0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64cf49548c5de-Tự-ý-đăng-hình-ảnh-người-khác-lên-mạng-xã-hội-có-bị-xử-phạt-không.png

Tự ý đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội có bị xử phạt không?

Tự ý đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội có bị xử phạt không?

Hiện nay tôi thấy trên mạng xã hội tràn lan các hình ảnh của người vi phạm pháp luật (tội gây rối trật tự công cộng) do công an đăng tải mà chưa được sự đồng ý của các cá nhân đó. Hành vi này có vi phạm pháp luật không?

Tự ý đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội có bị xử phạt không?

Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cụ thể như sau:

- Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

- Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

- Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.

- Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo đó, tự ý đăng tải hình ảnh của người khác mà không có sự đồng ý của họ, hoặc chia sẻ những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của họ mà chưa được sự đồng ý cũng là vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Những hành vi như vậy xâm phạm đến quyền riêng tư và an ninh thông tin của cá nhân đó và có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với họ. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng cho người vi phạm, bao gồm vi phạm hành chính với các mức phạt theo quy định Điều 101 và Điều 102 trong Nghị định 15/2020/NĐ-CP. Ngoài ra, người vi phạm còn có thể chịu trách nhiệm hình sự với những hình phạt nặng theo quy định Điều 155 trong Bộ luật Hình sự 2015.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về hành vi đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội

Tại Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm ghi nhận hướng dẫn như sau:

- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

+ Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

+ Thiệt hại khác do luật quy định.

- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Theo đó, ngoài việc phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phâm, uy tín bị xâm phạm thì người có hành vi vi phạm còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó phải gánh chịu.

Công an đăng hình ảnh của người phạm tội (tội gây rối trật tự công cộng) lên mạng xã hội có vi phạm pháp luật không?

Căn cứ Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

"Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật."

Theo Điều 32 trong Bộ luật Dân sự 2015, công an có thể sử dụng hình ảnh cá nhân đăng lên mạng xã hội trong các trường hợp được nêu, mà không cần sự đồng ý của cá nhân đó. Việc sử dụng hình ảnh đăng lên mạng xã hội trong trường hợp này không vi phạm quy định pháp luật, vì đã được pháp luật công nhận và quy định rõ ràng.

Tuy nhiên, trong bất kỳ tình huống nào liên quan đến việc sử dụng thông tin cá nhân của người khác, chúng ta vẫn nên tuân thủ đạo đức và tôn trọng quyền riêng tư của mọi người. Việc sử dụng thông tin cá nhân nên được thực hiện một cách có trách nhiệm và đảm bảo đúng đắn theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh thông tin và sự đồng thuận của người liên quan.

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
258 ngày trước
Tự ý đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội có bị xử phạt không?
Tự ý đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội có bị xử phạt không?Hiện nay tôi thấy trên mạng xã hội tràn lan các hình ảnh của người vi phạm pháp luật (tội gây rối trật tự công cộng) do công an đăng tải mà chưa được sự đồng ý của các cá nhân đó. Hành vi này có vi phạm pháp luật không?Tự ý đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hội có bị xử phạt không?Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cụ thể như sau:- Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.- Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.- Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.- Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Theo đó, tự ý đăng tải hình ảnh của người khác mà không có sự đồng ý của họ, hoặc chia sẻ những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của họ mà chưa được sự đồng ý cũng là vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Những hành vi như vậy xâm phạm đến quyền riêng tư và an ninh thông tin của cá nhân đó và có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với họ. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng cho người vi phạm, bao gồm vi phạm hành chính với các mức phạt theo quy định Điều 101 và Điều 102 trong Nghị định 15/2020/NĐ-CP. Ngoài ra, người vi phạm còn có thể chịu trách nhiệm hình sự với những hình phạt nặng theo quy định Điều 155 trong Bộ luật Hình sự 2015.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về hành vi đăng hình ảnh người khác lên mạng xã hộiTại Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm ghi nhận hướng dẫn như sau:- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:+ Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;+ Thiệt hại khác do luật quy định.- Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.Theo đó, ngoài việc phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phâm, uy tín bị xâm phạm thì người có hành vi vi phạm còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó phải gánh chịu.Công an đăng hình ảnh của người phạm tội (tội gây rối trật tự công cộng) lên mạng xã hội có vi phạm pháp luật không?Căn cứ Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:"Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật."Theo Điều 32 trong Bộ luật Dân sự 2015, công an có thể sử dụng hình ảnh cá nhân đăng lên mạng xã hội trong các trường hợp được nêu, mà không cần sự đồng ý của cá nhân đó. Việc sử dụng hình ảnh đăng lên mạng xã hội trong trường hợp này không vi phạm quy định pháp luật, vì đã được pháp luật công nhận và quy định rõ ràng.Tuy nhiên, trong bất kỳ tình huống nào liên quan đến việc sử dụng thông tin cá nhân của người khác, chúng ta vẫn nên tuân thủ đạo đức và tôn trọng quyền riêng tư của mọi người. Việc sử dụng thông tin cá nhân nên được thực hiện một cách có trách nhiệm và đảm bảo đúng đắn theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh thông tin và sự đồng thuận của người liên quan.