Lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
1.2. Lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
Pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu tổ chức tín dụng được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện xác định giá trị tổ chức tín dụng, làm tiền đề cho việc tiến hành các hoạt động tái cơ cấu loại hình doanh nghiệp này diễn ra nhanh chóng, thành công và đảm bảo quyền lợi của các chủ thể có liên quan. Như trên đã trình bày, hoạt động tái cơ cấu TCTD có thể thực hiện dưới những hình thức khác nhau, từ tái cơ cấu “tự thân”, tự nguyện của các TCTD cho tới tái cơ cấu bắt buộc, có sự chỉ định của Nhà nước. Trong trường hợp tái cơ cấu tự thân, việc xác định giá trị doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng quyết định thành công hay thất bại của hoạt động tái cơ cấu này. Còn trong trường hợp tái cơ cấu bắt buộc, việc xác định giá trị doanh nghiệp đôi khi sẽ mang tính hình thức. Tuy nhiên, trong lộ trình phát triển của các quốc gia, quy luật thị trường sẽ dần thay thế cho những mệnh lệnh mang tính hành chính, bởi vậy, nội dung xác định giá trị doanh nghiệp vẫn cần thiết được ghi nhận đầy đủ trong các quy định của pháp luật. Thêm vào đó, việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các TCTD là nhu cầu cần thiết, xuất phát từ một số lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò của TCTD, đặc biệt là NHTM trong đời sống kinh tế - xã hội. Là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và ẩn chứa rủi ro cao trong đối tượng kinh doanh cũng như hoạt động kinh doanh, thậm chí rủi ro mang tính phản ứng dây chuyền mạnh, có thể ảnh hưởng tới “sức khoẻ” nền kinh tế của quốc gia, quyền tự do kinh doanh của TCTD ít nhiều bị hạn chế hơn so với các doanh nghiệp thông thường. Hay nói cách khác, bất cứ nội dung nào liên quan đến TCTD, từ tổ chức đến hoạt động đều được ghi nhận cụ thể, rõ ràng trong các quy định pháp luật. Mục đích của việc này để đảm bảo TCTD thực hiện tốt và hiệu quả vai trò của mình trong sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm đương tốt được vai trò huyết mạnh của nền kinh tế. Chính những điều này cũng dẫn tới việc khi một TCTD hoạt động bất ổn, có những rủi ro phát sinh và bắt đầu ngoài tầm kiểm soát của chính những người quản trị, điều hành TCTD đó, hoặc đi lệch theo yêu cầu của Nhà nước, các cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước phải có sự can thiệp, hỗ trợ và giúp sức cho những TCTD này.
Thực tiễn cho thấy, nếu không có hành lang pháp lý đầy đủ, một hoạt động sẽ phát sinh tự phát và có thể dẫn tới những hậu quả khó lường. Điều này càng được thấy rõ trong lĩnh vực ngân hàng, nơi chỉ cần một hành vi cố tình sai phạm hoặc làm những điều pháp luật chưa quy định để trục lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần là những con số rất lớn. Bởi vậy, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối với các TCTD, từ tổ chức đến hoạt động, từ lúc chưa ra đời TCTD cho đến lúc TCTD đi vào hoạt động, thậm chí cho đến lúc TCTD hoạt động không hiệu quả và chấm dứt sự tồn tại, là điều hết sức cần thiết. Hoàn thiện các quy định của pháp luật mang tính điều chỉnh các mối quan hệ đang diễn ra, hoàn thiện các quy định của pháp luật để mang tính định hướng các mối quan hệ sẽ diễn ra và hoàn thiện các quy định của pháp luật với sự cưỡng chế, răn đe để pháp luật được thực thi, bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan… là yêu cầu đặt ra cho bất cứ lĩnh vực nào. Lĩnh vực tài chính - ngân hàng cũng không ngoại lệ.
Thứ hai, xuất phát từ ý nghĩa, vai trò của hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp. Xác định giá trị doanh nghiệp là một nội dung không mới trong cả thực tiễn thực hiện lẫn các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tuỳ theo quan điểm của mỗi quốc gia khác nhau mà pháp luật điều chỉnh về nội dung này sẽ có những điểm khác biệt. Chẳng hạn, với những quốc gia đề cao sự vận hành của cơ chế thị trường, việc xác định giá trị doanh nghiệp tất yếu được dựa trên quy luật cung - cầu. Khi nào bên mua và bên bán “gặp” được nhau trong những thoả thuận về giá của mình, sẽ hình thành nên mức giá cho việc mua - bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp. Hoặc khi nào doanh nghiệp nhận diện đúng giá trị của mình, các hoạt động liên quan như chào bán chứng khoán, thu hút đầu tư sẽ có kết quả thành công. Việc xác định giá trị không đúng đồng nghĩa với hệ quả để lại doanh nghiệp sẽ tự chấp nhận và rút ra bài học kinh nghiệm cho những lần sau. Trong trường hợp này, pháp luật chỉ mang tính quy định khung, trong đó có thể đưa ra sự lựa chọn cho các chủ thể trong mỗi quá trình thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, để làm được điều này hiệu quả, đặt ra việc cơ chế thị trường và quyền tự do của các chủ thể trong nền kinh tế quốc gia đó phải ở mức tối ưu, ngay cả trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Còn đối với những quốc gia mà đặc tính của nền kinh tế theo cơ chế thị trường chưa được thể hiện một cách đầy đủ, có thể do chịu ảnh hưởng tàn dư của chế độ kinh tế giai đoạn trước, pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp của quốc gia đó phải thể hiện sự đầy đủ, thậm chí chi tiết và có tính định hướng. Đơn cử như những quốc gia cần thực hiện tái cơ cấu các doanh nghiệp Nhà nước, dần dần rút vốn Nhà nước từ những doanh nghiệp này, việc xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá là nội dung hết sức quan trọng. Bởi lẽ, việc xác định không đúng, không đủ giá trị doanh nghiệp sẽ dẫn đến nguy cơ mất vốn của Nhà nước. Hoặc đối với những quốc gia đang phát triển, bản thân các TCTD của quốc gia vẫn còn non trẻ, nền kinh tế nhạy cảm, khó lòng để các TCTD tự chấm dứt sự tồn tại một cách dễ dàng, lúc này pháp luật của quốc gia đó cần quy định đầy đủ và định hướng cho hoạt động của các TCTD theo cơ chế an toàn và có thể kiểm soát được. Cùng với đó, pháp luật của các quốc gia này phải lường trước được tính đặc trưng của các TCTD để quy định được những nội dung đặc thù trong xác định giá trị doanh nghiệp của TCTD, thay vì áp dụng quy định chung chung giống như những loại hình doanh nghiệp khác.
Theo: Nguyễn Ngọc Yến
Link luận án: Tại đây