Đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu tổ chức tín dụng
3.2. Đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu tổ chức tín dụng
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về tài sản của tổ chức tín dụng cần xác định giá trị khi tiến hành tái cơ cấu
Thứ nhất, thống nhất giữa các quy định của pháp luật về thương hiệu, giá trị thương hiệu.
Theo thông lệ quốc tế, thương hiệu được xếp vào nhóm tài sản vô hình. Trong Tiêu chuẩn về Định giá Thương hiệu được công nhận trên toàn thế giới - ISO 10668:2010, Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế quan niệm thương hiệu là một tài sản vô hình liên quan đến quảng bá sản phẩm, bao gồm, nhưng không giới hạn, tên, cụm thuật ngữ, ký hiệu, logo và thiết kế, hoặc sự kết hợp của các hình thức này, với mục đích để nhận dạng một sản phẩm, dịch vụ hoặc doanh nghiệp, hoặc sự kết hợp cả các hình thức này, mang đến hình ảnh hoặc sự gắn kết riêng biệt trong tâm trí các bên liên quan, từ đó tạo ra lợi ích/giá trị kinh tế. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cho rằng, tài sản thương hiệu chiếm một phần đáng kể trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Tài sản thương hiệu nếu được duy trì và khai thác một cách hiệu quả sẽ giúp cho các TCTD có thể nâng cao năng lực cạnh tranh với nhau và hơn nữa là với cả các TCTD nước ngoài có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng mạnh mẽ, từ đó góp phần đảm bảo sự tồn tại và thúc đẩy sự phát triển trong tương lai của các TCTD Việt Nam.
Như vậy, để đảm bảo sự tương thích với thông lệ quốc tế, đồng thời có sự thống nhất trong các quy định của pháp luật Việt Nam, cần thiết xác định rõ thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp và vận dụng các phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình để xác định giá trị thương hiệu. Đề xuất này đồng nghĩa với việc cần phải sửa đổi một số quy định hiện hành, bao gồm:
Một là, sửa đổi quy định về giá trị thương hiệu tại Điều 31 Nghị định 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 140/2020/NĐ-CP. Theo đó, để đảm bảo sự thống nhất với quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn thẩm định giá doanh nghiệp, các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tên thương mại không thể được sử dụng làm căn cứ xác định giá trị thương hiệu. Cách xác định giá trị thương hiệu của các TCTD Nhà nước khi cổ phần hoá hiện nay được dựa trên cách tiếp cận từ chi phí, và việc tiếp cận này cũng nhằm ghi nhận khoản mục giá trị thương hiệu trong danh mục kế toán tài sản của TCTD. Tuy nhiên, cách xác định như vậy sẽ khó sát với giá trị thương hiệu mà thị trường ghi nhận, thậm chí là thấp hơn nhiều so với mức giá mà các bên mua - bán chấp nhận. Trong khi bản thân các TCTD Nhà nước có rất nhiều thế mạnh hợp thành, khiến thương hiệu được định giá rất cao. Bởi vậy, cần thiết phải thay đổi cả cách tiếp cận giá trị thương hiệu của các TCTD do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ khi cổ phần hoá. (Đề xuất cụ thể của nghiên cứu sinh cho cách tiếp cận này được thể hiện trong nội dung hoàn thiện pháp luật về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD.)
Hai là, sửa đổi Tiêu chuẩn thẩm định giá 13 - Thẩm định giá tài sản vô hình theo hướng mở rộng phạm vi tài sản vô hình để ghi nhận thương hiệu là tài sản vô hình. Việc sửa đổi này sẽ đảm bảo sự tương thích với các Tiêu chuẩn thẩm định giá khác, phù hợp với thông lệ quốc tế và quan trọng hơn là mở ra các cách tiếp cận khác nhau, từ đó có các phương pháp khác nhau để xác định giá trị thương hiệu.
