đẩy để Việt Nam trở thành cường quốc du lịch của thế giới, đóng góp lớn về kinh tế, nâng cao hình ảnh quốc gia, hội nhập quốc tế cũng có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy thị trường BĐS du lịch phát triển.Theo Báo cáo cạnh tranh du lịch và lữ hành ấn bản 2019 thì Việt Nam đứng thứ 63/140 quốc gia. Mục tiêu chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam đến năm 2030 là Việt Nam sẽ đứng thứ 50 khi đáp ứng đủ 14 tiêu chí của Tổ chức du lịch thế giới (WTO). Cụ thể: (1) Độ mở với quốc tế (chỉ số miễn visa); (2) Chính sách ưu tiên cho du lịch, lữ hành; (3) Sự sẵn sàng cho CNTT-TT; (4) Nguồn nhân lực và thị trường lao động; (5) Sức khoẻ và vệ sinh; (6) An toàn và an ninh; (7) Môi trường kinh doanh; (8) Cạnh tranh về giá cả; (9) Môi trường bền vững; (10) Hạ tầng hàng không; (11) Hạ tầng mặt đất và cảng; (12) Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; (13) Tài nguyên thiên nhiên và (14) Tài nguyên văn hoá.Với các tiêu chí nêu trên, NCS nhận thấy, giải pháp trọng tâm để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới là:Thứ nhất, tiếp tục đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng, trong đó có hạ tầng kỹ thuật như làm mới, mở rộng sân bay, cảng tầu du lịch, đường cao tốc, mạnh dạn đẩy nhanh dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, hạ tầng công nghệ thông tin và hạ tầng xã hội như các khu phi thuế quan (duty free zone), trường học, bệnh viện quốc tế... Có chính sách hấp dẫn thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước, trong đó chú trọng vốn tư nhân cho các công trình hạ tầng này.Thứ hai, cần ban hành quy định về việc miễn visa đơn phương cho khách quốc tế từ tất cả các nước trên thế giới. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không có nước nào đón trên 20 triệu du khách quốc tế/năm mà lại không miễn visa cho hầu hết các nước. Du khách càng đến nhiều sẽ tạo cầu cho du lịch, BĐS du lịch xuất khẩu tại chỗ. Hiện tại, Việt Nam đang miễn visa cho người mang hộ chiếu phổ thông với 25 nước, trong khi bình quân của top 10 quốc gia có du khách quốc tế nhiều nhất miễn visa cho 53 nước; bình quân cho nhóm 10 nước tiếp theo (từ 11-18) là 88 nước, riêng trong ASEAN là 79 nước.Thứ ba, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch trên cơ sở kết hợp hài hòa với tiềm năng và thế mạnh của mỗi vùng, miền, chú trọng tới các sản phẩm có sự tích hợp của nhiều tiện ích, tạo thêm các điểm đến du lịch hấp dẫn, quan tâm chú trọng tới chất lượng dịch vụ, vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng.Thứ tư, cần sớm triển khai mạnh mẽ Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, theo đó cần đa dạng hoá nguồn đóng góp cho Quỹ, trong đó có xã hội hoá. Nên dành 1-2% doanh thu từ du lịch để phát triển nguồn nhân lực; chú trọng đào tạo miễn phí tiếng Anh cho người dân tại các trung tâm du lịch quốc gia, các địa bàn nổi tiếng về du lịch; Dành 1-2% doanh thu từ du lịch cho truyền thông Việt Nam ra thế giới thông qua các kênh mạng xã hội (Google, Facebook, WhatsApp, Youtube, TikTok, Wechat, Twitter…), các kênh truyền thông lớn như CNN, BBC, Discovery, NHK…), hợp tác với Hollywood làm các bộ phim điện ảnh về Việt Nam hoặc lấy bối cảnh Việt Nam, hợp tác với các KOL… để quảng bá văn hoá, lịch sử, thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam.Thứ năm, chú trọng tới giải pháp trước mắt để “lấy ngắn nuôi dài” cần đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa. Dư địa khách nội địa của Việt Nam còn rất lớn. Tỷ lệ khách nội địa trên dân số của Việt Nam mới chỉ đạt 0.88 ( 88% của dân số năm 2019). Trong khi trung bình của top 10 thế giới là hơn 9 lần. Top 20 là hơn 6 lần và ASEAN là 2,5 lần163. Do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2021 chỉ đạt 157.300.000 lượt. Hiện tại Việt Nam chưa chính thức công bố mở cửa cho khách quốc tế nên kế hoạch đón khách quốc tế trong năm 2022 coi như không đáng kể (thực tế, các đại lý lữ hành (Travel Agency - TA) và đại lý lữ hành trực tuyến (Online Travel Agency – OTA) thường lập kế hoạch trước 6 tháng). Vì thế, cần coi trọng du lịch nội địa để ban hành các chính sách và triển khai hành động phù hợp, sớm tăng trở lại con số 80 triệu khách nội địa ở thời điểm 2019, tạo đà cho các năm tiếp theo và thúc đẩy du lịch đại chúng trong nước (public domestic tourism).Thứ sáu, nhà nước sớm xem xét lại việc thành lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (đặc khu) tại Vân Đồn của Quảng Ninh, Vân Phong của Khánh Hoà và Phú Quốc của Kiên Giang trên cơ sở Điều 110 Hiến pháp 2013 để tạo thêm các đầu tầu kinh tế mới, thử nghiệm thể chế mở (open) và tự do (free) trong đó đặc biệt chú trọng đến các chính sách ưu tiên cho du lịch nói chung và BĐS du lịch nói riêng.Hoàn thiện pháp luật kinh doanh BĐS du lịch là nhu cầu tất yếu và cần được triển khai càng sớm càng tốt. Việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh BĐS du lịch phải đáp ứng một số yêu cầu như phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và những yêu cầu đặt ra từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phù hợp với tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành; có tham khảo pháp luật kinh doanh BĐS của các nước trên thế giới và được thực hiện theo một lộ trình phù hợp.Các giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh doanh BĐS du lịch được đề xuất một cách toàn diện trong các lĩnh vực pháp luật liên quan như pháp luật về đất đai, đầu tư, xây dựng, kinh doanh BĐS, tài chính, môi trường và những vấn đề phát sinh mới trên thị trường BĐS mà bản thân pháp luật hiện hành chưa đề cập tới. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BĐS du lịch còn hướng tới việc giải quyết những tồn đọng đã phát sinh từ các giai đoạn trước song hiện tại chưa có cơ chế pháp lý để giải quyết thỏa đáng.Ngoài ra, để pháp luật kinh doanh BĐS du lịch thật sự phát huy hiệu quả, cần thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật từ cả góc độ thể chế, con người, các định chế và các hoạt động liên quan.Theo: Đoàn Văn BìnhLink luận án:  Tại đây