0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64d9a020f3f7c-thur--40-.png

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CHO NGƯỜI ĐI LÀM KHÔNG KÝ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Một vấn đề thường được nhiều người quan tâm, đó là việc làm mà không ký hợp đồng lao động. Liệu điều này có phù hợp với pháp luật và khi không có hợp đồng, người lao động có cần phải đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không?

1.Người đi làm không cần ký hợp đồng lao động có được không?

Theo Điều 14 Bộ luật Lao động 2019, việc ký kết hợp đồng lao động có thể thực hiện qua ba hình thức:

Hợp đồng lao động bằng văn bản: Đây là hình thức phổ biến nhất, trong đó hợp đồng sẽ được làm hai bản - mỗi bên giữ một bản. Tuy nhiên, hợp đồng có thể ký kết bằng lời nói trong một số trường hợp cụ thể.

Hợp đồng lao động thông qua điện tử: Sử dụng phương tiện điện tử, như email hoặc các hình thức giao dịch điện tử khác. Hợp đồng này có giá trị như hợp đồng bằng văn bản truyền thống.

Hợp đồng lao động bằng lời nói: Dành cho các công việc có thời hạn dưới một tháng. Tuy nhiên, có một số ngoại lệ:

  • Với công việc theo mùa hoặc thời hạn dưới 12 tháng dành cho nhóm người lao động từ 18 tuổi trở lên, có thể ủy quyền cho một thành viên trong nhóm để ký hợp đồng lao động bằng văn bản.
  • Hợp đồng bằng văn bản là bắt buộc đối với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của họ.
  • Đối với lao động là người giúp việc gia đình, hợp đồng bằng văn bản cũng là một yêu cầu.

Như vây, việc đi làm không cần ký hợp đồng lao động là khả thi, nhưng chỉ áp dụng cho công việc có thời hạn dưới một tháng và không thuộc các trường hợp đặc biệt đã nêu trên.

2. Người đi làm không ký hợp đồng lao động có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?

Thuế TNCN là một trách nhiệm của mỗi công dân và được tính dựa trên thu nhập cá nhân mà họ kiếm được. Dù có hợp đồng lao động hay không, nếu bạn có thu nhập từ việc làm, bạn vẫn có trách nhiệm đóng thuế TNCN. Tuy nhiên, việc không có hợp đồng có thể gây khó khăn trong việc xác định và khai báo thu nhập chính xác. Điều này có thể dẫn đến rủi ro về pháp lý và sự không chắc chắn trong việc đóng thuế.

Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC, khi một tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập cho một người cư trú mà không có hợp đồng lao động, hoặc có hợp đồng lao động dưới ba tháng, và tổng thu nhập trả cho lần đó từ hai triệu đồng trở lên, thì họ cần phải khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi thanh toán cho người nhận thu nhập.

Tuy nhiên, nếu cá nhân đó chỉ có một nguồn thu nhập và sau khi trừ gia cảnh, tổng thu nhập chịu thuế dưới mức phải nộp thuế, họ có thể cam kết (theo mẫu đi kèm) với tổ chức trả thu nhập. Dựa vào cam kết này, tổ chức trả thu nhập sẽ tạm thời không khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, cuối năm, tổ chức vẫn phải tổng hợp và báo cáo thu nhập của những người chưa đến mức phải khấu trừ thuế cho cơ quan thuế.

Mọi trách nhiệm về cam kết thuộc về cá nhân cam kết. Trường hợp phát hiện sự gian lận sẽ được xử lý theo Luật quản lý thuế. Đồng thời, cá nhân cam kết cũng cần đăng ký thuế và phải có mã số thuế.

Vì vậy, nếu một người lao động nhận thu nhập trên 2.000.000 đồng mà không có hợp đồng lao động, họ sẽ bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân, còn nếu dưới 2.000.000 đồng thì sẽ không bị khấu trừ.

3. Quy định về chứng từ khấu trừ thuế đối với người đi làm không ký hợp đồng lao động như thế nào?

Quy Định Về Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC:

Điều 25 - Khoản 2: Chứng Từ Khấu Trừ

Chứng từ khấu trừ cho cá nhân:

  • Tổ chức và cá nhân trả thu nhập, sau khi đã khấu trừ thuế theo hướng dẫn ở khoản 1, phải cấp chứng từ khấu trừ thuế nếu người nhận thu nhập (cá nhân bị khấu trừ) yêu cầu. Tuy nhiên, nếu cá nhân ủy quyền cho một bên khác quyết toán thuế thì không cần phải cấp chứng từ khấu trừ.

Chứng từ khấu trừ dựa trên thời gian hợp đồng:

a. Cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng: - Cá nhân có thể yêu cầu tổ chức hoặc cá nhân trả tiền cho mình cung cấp chứng từ khấu trừ cho mỗi lần khấu trừ thuế. - Hoặc, cá nhân cũng có quyền yêu cầu một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế cụ thể.

b. Cá nhân ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên: - Đối với những cá nhân ký hợp đồng lao động có thời gian từ 3 tháng trở lên, tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập chỉ cần cung cấp một chứng từ khấu trừ cho mỗi kỳ tính thuế.

