0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64f52218cf7ec-thur--44-.png

Quy Định Về Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Yêu Cầu Của Bị Hại: 09 Trường Hợp Cụ Thể

1. Quy định về khởi tố vụ án hình sự

1.1. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là quá trình pháp lý quan trọng, quyết định việc một vụ án được đưa ra xử lý trước toà. Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định rằng chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định rõ ràng có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên các căn cứ sau:

Tố giác của cá nhân: Khi một người chứng kiến hoặc biết thông tin về một tội phạm, họ có thể tố giác tới cơ quan có thẩm quyền.

Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Nếu một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân biết thông tin về tội phạm, họ có trách nhiệm báo cáo điều này.

Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Các thông tin được công bố trên các phương tiện truyền thông có thể dùng làm căn cứ để khởi tố.

Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể đề xuất việc khởi tố.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm: Trong quá trình điều tra, cơ quan tố tụng có thể phát hiện thêm dấu hiệu tội phạm.

Người phạm tội tự thú: Nếu người phạm tội đến tự thú, điều này cũng là căn cứ để khởi tố.

1.2. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Thẩm quyền khởi tố được thực hiện bởi Viện kiểm sát, cơ quan điều tra và cơ quan tố tụng khác, tuân theo các quy định của pháp luật.Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được quy định cụ thể trong Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đảm bảo rằng mỗi vụ án được xử lý bởi cơ quan phù hợp và có thẩm quyền. Dưới đây là chi tiết về các cơ quan có thẩm quyền khởi tố:

Cơ quan điều tra: Cơ quan này quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc đang được cơ quan khác thụ lý, giải quyết.

Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Theo Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan này quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp cụ thể. Bao gồm các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân.

Viện kiểm sát: Có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp sau:

  • Hủy bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra;
  • Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
  • Trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

Hội đồng xét xử: Ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

Sự rõ ràng trong việc xác định thẩm quyền khởi tố giúp đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả trong việc xử lý tội phạm, góp phần bảo vệ trật tự và an toàn xã hội.

2. Quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015  quy định chi tiết về việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, đảm bảo quyền lợi và sự bảo vệ đối với người bị hại trong các trường hợp cụ thể:

Khởi tố theo yêu cầu của bị hại: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự liên quan đến các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, và 156 Bộ luật Hình sự 2015 khi có yêu cầu từ phía bị hại hoặc người đại diện của bị hại (trong trường hợp bị hại dưới 18 tuổi, có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết).

Rút yêu cầu khởi tố: Nếu người đã yêu cầu khởi tố rút lại yêu cầu của mình, vụ án sẽ được đình chỉ. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định việc rút yêu cầu được thực hiện trái ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn sẽ tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Không được yêu cầu lại: Trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, họ không có quyền yêu cầu lại, trừ khi việc rút yêu cầu được thực hiện do bị ép buộc, cưỡng bức.

Quy định này tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho việc xử lý các vụ án hình sự dựa trên yêu cầu của bị hại, đồng thời bảo vệ quyền lợi của bị hại trong quá trình tố tụng, đặc biệt trong các trường hợp nhạy cảm.

3. Những trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Dưới đây là 09 trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại: 

3.1. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  • Có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  • Có tính chất côn đồ;
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

3.2. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự 2015, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó; hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

3.3. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

Theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự 2015, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Phần trên đây đã mô tả chi tiết về các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe, bao gồm cả tình huống trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc bắt giữ tội phạm.

3.4. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi vào năm 2017) đã quy định rằng:

Nếu ai vô ý gây ra thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe của người khác, với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, người đó sẽ bị áp dụng các biện pháp phạt như: phạt cảnh cáo, phạt tiền trong khoảng từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ trong thời hạn lên đến 01 năm.

3.5. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.

Quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi vào năm 2017) như sau:

Người phạm tội nếu vô ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, sẽ bị kết án phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

3.6. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội hiếp dâm.

Quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi vào năm 2017):

Người phạm tội nếu sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không tự vệ được của nạn nhân, hoặc sử dụng các thủ đoạn khác để thực hiện giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác mà trái với ý muốn của nạn nhân, sẽ bị kết án tù từ 02 năm đến 07 năm.

3.7. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại liên quan đến tội cưỡng dâm.

Quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Người phạm tội nếu sử dụng bất kỳ thủ đoạn nào để buộc người phụ thuộc hoặc người đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác mà họ không đồng tình, sẽ bị kết án tù từ 01 năm đến 05 năm.

3.8. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội làm nhục người khác.

Quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

Người phạm tội nếu xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, sẽ bị kết án phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

3.9. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội vu khống.

 Quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

Người phạm tội nếu thực hiện một trong các hành vi: bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, sẽ bị kết án phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Kết Luận

Việc quy định chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong 09 trường hợp nêu trên giúp đảm bảo rằng quyền lợi của cá nhân được bảo vệ, trong khi vẫn đảm bảo được công lý và minh bạch trong hệ thống pháp luật. Điều này cũng thể hiện sự cẩn trọng trong việc khởi tố các tội phạm có tính chất riêng tư và nhạy cảm.

