0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64cf42f47ed28-Pháp-luật-quy-định-như-thế-nào-về-xử-phạt-đối-với-hành-vi-cản-trở-kết-hôn.png

Pháp luật quy định như thế nào về xử phạt đối với hành vi cản trở kết hôn?

Pháp luật quy định như thế nào về xử phạt đối với hành vi cản trở kết hôn?

Sau 3 năm quen nhau, chúng tôi đã chuẩn bị tiến đến hôn nhân. Tuy nhiên, tôi đột nhiên nhận được một thách cưới từ gia đình của bạn gái, với yêu cầu phải đóng số tiền lên đến 500 triệu và đặt tên người vợ lên sổ đỏ. Dù gia đình tôi không khó khăn, nhưng với yêu cầu cao như vậy, chúng tôi gặp khó khăn trong việc đáp ứng. Tôi muốn hỏi liệu thách cưới như vậy có vi phạm pháp luật không? Nếu có, thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Kết hôn có được thách cưới không?

Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình như sau:

“Điều 7. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình

1. Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng."

Theo Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

- Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Thách cưới là một truyền thống tập quán của mỗi dân tộc và vùng miền, một cách bày tỏ công ơn dưỡng dục. Nếu thách cưới không vi phạm nguyên tắc tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng như các điều cấm được quy định, thì vẫn có thể tiến hành thách cưới. Tuy nhiên, cần cân nhắc xem thách cưới có phù hợp với tình hình gia đình và đảm bảo tính công bằng, không gây áp lực cho bất kỳ bên nào.

Thách cưới khi kết hôn có vi phạm pháp luật không?

Theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về các hành vi bị cấm như sau:

- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

- Yêu sách của cải trong kết hôn;

- Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

- Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

- Bạo lực gia đình;

- Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

Và theo khoản 12 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về yêu sách của cải trong kết hôn như sau:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

[...]

12.Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ.”

Bên cạnh đó, theo quy định tại Mục 2 Phụ lục Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché… để dẫn cưới) là các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cấm áp dụng.

Như vậy, việc thách cưới cao mang tính chất gả bán mà cản trở kết hôn tự nguyện của nam, nữ là hành vi bị cấm trong hôn nhân gia đình và có thể bị xử phạt nếu vi phạm.

Thách cưới quá cao bị xử lý như thế nào?

Căn cứ khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:

“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

e) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.”

Như vậy, khi gia đình nhà gái đưa ra yêu cầu thách cưới mà gia đình của bạn khó khăn để thực hiện, điều này có thể tạo ra rào cản đối với việc hai bạn tiến tới kết hôn. Thách cưới như vậy có thể vi phạm pháp luật và dẫn đến án phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
257 ngày trước
Pháp luật quy định như thế nào về xử phạt đối với hành vi cản trở kết hôn?
Pháp luật quy định như thế nào về xử phạt đối với hành vi cản trở kết hôn?Sau 3 năm quen nhau, chúng tôi đã chuẩn bị tiến đến hôn nhân. Tuy nhiên, tôi đột nhiên nhận được một thách cưới từ gia đình của bạn gái, với yêu cầu phải đóng số tiền lên đến 500 triệu và đặt tên người vợ lên sổ đỏ. Dù gia đình tôi không khó khăn, nhưng với yêu cầu cao như vậy, chúng tôi gặp khó khăn trong việc đáp ứng. Tôi muốn hỏi liệu thách cưới như vậy có vi phạm pháp luật không? Nếu có, thì sẽ bị xử lý như thế nào?Kết hôn có được thách cưới không?Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình như sau:“Điều 7. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình1. Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng."Theo Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau:- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.- Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.Thách cưới là một truyền thống tập quán của mỗi dân tộc và vùng miền, một cách bày tỏ công ơn dưỡng dục. Nếu thách cưới không vi phạm nguyên tắc tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng như các điều cấm được quy định, thì vẫn có thể tiến hành thách cưới. Tuy nhiên, cần cân nhắc xem thách cưới có phù hợp với tình hình gia đình và đảm bảo tính công bằng, không gây áp lực cho bất kỳ bên nào.Thách cưới khi kết hôn có vi phạm pháp luật không?Theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về các hành vi bị cấm như sau:- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;- Yêu sách của cải trong kết hôn;- Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;- Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;- Bạo lực gia đình;- Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.Và theo khoản 12 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về yêu sách của cải trong kết hôn như sau:“Điều 3. Giải thích từ ngữTrong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:[...]12.Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ.”Bên cạnh đó, theo quy định tại Mục 2 Phụ lục Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché… để dẫn cưới) là các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cấm áp dụng.Như vậy, việc thách cưới cao mang tính chất gả bán mà cản trở kết hôn tự nguyện của nam, nữ là hành vi bị cấm trong hôn nhân gia đình và có thể bị xử phạt nếu vi phạm.Thách cưới quá cao bị xử lý như thế nào?Căn cứ khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;e) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.”Như vậy, khi gia đình nhà gái đưa ra yêu cầu thách cưới mà gia đình của bạn khó khăn để thực hiện, điều này có thể tạo ra rào cản đối với việc hai bạn tiến tới kết hôn. Thách cưới như vậy có thể vi phạm pháp luật và dẫn đến án phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.