0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64cf2bec6e9b7-Xác-định-cha-mẹ-trong-trường-hợp-con-được-sinh-bởi-kỹ-thuật-hỗ-trợ-sinh-sản-như-thế-nào.png

Xác định cha mẹ trong trường hợp con được sinh bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thế nào?

Xác định cha mẹ trong trường hợp con được sinh bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thế nào?

Tôi cùng người vợ đã tiếp tục điều trị vô sinh suốt 3 năm nhưng không có kết quả tích cực. Hiện tại, chúng tôi đã quyết định chọn giải pháp sinh con thông qua phương pháp hỗ trợ sinh sản. Tôi muốn hiểu rõ, liệu việc xác định con của chúng tôi có gặp phải khó khăn gì từ phía luật pháp hay không?

Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong trường hợp nào?

Căn cứ khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

...

21.Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.”

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như sau:

“Điều 3. Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo."

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về vô sinh như sau:

“Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

[...]

2.Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai.”

Và theo khoản 6 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về phụ nữ độc thân như sau:

“Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

[...]

6.Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.”

Theo đó, khi đối mặt với tình trạng không thể có con tự nhiên, các cặp vợ chồng hoặc những phụ nữ độc thân có thể lựa chọn sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, một phương pháp khoa học tiên tiến. Đây là lựa chọn đầy hy vọng cho những người muốn có con nhưng gặp khó khăn trong việc thụ tinh tự nhiên. Bằng cách áp dụng những kỹ thuật hiện đại, những ước mơ về việc có con, lập gia đình và hưởng thụ niềm vui của việc nuôi dạy trẻ có thể trở thành hiện thực.

Nguyên tắc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh con?

Căn cứ Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về nguyên tắc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

- Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

- Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.

- Việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện.

- Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận; tinh trùng, phôi của người cho phải được mã hóa để bảo đảm bí mật nhưng vẫn phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc.

- Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.

Theo đó, kỹ thuật hỗ trợ sinh con không đương nhiên được sử dụng tự do theo ý chí của các bên mà phải tuân thủ các nguyên tắc theo quy định của pháp luật.

Con được sinh bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì xác định cha mẹ như thế nào?

Căn cứ khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau:

- Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.

- Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.

- Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về xác định cha, mẹ như sau:

- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

- Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Và theo Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con như sau:

Theo đó, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà sẽ có các cách xác định cha, mẹ của con được sinh ra bằng hỗ trợ sinh sản khác nhau.

Theo đó, trẻ em sinh ra từ việc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thuộc những trường hợp được pháp luật công nhận. Lúc đó, đứa trẻ sẽ được coi là con hợp pháp của cả hai bạn trong thời gian bạn còn kết hôn. Việc xác định quyền thừa kế này sẽ được thực hiện theo quy định đã nêu và không có rắc rối pháp lý nào khi bạn quyết định sinh con thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
257 ngày trước
Xác định cha mẹ trong trường hợp con được sinh bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thế nào?
Xác định cha mẹ trong trường hợp con được sinh bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thế nào?Tôi cùng người vợ đã tiếp tục điều trị vô sinh suốt 3 năm nhưng không có kết quả tích cực. Hiện tại, chúng tôi đã quyết định chọn giải pháp sinh con thông qua phương pháp hỗ trợ sinh sản. Tôi muốn hiểu rõ, liệu việc xác định con của chúng tôi có gặp phải khó khăn gì từ phía luật pháp hay không?Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong trường hợp nào?Căn cứ khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau:“Điều 3. Giải thích từ ngữTrong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:...21.Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.”Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như sau:“Điều 3. Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo1. Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo."Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về vô sinh như sau:“Điều 2. Giải thích từ ngữTrong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:[...]2.Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai.”Và theo khoản 6 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về phụ nữ độc thân như sau:“Điều 2. Giải thích từ ngữTrong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:[...]6.Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.”Theo đó, khi đối mặt với tình trạng không thể có con tự nhiên, các cặp vợ chồng hoặc những phụ nữ độc thân có thể lựa chọn sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, một phương pháp khoa học tiên tiến. Đây là lựa chọn đầy hy vọng cho những người muốn có con nhưng gặp khó khăn trong việc thụ tinh tự nhiên. Bằng cách áp dụng những kỹ thuật hiện đại, những ước mơ về việc có con, lập gia đình và hưởng thụ niềm vui của việc nuôi dạy trẻ có thể trở thành hiện thực.Nguyên tắc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh con?Căn cứ Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về nguyên tắc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:- Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.- Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.- Việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện.- Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận; tinh trùng, phôi của người cho phải được mã hóa để bảo đảm bí mật nhưng vẫn phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc.- Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.Theo đó, kỹ thuật hỗ trợ sinh con không đương nhiên được sử dụng tự do theo ý chí của các bên mà phải tuân thủ các nguyên tắc theo quy định của pháp luật.Con được sinh bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì xác định cha mẹ như thế nào?Căn cứ khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau:- Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.- Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.- Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.- Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.Theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về xác định cha, mẹ như sau:- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.- Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.Và theo Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con như sau:Theo đó, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà sẽ có các cách xác định cha, mẹ của con được sinh ra bằng hỗ trợ sinh sản khác nhau.Theo đó, trẻ em sinh ra từ việc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thuộc những trường hợp được pháp luật công nhận. Lúc đó, đứa trẻ sẽ được coi là con hợp pháp của cả hai bạn trong thời gian bạn còn kết hôn. Việc xác định quyền thừa kế này sẽ được thực hiện theo quy định đã nêu và không có rắc rối pháp lý nào khi bạn quyết định sinh con thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.