Nguyễn Thị Ngọc Lan
253 ngày trước
Quy Định Về Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Yêu Cầu Của Bị Hại: 09 Trường Hợp Cụ Thể
1. Quy định về khởi tố vụ án hình sự1.1. Căn cứ khởi tố vụ án hình sựKhởi tố vụ án hình sự là quá trình pháp lý quan trọng, quyết định việc một vụ án được đưa ra xử lý trước toà. Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định rằng chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định rõ ràng có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên các căn cứ sau:Tố giác của cá nhân: Khi một người chứng kiến hoặc biết thông tin về một tội phạm, họ có thể tố giác tới cơ quan có thẩm quyền.Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Nếu một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân biết thông tin về tội phạm, họ có trách nhiệm báo cáo điều này.Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Các thông tin được công bố trên các phương tiện truyền thông có thể dùng làm căn cứ để khởi tố.Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể đề xuất việc khởi tố.Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm: Trong quá trình điều tra, cơ quan tố tụng có thể phát hiện thêm dấu hiệu tội phạm.Người phạm tội tự thú: Nếu người phạm tội đến tự thú, điều này cũng là căn cứ để khởi tố.1.2. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sựThẩm quyền khởi tố được thực hiện bởi Viện kiểm sát, cơ quan điều tra và cơ quan tố tụng khác, tuân theo các quy định của pháp luật.Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được quy định cụ thể trong Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đảm bảo rằng mỗi vụ án được xử lý bởi cơ quan phù hợp và có thẩm quyền. Dưới đây là chi tiết về các cơ quan có thẩm quyền khởi tố:Cơ quan điều tra: Cơ quan này quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc đang được cơ quan khác thụ lý, giải quyết.Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Theo Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan này quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp cụ thể. Bao gồm các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân.Viện kiểm sát: Có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp sau:Hủy bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra;Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;Trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.Hội đồng xét xử: Ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.Sự rõ ràng trong việc xác định thẩm quyền khởi tố giúp đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả trong việc xử lý tội phạm, góp phần bảo vệ trật tự và an toàn xã hội.2. Quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hạiĐiều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015  quy định chi tiết về việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, đảm bảo quyền lợi và sự bảo vệ đối với người bị hại trong các trường hợp cụ thể:Khởi tố theo yêu cầu của bị hại: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự liên quan đến các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, và 156 Bộ luật Hình sự 2015 khi có yêu cầu từ phía bị hại hoặc người đại diện của bị hại (trong trường hợp bị hại dưới 18 tuổi, có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết).Rút yêu cầu khởi tố: Nếu người đã yêu cầu khởi tố rút lại yêu cầu của mình, vụ án sẽ được đình chỉ. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định việc rút yêu cầu được thực hiện trái ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn sẽ tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.Không được yêu cầu lại: Trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, họ không có quyền yêu cầu lại, trừ khi việc rút yêu cầu được thực hiện do bị ép buộc, cưỡng bức.Quy định này tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho việc xử lý các vụ án hình sự dựa trên yêu cầu của bị hại, đồng thời bảo vệ quyền lợi của bị hại trong quá trình tố tụng, đặc biệt trong các trường hợp nhạy cảm.3. Những trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hạiDưới đây là 09 trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại: 3.1. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácTheo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;Có tổ chức;Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;Có tính chất côn đồ;Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.3.2. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnhTheo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự 2015, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó; hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.3.3. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.Theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự 2015, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.Phần trên đây đã mô tả chi tiết về các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe, bao gồm cả tình huống trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc bắt giữ tội phạm.3.4. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácKhoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi vào năm 2017) đã quy định rằng:Nếu ai vô ý gây ra thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe của người khác, với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, người đó sẽ bị áp dụng các biện pháp phạt như: phạt cảnh cáo, phạt tiền trong khoảng từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ trong thời hạn lên đến 01 năm.3.5. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.Quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi vào năm 2017) như sau:Người phạm tội nếu vô ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, sẽ bị kết án phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.3.6. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội hiếp dâm.Quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi vào năm 2017):Người phạm tội nếu sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không tự vệ được của nạn nhân, hoặc sử dụng các thủ đoạn khác để thực hiện giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác mà trái với ý muốn của nạn nhân, sẽ bị kết án tù từ 02 năm đến 07 năm.3.7. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại liên quan đến tội cưỡng dâm.Quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015:Người phạm tội nếu sử dụng bất kỳ thủ đoạn nào để buộc người phụ thuộc hoặc người đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác mà họ không đồng tình, sẽ bị kết án tù từ 01 năm đến 05 năm.3.8. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội làm nhục người khác.Quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:Người phạm tội nếu xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, sẽ bị kết án phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.3.9. Trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại về tội vu khống. Quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:Người phạm tội nếu thực hiện một trong các hành vi: bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, sẽ bị kết án phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.Kết LuậnViệc quy định chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong 09 trường hợp nêu trên giúp đảm bảo rằng quyền lợi của cá nhân được bảo vệ, trong khi vẫn đảm bảo được công lý và minh bạch trong hệ thống pháp luật. Điều này cũng thể hiện sự cẩn trọng trong việc khởi tố các tội phạm có tính chất riêng tư và nhạy cảm.