Thứ hai, các doanh nghiệp nói chung, TCTD nói riêng cần xem xét xây dựng mô hình xác định giá trị thương hiệu theo các định hướng khác nhau. Thực tế cho thấy, hầu hết các TCTD hiện nay đã bắt đầu quan tâm tới việc xây dựng và quản trị thương hiệu, chú trọng xây dựng mô hình xác định giá trị thương hiệu dựa trên các nghiên cứu thị trường phục vụ cho mục tiêu quản trị doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh. Tuy nhiên, đối với việc xây dựng mô hình xác định giá trị thương hiệu dựa trên các số liệu tài chính phục vụ cho các hoạt động tái cơ cấu như mua lại, sáp nhập, hợp nhất... gần như chưa được các TCTD chú trọng.
Cũng cần phân tích thêm về lý do cho việc các TCTD từ trước đến nay chưa tiến hành xác định giá trị thương hiệu dựa trên các số liệu tài chính. Một phần lý do xuất phát từ hoạt động tái cơ cấu TCTD không phải diễn ra một cách thường xuyên, chưa kể tới các trường hợp tái cơ cấu TCTD, đặc biệt là NHTM trong lịch sử đều dựa trên phần nhiều là sự định hướng từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Do đó, khi tái cơ cấu chưa phải là những kế hoạch chủ động từ phía TCTD, thì việc cố gắng tìm kiếm một cách thức tính toán tối ưu cho giá trị thương hiệu cũng không phải điều cấp bách. Tuy nhiên, khi hoạt động tái cơ cấu diễn ra ngày một sôi động do những vai trò của hoạt động này, đặt ra sự cần thiết trong việc thay đổi cách tính toán giá trị các tài sản của TCTD. Bên cạnh đó, dưới khía cạnh kế toán, thương hiệu không phải khoản mục được ghi nhận giá trị trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 “Tài sản cố định vô hình” ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính không coi thương hiệu là một tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp. Lợi thế thương mại của doanh nghiệp là chỉ tiêu gắn liền với thương hiệu, nhưng Chuẩn mực kế toán quy định: “Lợi thế thương mại được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận là tài sản vì nó không phải là nguồn lực có thể xác định, không đánh giá được một cách đáng tin cậy và doanh nghiệp không kiểm soát được”. Lý do của quy định này xuất phát từ việc các chuẩn mực kế toán được thiết kế theo nguyên tắc ghi nhận giá trị tài sản từ chi phí phát sinh tạo ra nó, trong khi việc ghi nhận giá trị thương hiệu chỉ có thể thực hiện nếu các chuẩn mực kế toán cho phép ghi nhận giá trị tài sản từ lợi ích sẽ thu được của tài sản đó trong tương lai.
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 38 - Tài sản vô hình (IAS 38) cũng có sự trùng khớp trong việc xác định những tài sản trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp như Chuẩn mực kế toán Việt Nam. Theo đó, tài sản vô hình là một nguồn lực mà đơn vị kiểm soát được từ những sự kiện trong quá khứ (nguồn gốc, chi phí tạo ra), xác định được không có hình thái vật chất. Tuy nhiên, Chuẩn mực kế toán quốc tế còn bổ sung thêm yêu cầu về sự hiện hữu của lợi ích kinh tế trong tương lai để làm căn cứ kế toán giá trị tài sản vô hình. Trong trường hợp những tài sản không đáp ứng được tiêu chí trở thành tài sản vô hình, thì chi phí để mua hoặc tự tạo ra tài sản đó được ghi nhận như một khoản chi phí phát sinh của doanh nghiệp. Khi những tài sản này phát sinh trong quá trình hợp nhất, sáp nhập, thì những tài sản này tạo thành một phần của lợi thế thương mại ghi nhận tại ngày mua bán. Như vậy, có thể hiểu, thương hiệu hình thành từ nội bộ doanh nghiệp không được ghi vào bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Nhưng khi doanh nghiệp mua bán, sáp nhập, hợp nhất, thì những yếu tố này được coi là tài sản vô hình khi được chuyển thành lợi thế thương mại trên bảng cân đối kế toán của công ty thu mua.
Theo: Nguyễn Ngọc Yến
Link luận án: Tại đây