0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64ccf89ae13cc-Quy-định-về-quản-lý-tài-sản-của-người-mất-tích-như-thế-nào.png.webp

Quy định về quản lý tài sản của người mất tích như thế nào?

Quy định về quản lý tài sản của người mất tích như thế nào?

Chồng tôi đã đi làm ăn nơi xa và lần cuối liên lạc với gia đình là hai năm trước. Mặc dù tôi đã nỗ lực nhờ bạn bè, người thân, và thậm chí đã yêu cầu sự hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước để tìm kiếm, đến nay chồng tôi vẫn không để lại dấu vết nào, và tình trạng sống hay chết vẫn là một ẩn số. Vì vậy, Tòa đã tuyên bố chồng tôi mất tích. Giờ đây, tôi đang thắc mắc về việc tôi có quyền sử dụng tài sản của chồng mình hay không?

Khi nào thì tuyên bố một người mất tích?

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tuyên bố mất tích như sau:

“Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”

Theo đó, khi một cá nhân bị biệt tích trong suốt 02 năm hoặc lâu hơn, mặc dù đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thông báo và tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự mà vẫn không có thông tin chính xác về tình trạng sống hay đã chết của người đó, thì tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích, theo yêu cầu của người có quyền lợi và lợi ích liên quan.

Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích như thế nào?

Căn cứ Điều 69 Bộ luật Dân sự 2015, việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quy định như sau:

“Điều 69. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích

Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.”

Dẫn chiếu đến Điều 65 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú như sau:

“Điều 65. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú

1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:

a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;

b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;

c) Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.

2. Trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.”

Như vậy trong trường hợp của bạn, tài sản của người chồng bị mất tích sẽ được quản lý như sau:

- Đối với tài sản đã được chồng bạn ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;

- Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;

- Đối với tài sản do bạn đang quản lý thì tiếp tục quản lý.

Quyền và nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người mất tích ra sao?

Theo Điều 66 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 67 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú như sau:

(1) Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú gồm:

- Quản lý tài sản của người vắng mặt.

- Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt.

- Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt.

(2) Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú gồm:

- Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình.

- Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng.

- Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án.

- Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
259 ngày trước
Quy định về quản lý tài sản của người mất tích như thế nào?
Quy định về quản lý tài sản của người mất tích như thế nào?Chồng tôi đã đi làm ăn nơi xa và lần cuối liên lạc với gia đình là hai năm trước. Mặc dù tôi đã nỗ lực nhờ bạn bè, người thân, và thậm chí đã yêu cầu sự hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước để tìm kiếm, đến nay chồng tôi vẫn không để lại dấu vết nào, và tình trạng sống hay chết vẫn là một ẩn số. Vì vậy, Tòa đã tuyên bố chồng tôi mất tích. Giờ đây, tôi đang thắc mắc về việc tôi có quyền sử dụng tài sản của chồng mình hay không?Khi nào thì tuyên bố một người mất tích?Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tuyên bố mất tích như sau:“Điều 68. Tuyên bố mất tích1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”Theo đó, khi một cá nhân bị biệt tích trong suốt 02 năm hoặc lâu hơn, mặc dù đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thông báo và tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự mà vẫn không có thông tin chính xác về tình trạng sống hay đã chết của người đó, thì tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích, theo yêu cầu của người có quyền lợi và lợi ích liên quan.Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích như thế nào?Căn cứ Điều 69 Bộ luật Dân sự 2015, việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quy định như sau:“Điều 69. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tíchNgười đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.”Dẫn chiếu đến Điều 65 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú như sau:“Điều 65. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;c) Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.2. Trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.”Như vậy trong trường hợp của bạn, tài sản của người chồng bị mất tích sẽ được quản lý như sau:- Đối với tài sản đã được chồng bạn ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;- Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;- Đối với tài sản do bạn đang quản lý thì tiếp tục quản lý.Quyền và nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người mất tích ra sao?Theo Điều 66 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 67 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú như sau:(1) Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú gồm:- Quản lý tài sản của người vắng mặt.- Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt.- Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt.(2) Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú gồm:- Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình.- Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng.- Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án.- Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.