0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64cf619d1bf92-thur--12-.png

Trường hợp nào được chia thừa kế theo pháp luật?

 

Trong quá trình tiến trình của cuộc sống, việc phân chia tài sản và quyền lợi thừa kế không chỉ phản ánh mặt pháp lý mà còn chứa đựng nhiều yếu tố tình cảm, gia đình và trách nhiệm xã hội. Luật thừa kế đã định rõ các quy định và điều kiện để đảm bảo quyền lợi được bảo vệ một cách công bằng và minh bạch. Vậy trường hợp nào được chia thừa kế theo pháp luật? Hãy cùng đi sâu vào chủ đề này để hiểu rõ hơn.

1. Thế nào là thừa kế theo pháp luật?

Theo Điều 649 Bộ luật dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật là quá trình tài sản của người đã qua đời được chuyển nhượng cho những người còn sống. Quy trình này tuân theo hàng thừa kế, các điều kiện, và trình tự do pháp luật quy định.

Khi một cá nhân qua đời, quyền sở hữu tài sản của họ không biến mất, mà được chuyển nhượng cho những người thừa kế. Những người thừa kế theo pháp luật thường là những người có mối quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người đã mất.

Pháp luật không đặt ra bất kỳ giới hạn nào về năng lực hành vi của người thừa kế. Mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng tài sản thừa kế. Đồng thời, họ cũng phải thực hiện các nghĩa vụ mà người đã mất chưa hoàn thành, trong phạm vi tài sản họ nhận thừa kế.

2. Trường hợp nào được hưởng thừa kế theo pháp luật?

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

  • Trường hợp không có di chúc.
  • Di chúc tồn tại nhưng không phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Các trường hợp người thừa kế theo di chúc qua đời trước hoặc cùng lúc với người lập di chúc; hoặc tổ chức/cơ quan được chỉ định trong di chúc không còn hoạt động tại thời điểm thừa kế được mở.
  • Trường hợp những người được chỉ định trong di chúc không có quyền nhận tài sản thừa kế hoặc đã từ chối việc thừa kế.

Ngoài ra, thừa kế theo pháp luật cũng sẽ được áp dụng cho những phần tài sản thừa kế sau:

  • Những phần của tài sản không được chỉ định cụ thể trong di chúc.
  • Phần di sản liên quan đến những phần trong di chúc mà không hợp lệ theo pháp luật.
  • Phần di sản liên quan đến người thừa kế theo di chúc, nhưng họ không có quyền thừa kế, đã từ chối thừa kế, hoặc đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc; hoặc liên quan đến cơ quan, tổ chức thừa kế theo di chúc nhưng đã không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế.

3. Quy định về chia thừa kế theo pháp luật

3.1. Chia thừa kế theo hàng thừa kế.

Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản của người đã mất sẽ được phân chia theo cách sau:

  • Các người thừa kế cùng một hàng thừa kế sẽ nhận được phần di sản ngang bằng nhau.
  • Những người thuộc hàng thừa kế sau chỉ có quyền thừa kế nếu không còn người thừa kế nào ở hàng trước, do họ đã qua đời, không có quyền nhận di sản, bị loại trừ khỏi quyền thừa kế hoặc từ chối việc nhận di sản.
  • Trong trường hợp con của người để lại di sản qua đời trước hoặc đồng thời với người để lại di sản, thì cháu sẽ nhận được phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu sẽ nhận được nếu họ còn sống.
  • Nếu cháu cũng qua đời trước hoặc đồng thời với người để lại di sản, thì chắt (con của cháu) sẽ nhận được phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt sẽ nhận được nếu họ còn sống.

3.2. Chia thừa kế giữa con nuôi và cha, mẹ nuôi và cha, mẹ đẻ; con riêng và bố dượng, mẹ kế.

Theo Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật Dân sự 2015, cha mẹ nuôi và con nuôi có quyền thừa kế tài sản của nhau và nằm trong nhóm thừa kế đầu tiên, cũng như được áp dụng quy định về thừa kế thế vị. 

Tương tự, nếu có mối quan hệ chăm sóc và nuôi dưỡng như cha mẹ và con giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế, họ cũng có quyền thừa kế tài sản của nhau và nằm trong nhóm thừa kế đầu tiên, và quy định về thừa kế thế vị cũng được áp dụng cho họ.

3.3. Chia thừa kế  trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ, chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác.

Dựa trên Điều 655 của Bộ luật Dân sự 2015:

Nếu vợ và chồng đã phân chia tài sản chung trong thời gian hôn nhân còn vững chắc và sau đó một trong hai người qua đời, người còn lại vẫn có quyền thừa kế tài sản.

Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn nhưng vẫn chưa được Tòa án chấp thuận hoặc đã được Tòa án đồng ý nhưng bản án hoặc quyết định vẫn chưa có hiệu lực, nếu một trong hai người qua đời thì người còn lại vẫn có quyền thừa kế tài sản.

Cuối cùng, nếu một người là vợ hoặc chồng của một người khác vào thời điểm người đó qua đời, thì người đó sẽ vẫn có quyền thừa kế tài sản, kể cả khi họ sau này đã kết hôn với người khác.

Kết luận:

Thừa kế theo pháp luật không chỉ là việc chia sẻ tài sản mà còn là biểu hiện của trách nhiệm và tình cảm gia đình. Mỗi trường hợp thừa kế đều có những đặc điểm và điều kiện riêng biệt, và luật pháp đã đưa ra các quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của mọi bên liên quan. Để giải quyết một cách công bằng và hiệu quả, mỗi cá nhân và gia đình cần nắm vững và tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế.

