Truất quyền thừa kế theo quy định của pháp luật
1.Truất quyền thừa kế là gì?
Hiện nay chưa có quy định thế nào truất quyền thừa kế. Tuy nhiên, có thể hiểu truất quyền đề cập đến việc một cá nhân bị tước đi quyền lợi mà họ nên được hưởng. Cụ thể, truất quyền thừa kế là việc một người bị tước đi quyền lợi thừa kế. Nếu không có hành động truất quyền này, họ sẽ tự nhiên có quyền thừa kế.
Điều 648 của Bộ luật dân sự quy định rằng người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế và có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
Người bị truất quyền hưởng di sản sẽ không được thừa kế, ngay cả khi họ đáp ứng đủ các yêu cầu theo pháp luật để thừa kế.
2. Trường hợp bị truất quyền thừa kế.
Có hai hình thức chính của việc bị truất quyền thừa kế, bao gồm truất quyền thừa kế theo di chúc và truất quyền thừa kế theo pháp luật. Cụ thể về mỗi trường hợp được giải thích như sau.
Trường hợp truất quyền thừa kế theo di chúc:
- Trong trường hợp này, nguyên nhân của việc bị truất quyền thừa kế là do sự lựa chọn của người lập di chúc, người này quyết định không để lại di sản cho một người cụ thể. Lý do có thể do mâu thuẫn cá nhân hoặc người thừa kế không thể tạo ra lòng tin từ người lập di chúc.
Trường hợp truất quyền thừa kế theo pháp luật:
- Trường hợp này liên quan đến việc bị tước quyền thừa kế tài sản của người đã qua đời. Nguyên nhân bị truất quyền thừa kế theo pháp luật có thể là do những hành vi sau:
- Bị kết tội vì hành vi cố ý gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã ngược đãi, hành hạ người để lại di sản;
- Hành vi xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người lập di chúc;
- Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác với mục đích chiếm đoạt tài sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc cản trở người để lại di sản trong việc lập di chúc;
- Tiến hành giả mạo, chỉnh sửa di chúc, phá huỷ hoặc che giấu di chúc để hưởng di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên, nếu người để lại di sản biết về những hành vi này và vẫn đồng ý để họ hưởng di sản, điều này phải được ghi rõ trong di chúc.
3. Truất quyền thừa kế và không được quyền hưởng di sản khác nhau như thế nào?
Chỉ có một trường hợp duy nhất bị truất quyền thừa kế là do ý chí của người lập di chúc. (Đây là quyền của người để lại di sản thừa kế).
Còn Điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp mà các cá nhân không có quyền thừa kế di sản.
Theo Điều 621, khoản 1, các cá nhân sau đây bị cấm thừa kế:
Những người đã bị kết án vì hành vi cố ý gây tổn thương tính mạng, sức khỏe hoặc đã ngược đãi, hành hạ người để lại di sản, hoặc xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của họ;
Những người đã vi phạm nghiêm trọng trách nhiệm nuôi dưỡng người để lại di sản;
Những người đã bị kết án vì hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác với mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
Những người đã lừa dối, ép buộc hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, hoặc đã giả mạo, chỉnh sửa, hủy hoặc che giấu di chúc để hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên, những người nêu trên vẫn có thể thừa kế nếu người để lại di sản đã biết về hành vi của họ nhưng vẫn chọn để họ thừa kế theo di chúc.
4. Trường hợp truất quyền thừa kế bị vô hiệu.
Như đã phân tích, truất quyền thừa kế là một quyền của người để lại di sản, cho phép họ từ chối việc giao quyền thừa kế cho bất kỳ người thừa kế nào mà họ chọn, không cần lý do cụ thể. Tuy nhiên, trong một xã hội văn minh và pháp lý, mọi quyền tự do đều bị giới hạn để không gây tổn thương đến quyền lợi hợp pháp của người khác.
Do đó, có những trường hợp ngoại lệ mà quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc. Điều 669 của Bộ luật Dân sự 2015 cho thấy những người thuộc các trường hợp sau đây vẫn có quyền hưởng 2/3 suất di sản theo quy định pháp luật: Người chưa thành niên, cha mẹ, vợ chồng và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người có quan hệ gần gũi và bắt buộc với người để lại di sản.
Nếu một di chúc chỉ định người không được hưởng di sản nhưng di chúc không có hiệu lực vì không đáp ứng đủ điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức, thì quyền truất quyền thừa kế cũng trở nên vô hiệu. Kết quả là, người bị truất quyền thừa kế lại có quyền hưởng di sản.
Điều này cần được thảo luận kỹ lưỡng, bởi phần di sản để lại là tài sản của người lập di chúc, và họ có quyền tự do quyết định về tài sản của mình. Pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền này. Tuy nhiên, để có thể truất quyền thừa kế, người để lại di sản phải đảm bảo rằng di chúc của họ tuân thủ luật pháp.
Vì vậy, dù truất quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản, quyền này lại bị giới hạn bởi các quy định pháp luật nhằm cân nhắc đến lợi ích của tất cả mọi người.