0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64cc6202ad0ad-Có-thể-xác-định-vàng-được-cho-trong-ngày-cưới-là-tài-sản-chung-của-vợ-chồng-được-không.png.webp

Có thể xác định vàng được cho trong ngày cưới là tài sản chung của vợ chồng được không?

Có thể xác định vàng được cho trong ngày cưới là tài sản chung của vợ chồng được không?

Tôi đang phân vân vấn đề sau và mong nhận được sự giúp đỡ từ anh chị: Trong ngày cưới của chúng tôi vào 25/11/2015, cha mẹ cả hai bên đã tặng cho vợ tôi một số tiền và vàng. Vợ tôi hiện nay vẫn đang lưu giữ những món vàng cưới này trong két sắt. Vậy tôi muốn hỏi, đây có phải là tài sản chung của chúng tôi hay chỉ là tài sản riêng của vợ tôi?

Tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tài sản riêng của vợ chồng

Tài sản riêng của vợ, chồng căn cứ theo quy định Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bao gồm:

- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Có thể xác định vàng được cho trong ngày cưới là tài sản chung của vợ chồng được không?

Dựa vào các điều luật liên quan, có thể thấy rằng, khi cha mẹ hai bên tặng vàng, tiền cho vợ anh trong ngày cưới và trước khi thực hiện việc đăng ký kết hôn tại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì tình trạng hôn nhân giữa hai anh chị chưa chính thức được công nhận. Vì vậy, tại thời điểm đó, không có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý giữa hai anh chị như là vợ chồng, và những tài sản nhận được sẽ được xem là của riêng mỗi cá nhân.

Do đó, số tiền và vàng mà cha mẹ hai bên đã tặng cho vợ anh trong ngày cưới trở thành tài sản riêng của vợ anh. Tuy nhiên, để xác định rằng tài sản này thực sự là của riêng vợ anh, không phải của cả hai vợ chồng, vợ anh cần phải có bằng chứng rõ ràng, chứng minh rằng tài sản này là do cha mẹ tặng riêng cho mình.

Thêm nữa, vấn đề liên quan đến việc được tặng vàng, tiền sau khi đã chính thức đăng ký kết hôn. Nếu có thể chứng minh rằng tài sản này là của riêng vợ anh, được cha mẹ hai bên tặng đặc biệt trong thời kỳ hôn nhân, thì nó sẽ thuộc sở hữu cá nhân của vợ anh. Tuy nhiên, nếu không chứng minh được điều này, tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung của cả hai vợ chồng, theo quy định tại Khoản 3, Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều quan trọng khác cần lưu ý là anh và vợ anh cần phải xác định rõ ràng vàng, tiền được tặng dưới hình thức nào, có phải là trang sức cá nhân hay không, vì căn cứ vào Điều 43 của Luật hôn nhân và gia đình, tiền và vàng được cha mẹ tặng cho vợ anh, dù tồn tại dưới dạng gì và có được chế tác thành đồ trang sức hay chưa, đều sẽ được xem là tài sản chung của cả hai vợ chồng.

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
259 ngày trước
Có thể xác định vàng được cho trong ngày cưới là tài sản chung của vợ chồng được không?
Có thể xác định vàng được cho trong ngày cưới là tài sản chung của vợ chồng được không?Tôi đang phân vân vấn đề sau và mong nhận được sự giúp đỡ từ anh chị: Trong ngày cưới của chúng tôi vào 25/11/2015, cha mẹ cả hai bên đã tặng cho vợ tôi một số tiền và vàng. Vợ tôi hiện nay vẫn đang lưu giữ những món vàng cưới này trong két sắt. Vậy tôi muốn hỏi, đây có phải là tài sản chung của chúng tôi hay chỉ là tài sản riêng của vợ tôi?Tài sản chung của vợ chồngTài sản chung của vợ chồng căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.Tài sản riêng của vợ chồngTài sản riêng của vợ, chồng căn cứ theo quy định Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bao gồm:- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.Có thể xác định vàng được cho trong ngày cưới là tài sản chung của vợ chồng được không?Dựa vào các điều luật liên quan, có thể thấy rằng, khi cha mẹ hai bên tặng vàng, tiền cho vợ anh trong ngày cưới và trước khi thực hiện việc đăng ký kết hôn tại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì tình trạng hôn nhân giữa hai anh chị chưa chính thức được công nhận. Vì vậy, tại thời điểm đó, không có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý giữa hai anh chị như là vợ chồng, và những tài sản nhận được sẽ được xem là của riêng mỗi cá nhân.Do đó, số tiền và vàng mà cha mẹ hai bên đã tặng cho vợ anh trong ngày cưới trở thành tài sản riêng của vợ anh. Tuy nhiên, để xác định rằng tài sản này thực sự là của riêng vợ anh, không phải của cả hai vợ chồng, vợ anh cần phải có bằng chứng rõ ràng, chứng minh rằng tài sản này là do cha mẹ tặng riêng cho mình.Thêm nữa, vấn đề liên quan đến việc được tặng vàng, tiền sau khi đã chính thức đăng ký kết hôn. Nếu có thể chứng minh rằng tài sản này là của riêng vợ anh, được cha mẹ hai bên tặng đặc biệt trong thời kỳ hôn nhân, thì nó sẽ thuộc sở hữu cá nhân của vợ anh. Tuy nhiên, nếu không chứng minh được điều này, tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung của cả hai vợ chồng, theo quy định tại Khoản 3, Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.Điều quan trọng khác cần lưu ý là anh và vợ anh cần phải xác định rõ ràng vàng, tiền được tặng dưới hình thức nào, có phải là trang sức cá nhân hay không, vì căn cứ vào Điều 43 của Luật hôn nhân và gia đình, tiền và vàng được cha mẹ tặng cho vợ anh, dù tồn tại dưới dạng gì và có được chế tác thành đồ trang sức hay chưa, đều sẽ được xem là tài sản chung của cả hai vợ chồng.