0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e21250f12a3-Pháp-luật-tố-tụng-hình-sự-Đức-về-biện-pháp-tạm-giam.jpg

Pháp luật tố tụng hình sự Đức về biện pháp tạm giam

Tóm tắt: Bài viết so sánh một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức về biện pháp tạm giam được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Từ khóa: Tạm giam, vụ án hình sự, pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức.

Abstract: This article provides comparison of a number of provisions of the criminal procedure under Law of Vietnam and the one in law of the Federal Republic of Germany on detention measures, which are applied in the process of resolving criminal cases. Thereby, it is to propose a number of recommendations to further improve the criminal procedure law of Vietnam.

Keywwords: Detention, criminal case, criminal procedure, the Federal Republic of Gemany

1.Pháp luật tố tụng hình sự Đức về biện pháp tạm giam

Ở Đức, biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự (TTHS) và được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Đức (Bộ luật TTHS) năm 1987 (sửa đổi năm 2019). Đây cũng là biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế, được áp dụng bởi tòa án có thẩm quyền từ những giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án, từ khi người bị buộc tội tham gia tố tụng với tư cách là người bị tình nghi thực hiện tội phạm. Là một quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng, Cộng hòa Liên bang Đức hướng đến việc đảm bảo tối đa quyền của người bị buộc tội trong quá trình giải quyết vụ án.

1.1. Đối tượng áp dụng và hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam

Đối tượng thứ nhất có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam (Remand detention) là người bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm (strongly suspected of the offence) và phải có căn cứ để bắt giữ. Tuy nhiên, lệnh tạm giam sẽ không được đặt ra nếu không tương xứng với tính chất của vụ án hoặc hình phạt hoặc các biện pháp cải tạo và phòng ngừa (quyết định về án treo và cảnh cáo, hoãn thi hành phần còn lại của bản án phạt tù, hoãn thi hành án phạt tù)[1] dự kiến được áp dụng[2]. Hai đối tượng kế tiếp có thể áp dụng biện pháp này là bị can – người đã có quyết định truy tố (indicted accused) và bị cáo – người đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử (defendant)[3]. Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS Đức cũng quy định các trường hợp hạn chế tạm giam, theo đó, những người không thỏa mãn các điều kiện hạn chế tạm giam sẽ không bị áp dụng biện pháp này trừ một số trường hợp luật định. Cụ thể, những đối tượng bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo không bị áp dụng biện pháp tạm giam là những người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng (các hành vi trái pháp luật với mức hình phạt thấp hơn một năm tù hoặc hình phạt tiền)[4] đến 6 tháng tù hoặc phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày (daily units). Tuy nhiên, hạn chế này không áp dụng đối với trường hợp khi bị can trước đó đã trốn tránh pháp luật hoặc đã chuẩn bị cho việc bỏ trốn; hoặc bị can không có nơi ở cố định hoặc nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ theo quy định của Luật này, hoặc bị can không thể khai báo danh tính của mình[5].

1.2. Căn cứ tạm giam

Theo quy định của Điều 112 Bộ luật TTHS Đức, lệnh tạm giam có thể được áp dụng đối với người bị buộc tội nếu có đủ 2 điều kiện, một là có chứng cứ để nghi ngờ người đó phạm tội, và hai là có căn cứ để bắt giữ (ground for arrest). Theo đó, dựa vào những tình tiết cụ thể của vụ án và hành vi của người bị buộc tội, những căn cứ để bắt giữ theo quy định của luật có thể bao gồm một số căn cứ sau đây, có khả năng gây khó khăn cho việc xác định sự thật vụ án, đặc biệt là vấn đề thu thập chứng cứ:

  • Có căn cứ xác định người bị buộc tội đã bỏ trốn hoặc có nguy cơ bỏ trốn (risk of flight);
  • Có căn cứ xác định người này sẽ phá huỷ, thay đổi, di chuyển, giấu, hoặc làm giả chứng cứ; tác động không đúng đắn tới đồng phạm, nhân chứng, chuyên gia, hoặc khiến người khác thực hiện những hành vi này.

Tuy nhiên, dù không có căn cứ bắt giữ nhưng người bị buộc tội vẫn có thể bị tạm giam khi rơi vào các trường hợp: (1) Có căn cứ rõ ràng để nghi ngờ người đó phạm tội tại Điều 308 Bộ luật Hình sự (BLHS) Đức (khoản 1, 2, 3 – Tội phạm về cháy nổ) nhằm thực hiện các hành vi diệt chủng tại điểm 1 khoản 1 Điều 6 Bộ luật những tội phạm chống lại Luật quốc tế (Code of Crimes against International Law – CCAIL); hoặc (2) Phạm tội tại khoản 1, 2 Điều 129a, khoản 1 Điều 129b (liên quan đến việc thành lập các tổ chức khủng bố), Điều 211 (Tội giết người trong những trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự), Điều 212 (Tội giết người không thuộc các trường hợp tại Điều 211), Điều 226 (Tội gây ra những tổn thương trên cơ thể), Điều 306b, 306c BLHS Đức (liên quan đến tội làm hỏa hoạn). Theo đó, trong lệnh bắt cũng phải ghi rõ các tình tiết dẫn tới sự nghi ngờ về tội phạm và căn cứ cho việc bắt, trừ khi việc đó ảnh hưởng tới an ninh quốc gia[6].

Một số căn cứ khác cho việc bắt giữ cũng được quy định tại Điều 112a Bộ luật TTHS Đức khi có căn cứ xác đáng để nghi ngờ rằng bị can sẽ thực hiện một số tội phạm được liệt kê tại điều luật này và nếu có căn cứ cho thấy khả năng trước khi có bản án kết tội, người đó sẽ thực hiện tiếp những tội phạm nghiêm trọng tương tự hoặc sẽ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, và việc tạm giam là cần thiết để ngăn ngừa sự nguy hiểm sắp xảy ra. Tuy nhiên, những căn cứ bắt giữ tại Điều 112 sẽ được ưu tiên áp dụng trước. Như đã đề cập, một số căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 113 Bộ luật TTHS Đức cũng có thể được áp dụng đối với những đối tượng phạm tội ít nghiêm trọng đến 6 tháng tù hay phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày.

Ngoài ra, theo quy định của khoản 4 Điều 116 Bộ luật TTHS Đức, sau khi có quyết định đình chỉ thi hành lệnh bắt nhưng người bị buộc tội vi phạm một số căn cứ thì lệnh bắt sẽ được áp dụng lại kèm theo việc tạm giam. Những vi phạm đó có thể xuất phát từ việc bị can vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ và các hạn chế được áp dụng đối với họ; bị can chuẩn bị bỏ trốn, vắng mặt không có lý do chính đáng khi được triệu tập, hoặc có biểu hiện khác khiến cơ quan có thẩm quyền mất niềm tin vào họ; hoặc có những tình tiết mới khiến cho việc bắt là cần thiết.
Theo: Ths. Nguyễn Phương Thảo và Ths. Tăng Trần Quỳnh Phương 

Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
928 ngày trước
Pháp luật tố tụng hình sự Đức về biện pháp tạm giam
Tóm tắt: Bài viết so sánh một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức về biện pháp tạm giam được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.Từ khóa: Tạm giam, vụ án hình sự, pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức.Abstract: This article provides comparison of a number of provisions of the criminal procedure under Law of Vietnam and the one in law of the Federal Republic of Germany on detention measures, which are applied in the process of resolving criminal cases. Thereby, it is to propose a number of recommendations to further improve the criminal procedure law of Vietnam.Keywwords: Detention, criminal case, criminal procedure, the Federal Republic of Gemany1.Pháp luật tố tụng hình sự Đức về biện pháp tạm giamỞ Đức, biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự (TTHS) và được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Đức (Bộ luật TTHS) năm 1987 (sửa đổi năm 2019). Đây cũng là biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế, được áp dụng bởi tòa án có thẩm quyền từ những giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án, từ khi người bị buộc tội tham gia tố tụng với tư cách là người bị tình nghi thực hiện tội phạm. Là một quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng, Cộng hòa Liên bang Đức hướng đến việc đảm bảo tối đa quyền của người bị buộc tội trong quá trình giải quyết vụ án.1.1. Đối tượng áp dụng và hạn chế áp dụng biện pháp tạm giamĐối tượng thứ nhất có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam (Remand detention) là người bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm (strongly suspected of the offence) và phải có căn cứ để bắt giữ. Tuy nhiên, lệnh tạm giam sẽ không được đặt ra nếu không tương xứng với tính chất của vụ án hoặc hình phạt hoặc các biện pháp cải tạo và phòng ngừa (quyết định về án treo và cảnh cáo, hoãn thi hành phần còn lại của bản án phạt tù, hoãn thi hành án phạt tù)[1] dự kiến được áp dụng[2]. Hai đối tượng kế tiếp có thể áp dụng biện pháp này là bị can – người đã có quyết định truy tố (indicted accused) và bị cáo – người đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử (defendant)[3]. Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS Đức cũng quy định các trường hợp hạn chế tạm giam, theo đó, những người không thỏa mãn các điều kiện hạn chế tạm giam sẽ không bị áp dụng biện pháp này trừ một số trường hợp luật định. Cụ thể, những đối tượng bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo không bị áp dụng biện pháp tạm giam là những người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng (các hành vi trái pháp luật với mức hình phạt thấp hơn một năm tù hoặc hình phạt tiền)[4] đến 6 tháng tù hoặc phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày (daily units). Tuy nhiên, hạn chế này không áp dụng đối với trường hợp khi bị can trước đó đã trốn tránh pháp luật hoặc đã chuẩn bị cho việc bỏ trốn; hoặc bị can không có nơi ở cố định hoặc nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ theo quy định của Luật này, hoặc bị can không thể khai báo danh tính của mình[5].1.2. Căn cứ tạm giamTheo quy định của Điều 112 Bộ luật TTHS Đức, lệnh tạm giam có thể được áp dụng đối với người bị buộc tội nếu có đủ 2 điều kiện, một là có chứng cứ để nghi ngờ người đó phạm tội, và hai là có căn cứ để bắt giữ (ground for arrest). Theo đó, dựa vào những tình tiết cụ thể của vụ án và hành vi của người bị buộc tội, những căn cứ để bắt giữ theo quy định của luật có thể bao gồm một số căn cứ sau đây, có khả năng gây khó khăn cho việc xác định sự thật vụ án, đặc biệt là vấn đề thu thập chứng cứ:Có căn cứ xác định người bị buộc tội đã bỏ trốn hoặc có nguy cơ bỏ trốn (risk of flight);Có căn cứ xác định người này sẽ phá huỷ, thay đổi, di chuyển, giấu, hoặc làm giả chứng cứ; tác động không đúng đắn tới đồng phạm, nhân chứng, chuyên gia, hoặc khiến người khác thực hiện những hành vi này.Tuy nhiên, dù không có căn cứ bắt giữ nhưng người bị buộc tội vẫn có thể bị tạm giam khi rơi vào các trường hợp: (1) Có căn cứ rõ ràng để nghi ngờ người đó phạm tội tại Điều 308 Bộ luật Hình sự (BLHS) Đức (khoản 1, 2, 3 – Tội phạm về cháy nổ) nhằm thực hiện các hành vi diệt chủng tại điểm 1 khoản 1 Điều 6 Bộ luật những tội phạm chống lại Luật quốc tế (Code of Crimes against International Law – CCAIL); hoặc (2) Phạm tội tại khoản 1, 2 Điều 129a, khoản 1 Điều 129b (liên quan đến việc thành lập các tổ chức khủng bố), Điều 211 (Tội giết người trong những trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự), Điều 212 (Tội giết người không thuộc các trường hợp tại Điều 211), Điều 226 (Tội gây ra những tổn thương trên cơ thể), Điều 306b, 306c BLHS Đức (liên quan đến tội làm hỏa hoạn). Theo đó, trong lệnh bắt cũng phải ghi rõ các tình tiết dẫn tới sự nghi ngờ về tội phạm và căn cứ cho việc bắt, trừ khi việc đó ảnh hưởng tới an ninh quốc gia[6].Một số căn cứ khác cho việc bắt giữ cũng được quy định tại Điều 112a Bộ luật TTHS Đức khi có căn cứ xác đáng để nghi ngờ rằng bị can sẽ thực hiện một số tội phạm được liệt kê tại điều luật này và nếu có căn cứ cho thấy khả năng trước khi có bản án kết tội, người đó sẽ thực hiện tiếp những tội phạm nghiêm trọng tương tự hoặc sẽ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, và việc tạm giam là cần thiết để ngăn ngừa sự nguy hiểm sắp xảy ra. Tuy nhiên, những căn cứ bắt giữ tại Điều 112 sẽ được ưu tiên áp dụng trước. Như đã đề cập, một số căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 113 Bộ luật TTHS Đức cũng có thể được áp dụng đối với những đối tượng phạm tội ít nghiêm trọng đến 6 tháng tù hay phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày.Ngoài ra, theo quy định của khoản 4 Điều 116 Bộ luật TTHS Đức, sau khi có quyết định đình chỉ thi hành lệnh bắt nhưng người bị buộc tội vi phạm một số căn cứ thì lệnh bắt sẽ được áp dụng lại kèm theo việc tạm giam. Những vi phạm đó có thể xuất phát từ việc bị can vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ và các hạn chế được áp dụng đối với họ; bị can chuẩn bị bỏ trốn, vắng mặt không có lý do chính đáng khi được triệu tập, hoặc có biểu hiện khác khiến cơ quan có thẩm quyền mất niềm tin vào họ; hoặc có những tình tiết mới khiến cho việc bắt là cần thiết.Theo: Ths. Nguyễn Phương Thảo và Ths. Tăng Trần Quỳnh Phương Link luận án:  Tại đây