Thực trạng pháp luật quy định về chủ thể tham gia xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
2.1. Thực trạng pháp luật quy định về chủ thể tham gia xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
Hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các TCTD có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, mỗi chủ thể đều đóng những vai trò nhất định với những trách nhiệm, quyền hạn riêng, cụ thể:
2.1.1. Chủ thể tự thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
Đây là những chủ thể trực tiếp tham gia vào mối quan hệ tái cơ cấu TCTD, đồng thời tự mình thực hiện các bước để tính toán, xác định giá trị doanh nghiệp. Dựa theo tính chất nguồn vốn của TCTD được tái cơ cấu, chủ thể tự mình thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp có thể được chia thành 02 nhóm:
Thứ nhất, các TCTD do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tự xác định giá trị doanh nghiệp khi tái cơ cấu bằng cách cổ phần hoá. Do yếu tố nguồn vốn của Nhà nước trong loại hình TCTD này, dẫn đến quy trình thực hiện, nhiệm vụ, quyền hạn của TCTD này khi xác định giá trị doanh nghiệp phải được thực hiện theo các quy định của pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo đó, khi TCTD do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nhận được quyết định cổ phần hoá của cơ quan có thẩm quyền, TCTD phải thực hiện tổ chức kiểm kê, phân loại tài sản, nguồn vốn và xử lý các vấn đề về tài chính tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 140/2020/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành. Quá trình xử lý tài chính và xác định giá trị TCTD cổ phần hoá phải đảm bảo chặt chẽ, công khai, minh bạch, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước. Về mặt trách nhiệm, TCTD cổ phần hoá phải chịu trách nhiệm bồi hoàn toàn bộ giá trị tài sản, công nợ nếu vì nguyên nhân chủ quan dẫn đến kê khai thiếu hoặc bỏ sót các tài sản, công nợ dẫn đến giảm giá trị doanh nghiệp và vốn nhà nước tại TCTD cổ phần hoá. Trường hợp cố tình kê khai thiếu hoặc cố tình bỏ sót còn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật .
Bên cạnh việc tổ chức kiểm kê, phân loại tài sản, nguồn vốn và xử lý các vấn đề tài chính, Nghị định 126/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/11/2017 về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần quy định, doanh nghiệp cổ phần hoá được thuê tổ chức tư vấn để xác định giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, Nghị định không có quy định cụ thể về việc doanh nghiệp nào cần hoặc không cần thuê tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp như trước đây. Quy định này có thể hiểu rằng TCTD do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ khi cổ phần hoá có thể hoặc không cần thuê tổ chức tư vấn nếu thấy không cần thiết. Vấn đề đặt ra là, trong tất cả quy định của Nghị định 126/2017/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 140/2020/NĐ-CP khi nói tới quá trình cổ phần hoá đều có gắn liền với kết quả xác định giá trị doanh nghiệp của tổ chức tư vấn. Chẳng hạn như kết quả xác định giá trị doanh nghiệp do tổ chức định giá tư vấn là cơ sở để cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định công bố giá trị doanh nghiệp. Hoặc toàn bộ quy định về hoạt động tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp đều cho thấy đây là hoạt động thực hiện bởi tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp. Như vậy, trong trường hợp TCTD tự mình tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp thì cách thức, quy trình thực hiện như thế nào và kết quả tự xác định giá trị doanh nghiệp của TCTD có giá trị như kết quả tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp của các tổ chức tư vấn hay không, những điều này pháp luật chưa quy định rõ.
