0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64ccdfb32c44b-Có-được-tự-mình-bán-tài-sản-khi-vợ-bị-tòa-án-tuyên-bố-mất-năng-lực-hành-vi-dân-sự.png.webp

Có được tự mình bán tài sản khi vợ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Có được tự mình bán tài sản khi vợ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Tôi và vợ đã mua một mảnh đất bằng tiền tiết kiệm của chúng tôi, và đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả hai. Cuối năm trước, vợ tôi bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Hiện tại, tôi vẫn khỏe mạnh, có nhận thức rõ ràng, công việc ổn định, không vi phạm pháp luật và rất yêu thương vợ tôi. Tuy nhiên, kinh tế gia đình hiện gặp khó khăn, vì vậy tôi muốn biết liệu có thể bán mảnh đất này không? Rất mong nhận được phản hồi.

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là gì? Mất năng lực hành vi dân sự được quy định như thế nào?

Tại Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định: năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 về khái niệm mất năng lực hành vi được cụ thể như sau:

- Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Người mất năng lực hành vi dân sự sẽ được giám hộ theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể như sau:

- Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).

- Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu.

- Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.

Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện như thế nào?

Theo khoản 2 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự chính là người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

- Cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ.

- Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

- Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.

Căn cứ vào quy định tại Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015 về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ cụ thể như sau:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

- Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

- Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

Căn cứ vào quy định tại Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự cụ thể như sau:

- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Căn cứ vào quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 về quản lý tài sản của người được giám hộ cụ thể như sau:

- Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.

- Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

- Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

- Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này.

Dựa vào quy định tại Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015, do vợ bạn đã mất năng lực hành vi dân sự, bạn sẽ trở thành người giám hộ đương nhiên của vợ mình. Theo Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bạn đáp ứng đủ điều kiện để làm người giám hộ cho vợ mình, thì các giao dịch dân sự liên quan đến vợ bạn phải do bạn xác lập và thực hiện. Bạn cũng có trách nhiệm quản lý tài sản của vợ mình.

Có được tự mình bán tài sản khi vợ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong trường hợp của bạn, mảnh đất mà hai vợ chồng bạn mua từ tiền tiết kiệm trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản chung của vợ chồng bạn.

Do vợ bạn đã mất năng lực hành vi dân sự và bạn là người giám hộ đương nhiên, bạn sẽ chịu trách nhiệm quản lý tài sản của vợ và được thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản đó vì lợi ích của vợ. Tuy nhiên, việc bán tài sản có giá trị lớn của vợ cần phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ, theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015.

Người giám sát việc giám hộ được chọn từ những người thân thích của vợ bạn hoặc có thể là cá nhân, pháp nhân khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Dân sự 2015. Việc giám sát liên quan đến quản lý tài sản của vợ bạn cần phải đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã (hoặc phường/thị trấn) nơi cư trú của vợ bạn.

Nếu không có người thân thích của vợ bạn, hoặc những người thân thích không thể chọn được người giám sát việc giám hộ, thì trách nhiệm cử cá nhân hoặc pháp nhân để giám sát sẽ thuộc về Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Như vậy, bạn có quyền bán mảnh đất là tài sản chung nếu việc bán đó phục vụ lợi ích của vợ bạn. Tuy nhiên, do đây là tài sản có giá trị lớn, việc bán tài sản này phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Người giám sát này cần được chọn theo quy định và phải thực hiện việc đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của vợ bạn trước khi bán tài sản.

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
986 ngày trước
Có được tự mình bán tài sản khi vợ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Có được tự mình bán tài sản khi vợ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?Tôi và vợ đã mua một mảnh đất bằng tiền tiết kiệm của chúng tôi, và đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả hai. Cuối năm trước, vợ tôi bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Hiện tại, tôi vẫn khỏe mạnh, có nhận thức rõ ràng, công việc ổn định, không vi phạm pháp luật và rất yêu thương vợ tôi. Tuy nhiên, kinh tế gia đình hiện gặp khó khăn, vì vậy tôi muốn biết liệu có thể bán mảnh đất này không? Rất mong nhận được phản hồi.Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là gì? Mất năng lực hành vi dân sự được quy định như thế nào?Tại Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định: năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 về khái niệm mất năng lực hành vi được cụ thể như sau:- Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.Người mất năng lực hành vi dân sự sẽ được giám hộ theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể như sau:- Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).- Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu.- Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch.Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện như thế nào?Theo khoản 2 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.Người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự chính là người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:- Cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ.- Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.- Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.Căn cứ vào quy định tại Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015 về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ cụ thể như sau:- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.- Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.- Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.Căn cứ vào quy định tại Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự cụ thể như sau:- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.Căn cứ vào quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 về quản lý tài sản của người được giám hộ cụ thể như sau:- Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.- Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.- Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.- Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này.Dựa vào quy định tại Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015, do vợ bạn đã mất năng lực hành vi dân sự, bạn sẽ trở thành người giám hộ đương nhiên của vợ mình. Theo Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bạn đáp ứng đủ điều kiện để làm người giám hộ cho vợ mình, thì các giao dịch dân sự liên quan đến vợ bạn phải do bạn xác lập và thực hiện. Bạn cũng có trách nhiệm quản lý tài sản của vợ mình.Có được tự mình bán tài sản khi vợ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong trường hợp của bạn, mảnh đất mà hai vợ chồng bạn mua từ tiền tiết kiệm trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản chung của vợ chồng bạn.Do vợ bạn đã mất năng lực hành vi dân sự và bạn là người giám hộ đương nhiên, bạn sẽ chịu trách nhiệm quản lý tài sản của vợ và được thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản đó vì lợi ích của vợ. Tuy nhiên, việc bán tài sản có giá trị lớn của vợ cần phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ, theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015.Người giám sát việc giám hộ được chọn từ những người thân thích của vợ bạn hoặc có thể là cá nhân, pháp nhân khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Dân sự 2015. Việc giám sát liên quan đến quản lý tài sản của vợ bạn cần phải đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã (hoặc phường/thị trấn) nơi cư trú của vợ bạn.Nếu không có người thân thích của vợ bạn, hoặc những người thân thích không thể chọn được người giám sát việc giám hộ, thì trách nhiệm cử cá nhân hoặc pháp nhân để giám sát sẽ thuộc về Uỷ ban nhân dân cấp xã.Như vậy, bạn có quyền bán mảnh đất là tài sản chung nếu việc bán đó phục vụ lợi ích của vợ bạn. Tuy nhiên, do đây là tài sản có giá trị lớn, việc bán tài sản này phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Người giám sát này cần được chọn theo quy định và phải thực hiện việc đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của vợ bạn trước khi bán tài sản.