0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64cceddbebfda-Giải-quyết-tranh-chấp-về-việc-mang-thai-hộ-vì-mục-đích-nhân-đạo-như-thế-nào.png.webp

Giải quyết tranh chấp về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?

Giải quyết tranh chấp về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?

Hiện tại vợ chồng tôi đang gặp vấn đề vô sinh. Chúng tôi đã thử nhiều biện pháp chữa trị nhưng đều không thành công, nên giờ đang xem xét phương án mang thai hộ từ người khác vì mục đích nhân đạo. Tôi rất muốn được hiểu rõ hơn về các quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ theo quy định hiện hành. Ngoài ra, nếu xảy ra tranh chấp liên quan đến việc mang thai hộ, quá trình giải quyết sẽ diễn ra như thế nào?

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là gì?

Theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được định nghĩa như sau:

“Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.”

Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được pháp luật quy định như thế nào?

Theo Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định như sau:

- Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

- Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

- Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

- Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

- Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

 Theo quy định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bao gồm:

- Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

- Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

- Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan; nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.

- Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.

- Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

Giải quyết tranh chấp về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?

Theo Điều 99 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện như sau:

- Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.

- Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và Bộ luật Dân sự.

Như vậy, trong trường hợp mà cả hai vợ chồng bên yêu cầu mang thai hộ qua đời hoặc không còn năng lực hành vi dân sự trước khi nhận đứa trẻ, quyền lợi sẽ thuộc về bên mang thai hộ. Cụ thể, bên mang thai hộ có thể tự quyết định nhận nuôi đứa trẻ. Trong trường hợp họ không lựa chọn quyền này, các vấn đề về giám hộ và cấp dưỡng cho đứa trẻ sẽ được giải quyết theo các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng như Bộ luật Dân sự.

Nguyễn Diễm Quỳnh
252 ngày trước
Giải quyết tranh chấp về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?
Giải quyết tranh chấp về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?Hiện tại vợ chồng tôi đang gặp vấn đề vô sinh. Chúng tôi đã thử nhiều biện pháp chữa trị nhưng đều không thành công, nên giờ đang xem xét phương án mang thai hộ từ người khác vì mục đích nhân đạo. Tôi rất muốn được hiểu rõ hơn về các quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ theo quy định hiện hành. Ngoài ra, nếu xảy ra tranh chấp liên quan đến việc mang thai hộ, quá trình giải quyết sẽ diễn ra như thế nào?Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là gì?Theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được định nghĩa như sau:“Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.”Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được pháp luật quy định như thế nào?Theo Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định như sau:- Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.- Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.- Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.- Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.- Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con. Theo quy định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bao gồm:- Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.- Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.- Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan; nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.- Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.- Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.Giải quyết tranh chấp về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?Theo Điều 99 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện như sau:- Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.- Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và Bộ luật Dân sự.Như vậy, trong trường hợp mà cả hai vợ chồng bên yêu cầu mang thai hộ qua đời hoặc không còn năng lực hành vi dân sự trước khi nhận đứa trẻ, quyền lợi sẽ thuộc về bên mang thai hộ. Cụ thể, bên mang thai hộ có thể tự quyết định nhận nuôi đứa trẻ. Trong trường hợp họ không lựa chọn quyền này, các vấn đề về giám hộ và cấp dưỡng cho đứa trẻ sẽ được giải quyết theo các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng như Bộ luật Dân sự.