0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64d0cd663cae4-Chi-nhánh-có-được-phép-ký-kết-hợp-đồng-thương-mại-với-đối-tác-không--11-.png

Bộ luật Hình sự Việt Nam có áp dụng đối với trường hợp người mang hai quốc tịch phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam không?

Hiện nay diễn ra khá nhiều tình trạng cá nhân mang quốc tịch nước ngoài hay mang hai quốc tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Trong trường hợp này sẽ được xử lý như thế nào?

Có được áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người hai quốc tịch?

Theo Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

“Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.”

Kết luận:

Dựa vào quy định này, nếu người phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự của Việt Nam. Vì vậy, trong trường hợp có hai quốc tịch và trong đó có một quốc tịch là Việt Nam, thì đương nhiên Bộ luật Hình sự Việt Nam sẽ được áp dụng cho họ.

Trong trường hợp người phạm tội thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, việc xử lý trách nhiệm hình sự sẽ tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế. Điều này có nghĩa là trách nhiệm hình sự sẽ được giải quyết theo các quy định của các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc theo các quy tắc và thực tiễn được công nhận trên trường quốc tế.

Trong trường hợp không có quy định trong các điều ước quốc tế hoặc không có tập quán quốc tế liên quan, việc giải quyết trách nhiệm hình sự sẽ được thực hiện thông qua các biện pháp ngoại giao.

Người hai quốc tịch phạm tội tại Việt Nam có bị dẫn độ về nước có quốc tịch còn lại không?

Theo Điều 32 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định:

“Điều 32. Dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án

1. Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.

2. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể:

a) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài dẫn độ cho Việt Nam người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án;

b) Thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.”

Theo đó, dẫn độ là quá trình chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc đã bị kết án hình sự trên lãnh thổ Việt Nam cho một nước khác, nhằm mục đích để nước đó tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thực hiện án phạt đối với người phạm tội. Cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam sẽ thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam, những người đã có hành vi phạm tội hoặc đã bị kết án hình sự, và bản án đã có hiệu lực, cho nước yêu cầu dẫn độ.

Tuy nhiên, không phải trong tất cả các trường hợp, Cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam bắt buộc phải dẫn độ theo yêu cầu của nước có yêu cầu dẫn độ. Điều này được quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp 2007 như sau: 

“Điều 35. Từ chối dẫn độ cho nước ngoài

1. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam;

…”

Theo quy định, nếu một người có hai quốc tịch phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và trong hai quốc tịch đó có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, thì vẫn được xem là công dân Việt Nam. Trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam có quyền từ chối dẫn độ người này cho nước ngoài theo quy định hiện hành.

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
950 ngày trước
Bộ luật Hình sự Việt Nam có áp dụng đối với trường hợp người mang hai quốc tịch phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam không?
Hiện nay diễn ra khá nhiều tình trạng cá nhân mang quốc tịch nước ngoài hay mang hai quốc tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Trong trường hợp này sẽ được xử lý như thế nào?Có được áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người hai quốc tịch?Theo Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:“Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.”Kết luận:Dựa vào quy định này, nếu người phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự của Việt Nam. Vì vậy, trong trường hợp có hai quốc tịch và trong đó có một quốc tịch là Việt Nam, thì đương nhiên Bộ luật Hình sự Việt Nam sẽ được áp dụng cho họ.Trong trường hợp người phạm tội thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, việc xử lý trách nhiệm hình sự sẽ tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế. Điều này có nghĩa là trách nhiệm hình sự sẽ được giải quyết theo các quy định của các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc theo các quy tắc và thực tiễn được công nhận trên trường quốc tế.Trong trường hợp không có quy định trong các điều ước quốc tế hoặc không có tập quán quốc tế liên quan, việc giải quyết trách nhiệm hình sự sẽ được thực hiện thông qua các biện pháp ngoại giao.Người hai quốc tịch phạm tội tại Việt Nam có bị dẫn độ về nước có quốc tịch còn lại không?Theo Điều 32 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định:“Điều 32. Dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án1. Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.2. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể:a) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài dẫn độ cho Việt Nam người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án;b) Thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.”Theo đó, dẫn độ là quá trình chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc đã bị kết án hình sự trên lãnh thổ Việt Nam cho một nước khác, nhằm mục đích để nước đó tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thực hiện án phạt đối với người phạm tội. Cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam sẽ thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam, những người đã có hành vi phạm tội hoặc đã bị kết án hình sự, và bản án đã có hiệu lực, cho nước yêu cầu dẫn độ.Tuy nhiên, không phải trong tất cả các trường hợp, Cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam bắt buộc phải dẫn độ theo yêu cầu của nước có yêu cầu dẫn độ. Điều này được quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp 2007 như sau: “Điều 35. Từ chối dẫn độ cho nước ngoài1. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam;…”Theo quy định, nếu một người có hai quốc tịch phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và trong hai quốc tịch đó có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, thì vẫn được xem là công dân Việt Nam. Trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam có quyền từ chối dẫn độ người này cho nước ngoài theo quy định hiện hành.