0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64d98b66e2ab7-tiền-lương.png

NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CHẬM LƯƠNG, NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ THỂ KIỆN?

Với nhiều lý do đa dạng, từ các yếu tố về khách quan cho đến các yếu tố liên quan đến quyết định cá nhân, thỉnh thoảng, người sử dụng lao động (NSDLĐ) có thể không thể thực hiện việc thanh toán lương cho người lao động (NLĐ) theo đúng thời hạn. Tình hình này thường xảy ra trong môi trường lao động và đôi khi NSDLĐ cần thêm thời gian để có thể tiến hành việc thanh toán lương cho NLĐ của họ. Tuy theo từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên, pháp luật đã quy định một khoảng thời gian tối đa để NSDLĐ có thể kéo dài việc thực hiện việc trả lương cho NLĐ. Vậy, khoảng thời gian kéo dài này là bao lâu?

Quy định của Bộ luật Lao động về thanh toán tiền lương

Theo Bộ luật Lao động năm 2019, NSDLĐ bắt buộc phải thực hiện việc thanh toán lương cho NLĐ một cách đầy đủ, trực tiếp và đúng hạn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp NLĐ không thể tiếp nhận lương trực tiếp, NSDLĐ có quyền trả lương cho người được ủy quyền hợp pháp bởi NLĐ.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng nghiêm cấm NSDLĐ hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết của NLĐ về việc sử dụng số tiền lương của họ. NSDLĐ cũng không được ép buộc NLĐ tiêu tiền lương vào việc mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ từ chính NSDLĐ hoặc từ các đơn vị khác dưới sự chỉ định của NSDLĐ.

Khi tiến hành việc thanh toán lương, NSDLĐ sẽ căn cứ vào mức lương đã thỏa thuận, khả năng làm việc của NLĐ và chất lượng công việc được thực hiện. Tức là việc trả lương sẽ phải tuân theo các điều khoản đã thỏa thuận trong Hợp đồng lao động.

Người lao động có được khởi kiện khi người sử dụng lao động chậm lương?

Trong trường hợp đặc biệt, theo quy định tại Khoản 4 Điều 97 của Bộ luật Lao động 2019:

"Nếu vì lý do không khả kháng mà NSDLĐ đã tìm mọi cách nhưng không thể thực hiện việc thanh toán lương đúng hạn, NSDLĐ chỉ được trễ lương tối đa 30 ngày. Tuy nhiên, nếu khoản thời gian trễ lương vượt quá 15 ngày, NSDLĐ phải đền bù cho NLĐ một số tiền ít nhất bằng số lãi phát sinh từ số tiền lương bị trễ tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng, được công bố tại ngân hàng nơi NSDLĐ mở tài khoản trả lương."

Dựa vào quy định trên, NLĐ cần quan tâm đến một số điểm quan trọng:

  • Thời hạn trễ lương tối đa là 30 ngày, tuy nhiên điều này chỉ áp dụng trong trường hợp NSDLĐ đã thử mọi biện pháp để giải quyết và không thể thực hiện việc trả lương đúng hạn.
  • Từ ngày thứ 15 trở đi kể từ khi lương trễ, NSDLĐ sẽ phải đền bù thêm số tiền lãi phát sinh từ số tiền lương bị trễ tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng.
  • Mức lãi phát sinh sẽ được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng tại ngân hàng mà NSDLĐ mở tài khoản trả lương.

Tóm lại, sau một thời gian kéo dài 30 ngày kể từ khi không nhận được lương, NLĐ có quyền khởi kiện NSDLĐ. Đối với doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ trả lương cho NLĐ, pháp luật quy định áp dụng mức phạt từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tùy thuộc vào số lượng NLĐ bị ảnh hưởng (Căn cứ Khoản 2 Điều 16 của Nghị định 28/2020/NĐ-CP). Điều này đồng nghĩa với việc NLĐ có quyền bảo vệ quyền lợi của mình và có cơ hội khởi kiện NSDLĐ nếu cần thiết.

Vì vậy, trong tình huống mà NSDLĐ không thể trả lương đúng hạn, NLĐ có quyền yêu cầu đền bù và thậm chí tiến hành khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật đã bảo đảm sự bình đẳng và công bằng cho cả NSDLĐ và NLĐ trong môi trường lao động.

Để biết thêm chi tiết về thủ tục pháp luật và các vấn đề liên quan, bạn có thể truy cập thủ tục pháp luật.

avatar
Đoàn Trà My
1151 ngày trước
NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CHẬM LƯƠNG, NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ THỂ KIỆN?
Với nhiều lý do đa dạng, từ các yếu tố về khách quan cho đến các yếu tố liên quan đến quyết định cá nhân, thỉnh thoảng, người sử dụng lao động (NSDLĐ) có thể không thể thực hiện việc thanh toán lương cho người lao động (NLĐ) theo đúng thời hạn. Tình hình này thường xảy ra trong môi trường lao động và đôi khi NSDLĐ cần thêm thời gian để có thể tiến hành việc thanh toán lương cho NLĐ của họ. Tuy theo từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên, pháp luật đã quy định một khoảng thời gian tối đa để NSDLĐ có thể kéo dài việc thực hiện việc trả lương cho NLĐ. Vậy, khoảng thời gian kéo dài này là bao lâu?Quy định của Bộ luật Lao động về thanh toán tiền lươngTheo Bộ luật Lao động năm 2019, NSDLĐ bắt buộc phải thực hiện việc thanh toán lương cho NLĐ một cách đầy đủ, trực tiếp và đúng hạn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp NLĐ không thể tiếp nhận lương trực tiếp, NSDLĐ có quyền trả lương cho người được ủy quyền hợp pháp bởi NLĐ.Bên cạnh đó, pháp luật cũng nghiêm cấm NSDLĐ hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết của NLĐ về việc sử dụng số tiền lương của họ. NSDLĐ cũng không được ép buộc NLĐ tiêu tiền lương vào việc mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ từ chính NSDLĐ hoặc từ các đơn vị khác dưới sự chỉ định của NSDLĐ.Khi tiến hành việc thanh toán lương, NSDLĐ sẽ căn cứ vào mức lương đã thỏa thuận, khả năng làm việc của NLĐ và chất lượng công việc được thực hiện. Tức là việc trả lương sẽ phải tuân theo các điều khoản đã thỏa thuận trong Hợp đồng lao động.Người lao động có được khởi kiện khi người sử dụng lao động chậm lương?Trong trường hợp đặc biệt, theo quy định tại Khoản 4 Điều 97 của Bộ luật Lao động 2019:"Nếu vì lý do không khả kháng mà NSDLĐ đã tìm mọi cách nhưng không thể thực hiện việc thanh toán lương đúng hạn, NSDLĐ chỉ được trễ lương tối đa 30 ngày. Tuy nhiên, nếu khoản thời gian trễ lương vượt quá 15 ngày, NSDLĐ phải đền bù cho NLĐ một số tiền ít nhất bằng số lãi phát sinh từ số tiền lương bị trễ tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng, được công bố tại ngân hàng nơi NSDLĐ mở tài khoản trả lương."Dựa vào quy định trên, NLĐ cần quan tâm đến một số điểm quan trọng:Thời hạn trễ lương tối đa là 30 ngày, tuy nhiên điều này chỉ áp dụng trong trường hợp NSDLĐ đã thử mọi biện pháp để giải quyết và không thể thực hiện việc trả lương đúng hạn.Từ ngày thứ 15 trở đi kể từ khi lương trễ, NSDLĐ sẽ phải đền bù thêm số tiền lãi phát sinh từ số tiền lương bị trễ tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng.Mức lãi phát sinh sẽ được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng tại ngân hàng mà NSDLĐ mở tài khoản trả lương.Tóm lại, sau một thời gian kéo dài 30 ngày kể từ khi không nhận được lương, NLĐ có quyền khởi kiện NSDLĐ. Đối với doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ trả lương cho NLĐ, pháp luật quy định áp dụng mức phạt từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tùy thuộc vào số lượng NLĐ bị ảnh hưởng (Căn cứ Khoản 2 Điều 16 của Nghị định 28/2020/NĐ-CP). Điều này đồng nghĩa với việc NLĐ có quyền bảo vệ quyền lợi của mình và có cơ hội khởi kiện NSDLĐ nếu cần thiết.Vì vậy, trong tình huống mà NSDLĐ không thể trả lương đúng hạn, NLĐ có quyền yêu cầu đền bù và thậm chí tiến hành khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật đã bảo đảm sự bình đẳng và công bằng cho cả NSDLĐ và NLĐ trong môi trường lao động.Để biết thêm chi tiết về thủ tục pháp luật và các vấn đề liên quan, bạn có thể truy cập thủ tục pháp luật.