Kết luận:

 Việc làm mà không có hợp đồng lao động không chỉ gây rủi ro về pháp lý mà còn làm mờ ám việc đóng thuế TNCN. Để đảm bảo quyền lợi và tránh các rủi ro tiềm ẩn, cả người lao động và nhà tuyển dụng đều nên tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hợp đồng lao động và thuế thu nhập cá nhân.

avatar
Nguyễn Thị Ngọc Lan
1151 ngày trước
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CHO NGƯỜI ĐI LÀM KHÔNG KÝ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Một vấn đề thường được nhiều người quan tâm, đó là việc làm mà không ký hợp đồng lao động. Liệu điều này có phù hợp với pháp luật và khi không có hợp đồng, người lao động có cần phải đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không?1.Người đi làm không cần ký hợp đồng lao động có được không?Theo Điều 14 Bộ luật Lao động 2019, việc ký kết hợp đồng lao động có thể thực hiện qua ba hình thức:Hợp đồng lao động bằng văn bản: Đây là hình thức phổ biến nhất, trong đó hợp đồng sẽ được làm hai bản - mỗi bên giữ một bản. Tuy nhiên, hợp đồng có thể ký kết bằng lời nói trong một số trường hợp cụ thể.Hợp đồng lao động thông qua điện tử: Sử dụng phương tiện điện tử, như email hoặc các hình thức giao dịch điện tử khác. Hợp đồng này có giá trị như hợp đồng bằng văn bản truyền thống.Hợp đồng lao động bằng lời nói: Dành cho các công việc có thời hạn dưới một tháng. Tuy nhiên, có một số ngoại lệ:Với công việc theo mùa hoặc thời hạn dưới 12 tháng dành cho nhóm người lao động từ 18 tuổi trở lên, có thể ủy quyền cho một thành viên trong nhóm để ký hợp đồng lao động bằng văn bản.Hợp đồng bằng văn bản là bắt buộc đối với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của họ.Đối với lao động là người giúp việc gia đình, hợp đồng bằng văn bản cũng là một yêu cầu.Như vây, việc đi làm không cần ký hợp đồng lao động là khả thi, nhưng chỉ áp dụng cho công việc có thời hạn dưới một tháng và không thuộc các trường hợp đặc biệt đã nêu trên.2. Người đi làm không ký hợp đồng lao động có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?Thuế TNCN là một trách nhiệm của mỗi công dân và được tính dựa trên thu nhập cá nhân mà họ kiếm được. Dù có hợp đồng lao động hay không, nếu bạn có thu nhập từ việc làm, bạn vẫn có trách nhiệm đóng thuế TNCN. Tuy nhiên, việc không có hợp đồng có thể gây khó khăn trong việc xác định và khai báo thu nhập chính xác. Điều này có thể dẫn đến rủi ro về pháp lý và sự không chắc chắn trong việc đóng thuế.Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC, khi một tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập cho một người cư trú mà không có hợp đồng lao động, hoặc có hợp đồng lao động dưới ba tháng, và tổng thu nhập trả cho lần đó từ hai triệu đồng trở lên, thì họ cần phải khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi thanh toán cho người nhận thu nhập.Tuy nhiên, nếu cá nhân đó chỉ có một nguồn thu nhập và sau khi trừ gia cảnh, tổng thu nhập chịu thuế dưới mức phải nộp thuế, họ có thể cam kết (theo mẫu đi kèm) với tổ chức trả thu nhập. Dựa vào cam kết này, tổ chức trả thu nhập sẽ tạm thời không khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, cuối năm, tổ chức vẫn phải tổng hợp và báo cáo thu nhập của những người chưa đến mức phải khấu trừ thuế cho cơ quan thuế.Mọi trách nhiệm về cam kết thuộc về cá nhân cam kết. Trường hợp phát hiện sự gian lận sẽ được xử lý theo Luật quản lý thuế. Đồng thời, cá nhân cam kết cũng cần đăng ký thuế và phải có mã số thuế.Vì vậy, nếu một người lao động nhận thu nhập trên 2.000.000 đồng mà không có hợp đồng lao động, họ sẽ bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân, còn nếu dưới 2.000.000 đồng thì sẽ không bị khấu trừ.3. Quy định về chứng từ khấu trừ thuế đối với người đi làm không ký hợp đồng lao động như thế nào?Quy Định Về Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC:Điều 25 - Khoản 2: Chứng Từ Khấu TrừChứng từ khấu trừ cho cá nhân:Tổ chức và cá nhân trả thu nhập, sau khi đã khấu trừ thuế theo hướng dẫn ở khoản 1, phải cấp chứng từ khấu trừ thuế nếu người nhận thu nhập (cá nhân bị khấu trừ) yêu cầu. Tuy nhiên, nếu cá nhân ủy quyền cho một bên khác quyết toán thuế thì không cần phải cấp chứng từ khấu trừ.Chứng từ khấu trừ dựa trên thời gian hợp đồng:a. Cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng: - Cá nhân có thể yêu cầu tổ chức hoặc cá nhân trả tiền cho mình cung cấp chứng từ khấu trừ cho mỗi lần khấu trừ thuế. - Hoặc, cá nhân cũng có quyền yêu cầu một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế cụ thể.b. Cá nhân ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên: - Đối với những cá nhân ký hợp đồng lao động có thời gian từ 3 tháng trở lên, tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập chỉ cần cung cấp một chứng từ khấu trừ cho mỗi kỳ tính thuế.Kết luận: Việc làm mà không có hợp đồng lao động không chỉ gây rủi ro về pháp lý mà còn làm mờ ám việc đóng thuế TNCN. Để đảm bảo quyền lợi và tránh các rủi ro tiềm ẩn, cả người lao động và nhà tuyển dụng đều nên tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hợp đồng lao động và thuế thu nhập cá nhân.