 

 

 

 

avatar
Nguyễn Thị Ngọc Lan
983 ngày trước
Trường hợp nào được chia thừa kế theo pháp luật?
 Trong quá trình tiến trình của cuộc sống, việc phân chia tài sản và quyền lợi thừa kế không chỉ phản ánh mặt pháp lý mà còn chứa đựng nhiều yếu tố tình cảm, gia đình và trách nhiệm xã hội. Luật thừa kế đã định rõ các quy định và điều kiện để đảm bảo quyền lợi được bảo vệ một cách công bằng và minh bạch. Vậy trường hợp nào được chia thừa kế theo pháp luật? Hãy cùng đi sâu vào chủ đề này để hiểu rõ hơn.1. Thế nào là thừa kế theo pháp luật?Theo Điều 649 Bộ luật dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật là quá trình tài sản của người đã qua đời được chuyển nhượng cho những người còn sống. Quy trình này tuân theo hàng thừa kế, các điều kiện, và trình tự do pháp luật quy định.Khi một cá nhân qua đời, quyền sở hữu tài sản của họ không biến mất, mà được chuyển nhượng cho những người thừa kế. Những người thừa kế theo pháp luật thường là những người có mối quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người đã mất.Pháp luật không đặt ra bất kỳ giới hạn nào về năng lực hành vi của người thừa kế. Mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng tài sản thừa kế. Đồng thời, họ cũng phải thực hiện các nghĩa vụ mà người đã mất chưa hoàn thành, trong phạm vi tài sản họ nhận thừa kế.2. Trường hợp nào được hưởng thừa kế theo pháp luật?Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:Trường hợp không có di chúc.Di chúc tồn tại nhưng không phù hợp với quy định của pháp luật.Các trường hợp người thừa kế theo di chúc qua đời trước hoặc cùng lúc với người lập di chúc; hoặc tổ chức/cơ quan được chỉ định trong di chúc không còn hoạt động tại thời điểm thừa kế được mở.Trường hợp những người được chỉ định trong di chúc không có quyền nhận tài sản thừa kế hoặc đã từ chối việc thừa kế.Ngoài ra, thừa kế theo pháp luật cũng sẽ được áp dụng cho những phần tài sản thừa kế sau:Những phần của tài sản không được chỉ định cụ thể trong di chúc.Phần di sản liên quan đến những phần trong di chúc mà không hợp lệ theo pháp luật.Phần di sản liên quan đến người thừa kế theo di chúc, nhưng họ không có quyền thừa kế, đã từ chối thừa kế, hoặc đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc; hoặc liên quan đến cơ quan, tổ chức thừa kế theo di chúc nhưng đã không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế.3. Quy định về chia thừa kế theo pháp luật3.1. Chia thừa kế theo hàng thừa kế.Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản của người đã mất sẽ được phân chia theo cách sau:Các người thừa kế cùng một hàng thừa kế sẽ nhận được phần di sản ngang bằng nhau.Những người thuộc hàng thừa kế sau chỉ có quyền thừa kế nếu không còn người thừa kế nào ở hàng trước, do họ đã qua đời, không có quyền nhận di sản, bị loại trừ khỏi quyền thừa kế hoặc từ chối việc nhận di sản.Trong trường hợp con của người để lại di sản qua đời trước hoặc đồng thời với người để lại di sản, thì cháu sẽ nhận được phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu sẽ nhận được nếu họ còn sống.Nếu cháu cũng qua đời trước hoặc đồng thời với người để lại di sản, thì chắt (con của cháu) sẽ nhận được phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt sẽ nhận được nếu họ còn sống.3.2. Chia thừa kế giữa con nuôi và cha, mẹ nuôi và cha, mẹ đẻ; con riêng và bố dượng, mẹ kế.Theo Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật Dân sự 2015, cha mẹ nuôi và con nuôi có quyền thừa kế tài sản của nhau và nằm trong nhóm thừa kế đầu tiên, cũng như được áp dụng quy định về thừa kế thế vị. Tương tự, nếu có mối quan hệ chăm sóc và nuôi dưỡng như cha mẹ và con giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế, họ cũng có quyền thừa kế tài sản của nhau và nằm trong nhóm thừa kế đầu tiên, và quy định về thừa kế thế vị cũng được áp dụng cho họ.3.3. Chia thừa kế  trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ, chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác.Dựa trên Điều 655 của Bộ luật Dân sự 2015:Nếu vợ và chồng đã phân chia tài sản chung trong thời gian hôn nhân còn vững chắc và sau đó một trong hai người qua đời, người còn lại vẫn có quyền thừa kế tài sản.Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn nhưng vẫn chưa được Tòa án chấp thuận hoặc đã được Tòa án đồng ý nhưng bản án hoặc quyết định vẫn chưa có hiệu lực, nếu một trong hai người qua đời thì người còn lại vẫn có quyền thừa kế tài sản.Cuối cùng, nếu một người là vợ hoặc chồng của một người khác vào thời điểm người đó qua đời, thì người đó sẽ vẫn có quyền thừa kế tài sản, kể cả khi họ sau này đã kết hôn với người khác.Kết luận:Thừa kế theo pháp luật không chỉ là việc chia sẻ tài sản mà còn là biểu hiện của trách nhiệm và tình cảm gia đình. Mỗi trường hợp thừa kế đều có những đặc điểm và điều kiện riêng biệt, và luật pháp đã đưa ra các quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của mọi bên liên quan. Để giải quyết một cách công bằng và hiệu quả, mỗi cá nhân và gia đình cần nắm vững và tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế.