0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e211232bf99-đảm-bảo-an-toàn-đối-với-hoạt-động-kinh-doanh-của-tổ-chức-tài-chính-vi-mô.jpg

Những giới hạn nhằm đảm bảo an toàn đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô

3.5. Những giới hạn nhằm đảm bảo an toàn đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô

Với tính cách là một loại hình TCTD, trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh tổ chức TCVM cũng phải đảm bảo một số những chỉ tiêu nhất định nhằm đảm bảo an toàn cho tổ chức. Những hạn chế này được quy định bởi Luật các TCTD 2010 và Thông tư 07/2009/TT-NHNN ngày 17/04/2009 của Thống đốc NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ (sau đây gọi tắt là Thông tư 07). Cụ thể như sau:

Thứ nhất, những trường hợp không được cấp tín dụng.

Khác với NH và các tổ chức tín dụng phi NH, tổ chức TCVM không bị cấm cấp tín dụng cho các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD 2010 (người quản lý, điều hành và kiểm soát tổ chức TCVM và những người có liên quan của các chủ thể này; thành viên góp vốn của tổ chức TCVM) tuy nhiên, cũng theo quy định tại Điều 126 Luật các TCTD 2010 thì vẫn có những hành vi cấp tín dụng có liên quan đến các đối tượng nêu trên bị cấm mà tổ chức TCVM buộc phải tuân thủ như sau:

Một là, tổ chức TCVM không được cấp tín dụng cho khác hàng trên cơ sở bảo đảm của các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126;

Hai là, tổ chức TCVM không được đứng ra bảo đảm cho các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126 vay vốn tại các TCTD khác dưới bất cứ hình thức nào;

Ba là, tổ chức TCVM không được cho vay để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp.

Thứ hai, những trường hợp hạn chế cấp tín dụng

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 127 thì tổ chức TCVM không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho các chủ thể sau đây:

Một là, tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức TCVM; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức TCVM;

Hai là, kế toán trưởng của tổ chức TCVM;

Ba là, doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật các TCTD 2010 sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;
Bốn là, người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng;

Bên cạnh đó, về mặt thủ tục, việc cấp tín dụng cho các chủ thể này phải được quyết định bởi HĐTV và phải thông báo công khai trong tổ chức TCVM đồng thời phải đảm bảo, tổng dư nợ của các chủ thể nêu trên không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức TCVM.

Có thể thấy, quy định này được đưa ra nhằm đảm bảo tính khách quan trong việc xét duyệt cấp tín dụng đối với khách hàng qua đó góp phần đảm bảo an toàn vốn cũng như an toàn tổ chức cho tổ chức TCVM. Tuy nhiên, nhìn vào các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng, chúng ta không thấy các đối tượng đã được nêu tại Khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD – những đối tượng có liên quan trực tiếp đến tổ chức TCVM. Điều này có nghĩa là các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD hoàn toàn có thể được vay không có bảo đảm bằng tài sản. Rõ ràng, chúng ta thấy đang có sự bất cập của các quy định hiện hành đối với hai vấn đề quy định đối tượng cấm cấp tín dụng (nhưng miễn trừ với tổ chức TCVM) và đối tượng hạn chế cấp tín dụng (không miễn trừ đối với tổ chức TCVM). Chúng tôi cho rằng, để đảm bảo sự hợp lý cần thiết, nhà làm luật cần phải có cách tiếp cận đúng đắn hơn khi đưa ra các quy định này dành cho các tổ chức TCVM.

Thứ ba, giới hạn cấp tín dụng

Khoản 1 và 3 Điều 128 đưa ra giới hạn tối đa cho tổng dư nợ của một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có tổ chức TCVM. Dư nợ nêu trên không bao gồm các khoản cho vay từ nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là TCTD khác. Tuy nhiên, giới hạn này được cụ thể hóa tại Điều 7 Thông tư 07 như sau:

Tổng dư nợ của một khách hàng TCVM (cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ) không được vượt quá ba mươi (30) triệu đồng;

Tổng dư nợ của một chủ thể không phải là khách hàng TCVM không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức TCVM;

Tổng dư nợ của nhóm khách hàng liên quan không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức TCVM.

Cần lưu ý, các giới hạn này cũng bị loại trừ trong những trường hợp đặc biệt quy định tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư 07. Các trường hợp này bao gồm: (i) Các khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ Việt Nam, của các tổ chức, cá nhân mà tổ chức TCVM không phải trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay; (ii) Các khoản cho vay có bảo đảm toàn bộ bằng tiền gửi của khách hàng tại chính tổ chức TCVM đó; (iii) Các khoản cho vay các TCTD khác có thời hạn dưới 1 năm; (iv) Các khoản cho vay có bảo đảm bằng trái phiếu Chính phủ Việt Nam, trái phiếu được Chính phủ Việt Nam bảo lãnh.

Như vậy, đối với vấn đề này, Thông tư 07 đang có những quy định cụ thể hơn và ”khắt khe” hơn so với Luật các TCTD 2010. Mặc dù cũng như Thông tư 02, văn bản này được ban hành vào thời điểm trước khi Luật các TCTD 2010 được ban hành song ở thời điểm hiện tại, văn bản này vẫn đang được áp dụng mà chưa hề hết hiệu lực thi hành. Trên thực tế, dù có quy định khác nhau song những quy định tại Thông tư 07 cũng không mâu thuẫn với Luật các TCTD 2010 cho nên hiện nay các tổ chức TCVM đang phải thực hiện theo mức giới hạn được nêu tại Thông tư 07 chứ không phải theo Luật các TCTD 2010.

Thứ tư, về tỷ lệ đảm bảo an toàn.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 130 Luật các TCTD 2010 thì trong quá trình hoạt động, tổ chức TCVM phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn bao gồm: (i) Tỷ lệ khả năng chi trả và (ii) Tỷ lệ an toàn vốn. Trên cơ sở quy định tại Khoản 4 Điều này, Thông tư 07 quy định các tỷ lệ này cụ thể như sau:

Đối với tỷ lệ về khả năng chi trả, tổ chức TCVM phải duy trì mức không nhỏ hơn 20%;

Đối với tỷ lệ an toàn vốn, tổ chức TCVM phải duy trì tối thiểu 10% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro.

Trên đây là những giới hạn mà pháp luật hiện hành đặt ra đối với các hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động này và qua đó là cho sự an toàn của tổ chức. Rất dễ để nhận thấy, những quy định này hiện nay mới chỉ là những sự tiếp cận bước đầu trong việc tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay. Dù rằng đâu đó vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định song cũng cần phải thừa nhận rằng, TCVM Việt Nam nói chung và các tổ chức TCVM nói riêng đang dần nhận được nhiều hơn sự quan tâm từ phía pháp luật cũng như cơ quan công quyền. Nếu sự quan tâm này được tiếp cận một cách đúng đắn và hợp lý chắc chắn sẽ thức đẩy ngành TCVM Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong một tương lai không xa.

Theo: Nguyễn Thái Hà

Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
937 ngày trước
Những giới hạn nhằm đảm bảo an toàn đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô
3.5. Những giới hạn nhằm đảm bảo an toàn đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi môVới tính cách là một loại hình TCTD, trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh tổ chức TCVM cũng phải đảm bảo một số những chỉ tiêu nhất định nhằm đảm bảo an toàn cho tổ chức. Những hạn chế này được quy định bởi Luật các TCTD 2010 và Thông tư 07/2009/TT-NHNN ngày 17/04/2009 của Thống đốc NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ (sau đây gọi tắt là Thông tư 07). Cụ thể như sau:Thứ nhất, những trường hợp không được cấp tín dụng.Khác với NH và các tổ chức tín dụng phi NH, tổ chức TCVM không bị cấm cấp tín dụng cho các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD 2010 (người quản lý, điều hành và kiểm soát tổ chức TCVM và những người có liên quan của các chủ thể này; thành viên góp vốn của tổ chức TCVM) tuy nhiên, cũng theo quy định tại Điều 126 Luật các TCTD 2010 thì vẫn có những hành vi cấp tín dụng có liên quan đến các đối tượng nêu trên bị cấm mà tổ chức TCVM buộc phải tuân thủ như sau:Một là, tổ chức TCVM không được cấp tín dụng cho khác hàng trên cơ sở bảo đảm của các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126;Hai là, tổ chức TCVM không được đứng ra bảo đảm cho các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126 vay vốn tại các TCTD khác dưới bất cứ hình thức nào;Ba là, tổ chức TCVM không được cho vay để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp.Thứ hai, những trường hợp hạn chế cấp tín dụngTheo quy định tại Khoản 1 Điều 127 thì tổ chức TCVM không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho các chủ thể sau đây:Một là, tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức TCVM; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức TCVM;Hai là, kế toán trưởng của tổ chức TCVM;Ba là, doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật các TCTD 2010 sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;Bốn là, người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng;Bên cạnh đó, về mặt thủ tục, việc cấp tín dụng cho các chủ thể này phải được quyết định bởi HĐTV và phải thông báo công khai trong tổ chức TCVM đồng thời phải đảm bảo, tổng dư nợ của các chủ thể nêu trên không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức TCVM.Có thể thấy, quy định này được đưa ra nhằm đảm bảo tính khách quan trong việc xét duyệt cấp tín dụng đối với khách hàng qua đó góp phần đảm bảo an toàn vốn cũng như an toàn tổ chức cho tổ chức TCVM. Tuy nhiên, nhìn vào các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng, chúng ta không thấy các đối tượng đã được nêu tại Khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD – những đối tượng có liên quan trực tiếp đến tổ chức TCVM. Điều này có nghĩa là các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD hoàn toàn có thể được vay không có bảo đảm bằng tài sản. Rõ ràng, chúng ta thấy đang có sự bất cập của các quy định hiện hành đối với hai vấn đề quy định đối tượng cấm cấp tín dụng (nhưng miễn trừ với tổ chức TCVM) và đối tượng hạn chế cấp tín dụng (không miễn trừ đối với tổ chức TCVM). Chúng tôi cho rằng, để đảm bảo sự hợp lý cần thiết, nhà làm luật cần phải có cách tiếp cận đúng đắn hơn khi đưa ra các quy định này dành cho các tổ chức TCVM.Thứ ba, giới hạn cấp tín dụngKhoản 1 và 3 Điều 128 đưa ra giới hạn tối đa cho tổng dư nợ của một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có tổ chức TCVM. Dư nợ nêu trên không bao gồm các khoản cho vay từ nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là TCTD khác. Tuy nhiên, giới hạn này được cụ thể hóa tại Điều 7 Thông tư 07 như sau:Tổng dư nợ của một khách hàng TCVM (cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ) không được vượt quá ba mươi (30) triệu đồng;Tổng dư nợ của một chủ thể không phải là khách hàng TCVM không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức TCVM;Tổng dư nợ của nhóm khách hàng liên quan không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức TCVM.Cần lưu ý, các giới hạn này cũng bị loại trừ trong những trường hợp đặc biệt quy định tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư 07. Các trường hợp này bao gồm: (i) Các khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ Việt Nam, của các tổ chức, cá nhân mà tổ chức TCVM không phải trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay; (ii) Các khoản cho vay có bảo đảm toàn bộ bằng tiền gửi của khách hàng tại chính tổ chức TCVM đó; (iii) Các khoản cho vay các TCTD khác có thời hạn dưới 1 năm; (iv) Các khoản cho vay có bảo đảm bằng trái phiếu Chính phủ Việt Nam, trái phiếu được Chính phủ Việt Nam bảo lãnh.Như vậy, đối với vấn đề này, Thông tư 07 đang có những quy định cụ thể hơn và ”khắt khe” hơn so với Luật các TCTD 2010. Mặc dù cũng như Thông tư 02, văn bản này được ban hành vào thời điểm trước khi Luật các TCTD 2010 được ban hành song ở thời điểm hiện tại, văn bản này vẫn đang được áp dụng mà chưa hề hết hiệu lực thi hành. Trên thực tế, dù có quy định khác nhau song những quy định tại Thông tư 07 cũng không mâu thuẫn với Luật các TCTD 2010 cho nên hiện nay các tổ chức TCVM đang phải thực hiện theo mức giới hạn được nêu tại Thông tư 07 chứ không phải theo Luật các TCTD 2010.Thứ tư, về tỷ lệ đảm bảo an toàn.Theo quy định tại Khoản 1 Điều 130 Luật các TCTD 2010 thì trong quá trình hoạt động, tổ chức TCVM phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn bao gồm: (i) Tỷ lệ khả năng chi trả và (ii) Tỷ lệ an toàn vốn. Trên cơ sở quy định tại Khoản 4 Điều này, Thông tư 07 quy định các tỷ lệ này cụ thể như sau:Đối với tỷ lệ về khả năng chi trả, tổ chức TCVM phải duy trì mức không nhỏ hơn 20%;Đối với tỷ lệ an toàn vốn, tổ chức TCVM phải duy trì tối thiểu 10% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro.Trên đây là những giới hạn mà pháp luật hiện hành đặt ra đối với các hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động này và qua đó là cho sự an toàn của tổ chức. Rất dễ để nhận thấy, những quy định này hiện nay mới chỉ là những sự tiếp cận bước đầu trong việc tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay. Dù rằng đâu đó vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định song cũng cần phải thừa nhận rằng, TCVM Việt Nam nói chung và các tổ chức TCVM nói riêng đang dần nhận được nhiều hơn sự quan tâm từ phía pháp luật cũng như cơ quan công quyền. Nếu sự quan tâm này được tiếp cận một cách đúng đắn và hợp lý chắc chắn sẽ thức đẩy ngành TCVM Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong một tương lai không xa.Theo: Nguyễn Thái HàLink luận án:  Tại đây