0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64cf26baf2ab3-Có-được-tự-ý-khám-xét-nhà-người-khác-không.png

Có được tự ý khám xét nhà người khác không?

Có được tự ý khám xét nhà người khác không?

Tôi đã có những hành vi vi phạm pháp luật. Hôm nay, công an đột ngột xông vào nhà tôi và đòi khám xét. Tôi muốn biết rằng liệu khi nào thì cơ quan chức năng mới được khám xét nhà của người khác?

Có được tự ý khám xét nhà người khác hay không?

Theo Điều 22 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền của một con người như sau:

"Điều 22.

1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.

2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.

3. Việc khám xét chỗ ở do luật định."

Bên cạnh đó, theo Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có đề cập như sau:

"Điều 12. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân

Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.

Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này."

Theo đó, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của mỗi người là không thể vi phạm, việc tự tiện điều tra ngôi nhà của ai đó là đi ngược lại các quy tắc pháp lý. Tuy nhiên, cũng có những tình huống đặc biệt đòi hỏi việc điều tra chỗ ở của một cá nhân để tiến hành các hành động pháp lý nhằm tìm kiếm những người phạm tội, đảm bảo an toàn và trật tự cho xã hội.

Khi nào được khám xét nhà người khác?

Căn cứ Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sau:

"Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử

1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

2. Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử."

Như vậy, việc điều tra một cá nhân phải dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng mới được phép tiến hành việc kiểm tra nơi ở của họ. Tuy nhiên, không phải mọi người đều có quyền tự do điều tra chỗ ở của người khác, mà chỉ những cá nhân hoặc tổ chức được quy định theo pháp luật mới có thể thực hiện điều này.

Ai sẽ có thẩm quyền khám xét người khác?

Căn cứ khoản 1 Điều 113 và điều khoản 1 Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì những đối tượng sau đây mới có quyền ra lệnh khám xét nhà người khác, cụ thể:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

Việc khám xét nhà người khác được quy định như thế nào?

Theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì việc khám xét nhà người khác được quy định như sau:

Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.

Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Nguyễn Diễm Quỳnh
251 ngày trước
Có được tự ý khám xét nhà người khác không?
Có được tự ý khám xét nhà người khác không?Tôi đã có những hành vi vi phạm pháp luật. Hôm nay, công an đột ngột xông vào nhà tôi và đòi khám xét. Tôi muốn biết rằng liệu khi nào thì cơ quan chức năng mới được khám xét nhà của người khác?Có được tự ý khám xét nhà người khác hay không?Theo Điều 22 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền của một con người như sau:"Điều 22.1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.3. Việc khám xét chỗ ở do luật định."Bên cạnh đó, theo Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có đề cập như sau:"Điều 12. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhânKhông ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này."Theo đó, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của mỗi người là không thể vi phạm, việc tự tiện điều tra ngôi nhà của ai đó là đi ngược lại các quy tắc pháp lý. Tuy nhiên, cũng có những tình huống đặc biệt đòi hỏi việc điều tra chỗ ở của một cá nhân để tiến hành các hành động pháp lý nhằm tìm kiếm những người phạm tội, đảm bảo an toàn và trật tự cho xã hội.Khi nào được khám xét nhà người khác?Căn cứ Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sau:"Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.2. Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử."Như vậy, việc điều tra một cá nhân phải dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng mới được phép tiến hành việc kiểm tra nơi ở của họ. Tuy nhiên, không phải mọi người đều có quyền tự do điều tra chỗ ở của người khác, mà chỉ những cá nhân hoặc tổ chức được quy định theo pháp luật mới có thể thực hiện điều này.Ai sẽ có thẩm quyền khám xét người khác?Căn cứ khoản 1 Điều 113 và điều khoản 1 Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì những đối tượng sau đây mới có quyền ra lệnh khám xét nhà người khác, cụ thể:- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.Việc khám xét nhà người khác được quy định như thế nào?Theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì việc khám xét nhà người khác được quy định như sau:Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.