Nội dung cơ bản về xác định giá trị doanh nghiệp
1.1.2. Nội dung cơ bản về xác định giá trị doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm về xác định giá trị doanh nghiệp
Quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đặt ra nhu cầu về việc xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cho những trường hợp khác nhau, từ việc quản trị, điều hành doanh nghiệp cho tới thực hiện các giao dịch như sáp nhập, hợp nhất hay chuyển đổi hình thức sở hữu. Trên thế giới, hoạt động xác định giá trị tài sản nói chung xuất hiện từ khá sớm. Nghiên cứu lịch sử về hoạt động này cho thấy, các nguyên tắc và kỹ thuật xác định giá trị tài sản đã được thiết lập vào trước những năm 40 của thế kỷ 20 và hoạt động xác định giá trị tài sản với tư cách là một hoạt động dịch vụ chuyên nghiệp phát triển ngay sau mốc thời gian này . Cùng với sự phát triển của hoạt động xác định giá trị tài sản, các thuật ngữ để chỉ hoạt động này cũng xuất hiện và được sử dụng rộng rãi, ví dụ như thuật ngữ “Appraisal” xuất hiện vào năm 1529 và thuật ngữ “Valuation” xuất hiện vào năm 1817, đồng thời được sử dụng phổ biến đến ngày nay. Hai thuật ngữ này được tạm dịch là “định giá”, “thẩm định giá” hoặc “xác định giá trị”, và đều được hiểu là ý kiến bằng văn bản thể hiện sự ước tính của một chủ thể về giá trị của một tài sản, biểu hiện bằng tiền, tại một ngày tháng nhất định và tại một địa điểm nhất định.
Về khái niệm, hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về xác định giá trị, xác định giá trị doanh nghiệp. Theo Từ điển Black’s Law, định giá “là sự ước tính giá trị của một vật, một tài sản”; “là các hoạt động để xác định giá trị của một tài sản”98. Ở Singapore, theo nghiên cứu của giáo sư Lim Lan Yuan - Trường Xây dựng và Bất động sản, Đại học Quốc gia Singapore, định giá được quan niệm là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của tài sản và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn. Có sự kế thừa và phát triển, tác giả Nguyễn Minh Hoàng cho rằng, xác định giá trị doanh nghiệp là sự ước tính với độ tin cậy cao nhất về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho hoạt động giao dịch thông thường của thị trường.
Điểm chung trong những định nghĩa này là coi xác định giá trị, xác định giá trị doanh nghiệp là một hoạt động mang tính ước lượng, tính nghệ thuật, nghĩa là có sự tính toán một cách phỏng đoán, áng chừng và phần nào thể hiện ý chí chủ quan của người thực hiện hoạt động xác định giá trị. Rõ ràng, những định nghĩa trên chưa cho thấy được hoạt động xác định giá trị nhằm mục đích tính toán ra được một con số cụ thể về tài sản và để đưa ra được con số đó chủ thể thực hiện cần tuân thủ theo đúng các bước định sẵn, cũng như sử dụng các phương pháp phù hợp có tính khoa học và đủ độ tin cậy. Mặc dù trong quá trình xác định giá trị tài sản, có những trường hợp cần dựa vào trình độ và ý chí chủ quan của chủ thể trực tiếp xác định giá trị, tuy nhiên, ngay cả những trường hợp này cũng không loại bỏ việc chủ thể thực hiện phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn thẩm định giá và đảm bảo tính khoa học, xác thực, có căn cứ của kết quả xác định giá trị.
Cũng cần nói thêm, trong các hoạt động tài chính có một số thuật ngữ sử dụng cụm từ “ước tính”, chẳng hạn ước tính kế toán sử dụng trong báo cáo tài chính, hay doanh thu ước tính..., nhưng những thuật ngữ này đều chỉ những số liệu được tính toán mang yếu tố dự báo, có tính tạm thời, bởi sẽ có những số liệu chính xác hơn tại thời điểm trong tương lai khi các dữ kiện để tính toán đã xảy ra. Nếu soi với bản chất này, không có sự đồng nhất với hoạt động xác định giá trị, bởi, hoạt động xác định giá trị cần đưa ra kết quả mang sự tin cậy và trong nhiều trường hợp, kết quả này chi phối tới mục đích của các chủ thể cần xác định giá trị. Chẳng hạn, kết quả của hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định tới quá trình doanh nghiệp tiến hành sáp nhập, hợp nhất hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu.
Không bàn tới sự ước tính là dấu hiệu nhận diện của hoạt động xác định giá trị, xác định giá trị doanh nghiệp, một số nhà khoa học khác tiếp cận khái niệm này dựa trên sự khái quát hoá mang tính quy trình để xác định giá trị. Chẳng hạn, tác giả Trần Văn Dũng cho rằng, công tác định giá doanh nghiệp về thực chất là các trình tự, cách thức và phương pháp định giá được áp dụng để tiến hành định giá doanh nghiệp. Tác giả James Chen (2020) định nghĩa, xác định giá trị là quá trình phân tích xác định giá trị hiện tại (hoặc dự kiến) của một tài sản hoặc một doanh nghiệp, với nhiều cách thức khác nhau để xác định giá trị. Tuy nhiên, tiếp cận khái niệm về xác định giá trị, xác định giá trị doanh nghiệp theo những quan điểm trên dường như chưa cho thấy được dấu hiệu, bản chất của hoạt động này.
Ở Việt Nam, giá là một trong những lĩnh vực có sự điều chỉnh của pháp luật và có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Hiện nay, Nhà nước quản lý lĩnh vực giá theo hai hình thức: Một là, Nhà nước can thiệp trực tiếp vào lĩnh vực giá như: Nhà nước tham gia trực tiếp định giá và quyết định mức giá của hàng hoá, dịch vụ; Nhà nước quy định mức giá giới hạn: khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu; sử dụng các công cụ trợ giá; thực hiện hiệp thương giá; quy định về niêm yết giá… Hai là, Nhà nước không trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành giá mà tác động một cách gián tiếp thông qua các chính sách của Nhà nước, dựa theo yếu tố cung - cầu về hàng hoá, dịch vụ cần xác định giá. Điều này đồng nghĩa với việc, pháp luật Việt Nam quy định về cả hoạt động “định giá” và “thẩm định giá”, đồng thời hai hoạt động này có sự khác nhau nhất định, không được hiểu tương đồng như quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới.
Theo đó, định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hoá, dịch vụ106. Ngoại trừ những hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá như hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh; tài nguyên quan trọng; hàng dự trữ quốc gia, các tổ chức, cá nhân sẽ tự định giá hàng hoá, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh. Còn thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá107. Như vậy, đối với tài sản doanh nghiệp, việc xác định giá trị doanh nghiệp có thể được thực hiện bởi chính cá nhân, tổ chức sở hữu doanh nghiệp với cơ chế định giá; hoặc được thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp với cơ chế thẩm định giá. Trong các hướng dẫn cụ thể, pháp luật Việt Nam xác định giá trị doanh nghiệp thông qua hoạt động thẩm định giá, thể hiện trong Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 12 - Thẩm định giá doanh nghiệp.
Từ những phân tích trên, nghiên cứu sinh rút ra khái niệm về hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp như sau: “Xác định giá trị doanh nghiệp là việc sử dụng các phương pháp phù hợp dựa trên các căn cứ nhất định nhằm tính toán giá trị những tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của doanh nghiệp”. Hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp cần được nhận diện thông qua một số dấu hiệu sau:
Thứ nhất, về bản chất, xác định giá trị doanh nghiệp là việc tính toán giá trị các tài sản cụ thể của doanh nghiệp, biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, phục vụ cho một mục đích đã được xác định rõ ràng như: chuyển đổi hình thức sở hữu, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp hoặc để mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp…, gắn liền với không gian, thời gian nhất định. Nội dung này đặt ra yêu cầu cần phải nhận diện được đầy đủ các loại tài sản của doanh nghiệp làm cơ sở phản ánh chính xác nhất giá trị doanh nghiệp.
Thứ hai, chủ thể tham gia xác định giá trị doanh nghiệp có sự đa dạng phụ thuộc vào mục đích và nhu cầu của việc xác định giá trị doanh nghiệp. Các chủ thể tham gia xác định giá trị doanh nghiệp có thể là các bên trong quan hệ mua bán, sáp nhập hoặc các chủ thể thực hiện giải thể, phá sản doanh nghiệp… Bên cạnh đó, các bên có thể mời các chuyên gia thẩm định giá thực hiện công việc này. Trong số những chủ thể này, có những trường hợp xác định giá trị doanh nghiệp có sự xuất hiện của Nhà nước, thông qua các cơ quan đại diện cho mình, điển hình là trường hợp xác định giá trị doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ cho mục tiêu cổ phần hoá, hay xác định giá trị doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước.
Thứ ba, về cách thức thực hiện, xác định giá trị doanh nghiệp là một hoạt động phức tạp, trong đó cần cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của doanh nghiệp cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố tác động đến doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp. Trong quá trình xác định giá trị, có rất nhiều phương pháp khác nhau và có thể có kết quả về giá trị doanh nghiệp khác nhau, thậm chí các kết quả có thể khác xa nhau. Do đó, quá trình và kết quả của hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp đôi khi chỉ mang tính tương đối.
Thứ tư, về mục đích, xác định giá trị doanh nghiệp để đưa ra được kết quả giá trị với một số giả thuyết tương đối và hợp lý để làm giá khởi điểm cho các thương vụ mua bán, sáp nhập hoặc giải quyết các vấn đề khi giải thể, phá sản doanh nghiệp.
Khi này, trình độ, ý chí của người tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến quá trình xác định và kết quả giá trị doanh nghiệp. Chính vì vậy, để có một giá trị doanh nghiệp mang tính khách quan làm cơ sở đàm phán, doanh nghiệp nên giao cho các chuyên gia thẩm định giá làm công việc này. Tuy nhiên, giá do chủ thể độc lập tiến hành xác định và đưa ra cũng chỉ mang tính chất tham khảo cho các bên tham gia giao dịch, không phải giá bắt buộc để đưa tới quyết định cuối cùng.
Thứ năm, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp đa dạng và phức tạp. Mỗi một doanh nghiệp là một chủ thể riêng biệt, có một đặc điểm và cấu trúc khác nhau. Hơn nữa, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, mỗi khu vực, cũng như tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ của đội ngũ chuyên viên thẩm định giá mà người ta có thể chọn và sử dụng các phương pháp định giá khác nhau sao cho phù hợp. Mỗi phương pháp được xây dựng dựa trên các cơ sở, căn cứ và phục vụ cho các đối tượng và mục đích khác nhau. Ở Việt Nam, có hai phương pháp hay được sử dụng phổ biến đó là phương pháp tài sản và phương pháp chiết khấu dòng tiền.
Theo: Nguyễn Ngọc Yến
Link luận án: Tại đây