Thứ hai, các TCTD không do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tự mình tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp khi tái cơ cấu bằng các hình thức khác như chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, tái cơ cấu hoạt động... Đối với trường hợp này, việc xác định giá trị doanh nghiệp được chính các TCTD được tái cơ cấu thực hiện, thể hiện rõ ý chí, nguyện vọng giữa các chủ thể này trong hoạt động tái cơ cấu cụ thể. Về cơ bản, hoạt động tự xác định giá trị doanh nghiệp của những chủ thể này sẽ dựa trên các quy định của pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp như về quy trình xác định, phương pháp xác định, gắn liền với trình tự, thủ tục của hình thức tái cơ cấu tương ứng. Những nội dung này được thể hiện rõ nét trong các quy định của pháp luật giá, đặc biệt là các Tiêu chuẩn thẩm định giá. Kết quả giá trị doanh nghiệp được tính toán trong trường hợp này đôi khi chỉ là một giá trị tượng trưng, ước lượng, không mang tính chính xác cao. Bởi lẽ, khi tái cơ cấu tự nguyện dưới hình thức tổ chức lại TCTD, giá trị doanh nghiệp trong trường hợp này thiên về mức giá “thuận mua - vừa bán”, được các bên trong giao dịch tái cơ cấu chấp thuận. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, việc xác định giá trị doanh nghiệp vẫn phải tuân theo những nguyên tắc nhất định để có thể đảm bảo được quyền lợi của các chủ thể có liên quan đến các hoạt động tái cơ cấu này.
Dưới góc độ thực tiễn, bản thân các TCTD tham gia vào quá trình tái cơ cấu chưa thật sự quan tâm tới giá trị doanh nghiệp, cách thức để nâng cao giá trị doanh nghiệp của mình, đặc biệt đối với các tài sản vô hình như thương hiệu. Điều này thể hiện ở chỗ hiện nay hầu hết các TCTD Việt Nam chưa có sự quan tâm đúng mức tới việc xây dựng cho mình một mô hình xác định giá trị tài sản thương hiệu phù hợp, hoặc nếu có, các TCTD cũng chủ yếu xây dựng mô hình xác định giá trị thương hiệu dựa trên nghiên cứu thị trường, phục vụ cho việc quản trị thương hiệu. Đối với việc xây dựng mô hình xác định giá trị thương hiệu dựa trên các số liệu tài chính phục vụ cho các hoạt động tái cơ cấu như mua lại, sáp nhập, hợp nhất... gần như chưa được các TCTD chú trọng. Điều này có thể thấy thông qua các thương vụ mua lại, sáp nhập, hợp nhất các TCTD những giai đoạn qua. Thực trạng này có thể dễ lý giải do quá trình tái cơ cấu các TCTD hai giai đoạn trước đều mang tính định hướng, thậm chí có sự bắt buộc từ phía Nhà nước. Tuy nhiên, ở giai đoạn tương lai, khi tái cơ cấu là một nhu cầu tự thân của chính các TCTD, được thực hiện trên cơ sở tự nguyện để tìm tới phương án tồn tại tối ưu và hiệu quả trong hệ thống các TCTD, một trong những yêu cầu bức thiết đối với các TCTD là cần xây dựng mô hình xác định giá trị thương hiệu nói riêng, xác định giá trị tài sản vô hình nói chung với các số liệu tài chính một cách đầy đủ.
2.1.2. Chủ thể có chức năng thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp
Trên thực tế, xác định giá trị doanh nghiệp là hoạt động phức tạp, đòi hỏi cao về sự chuyên sâu trong kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để có thể xác định được tương đối chính xác về giá trị doanh nghiệp cần thực hiện tái cơ cấu. Do đó, với sự tham gia của những chủ thể chuyên nghiệp trong việc xác định giá trị doanh nghiệp sẽ giúp cho các TCTD có những số liệu tham khảo và sử dụng được trong quá trình tái cơ cấu của mình. Dựa theo quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, có thể thấy các chủ thể có chức năng xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam. Tổ chức kiểm toán không chỉ tham gia với tư cách là chủ thể tiến hành kiểm toán bắt buộc đối với báo cáo tài chính hàng năm của TCTD, mà trong trường hợp TCTD tiến hành tái cơ cấu cần xác định giá trị doanh nghiệp, hoàn toàn có thể sử dụng dịch vụ thẩm định giá tài sản do các tổ chức kiểm toán đủ điều kiện cung cấp.
Theo: Nguyễn Ngọc Yến
Link luận án: Tại đây