0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64ce673c01a76-HS.png

AI CÓ THẨM QUYỀN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ?

1. Khởi tố vụ án hình sự là gì?

Khởi tố vụ án hình sự có thể được hiểu là quá trình mà cơ quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để bắt đầu quá trình điều tra và khám phá tội phạm. Đây là một giai đoạn trong quá trình tố tụng, nơi mà các hoạt động điều tra được khởi đầu.

Quá trình khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng, nơi cơ quan tố tụng thu thập thông tin và chứng cứ về sự việc phạm tội. Từ đó, cơ quan này sẽ xem xét và quyết định liệu có đủ căn cứ để khởi tố, điều tra và truy tố các bị can liên quan đến vụ án hay không. Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự mang tính chất độc lập, nơi mà quyền công tâm và công lý được thực hiện để đảm bảo tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan được quy định tại Thủ tục pháp luật.

2. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

- Tố giác của cá nhân;

- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

- Người phạm tội tự thú.

3. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:

- Không có sự việc phạm tội;

- Hành vi không cấu thành tội phạm;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tội phạm đã được đại xá;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

- Tội phạm quy định tại mục (6) mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

4. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:

(1) Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại (2), (3) và (4) mục này.

(2) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đối với cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan khác.

(3) Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

- Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

- Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

(4) Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

5. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội hiếp dâm.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cưỡng dâm.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội làm nhục người khác.

- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vu khống.

 

 

 

 

 

 

 

 

avatar
Đoàn Trà My
258 ngày trước
AI CÓ THẨM QUYỀN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ?
1. Khởi tố vụ án hình sự là gì?Khởi tố vụ án hình sự có thể được hiểu là quá trình mà cơ quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để bắt đầu quá trình điều tra và khám phá tội phạm. Đây là một giai đoạn trong quá trình tố tụng, nơi mà các hoạt động điều tra được khởi đầu.Quá trình khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng, nơi cơ quan tố tụng thu thập thông tin và chứng cứ về sự việc phạm tội. Từ đó, cơ quan này sẽ xem xét và quyết định liệu có đủ căn cứ để khởi tố, điều tra và truy tố các bị can liên quan đến vụ án hay không. Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự mang tính chất độc lập, nơi mà quyền công tâm và công lý được thực hiện để đảm bảo tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan được quy định tại Thủ tục pháp luật.2. Căn cứ khởi tố vụ án hình sựTheo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:- Tố giác của cá nhân;- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;- Người phạm tội tự thú.3. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sựCăn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:- Không có sự việc phạm tội;- Hành vi không cấu thành tội phạm;- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;- Tội phạm đã được đại xá;- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;- Tội phạm quy định tại mục (6) mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.4. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sựThẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:(1) Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại (2), (3) và (4) mục này.(2) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đối với cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan khác.(3) Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:- Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;- Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;- Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.(4) Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.5. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội hiếp dâm.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cưỡng dâm.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội làm nhục người khác.- Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vu khống.