0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2ccd097065-Quy-định-về-các-biện-pháp-bắt,-tạm-giam-của-pháp-luật-tố-tụng-hình-sự-một-số-quốc-gia-trên-thế-giới.jpg

Quy định về các biện pháp bắt, tạm giam của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới

2. Quy định về các biện pháp bắt, tạm giam của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới

Chế định các biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự. Việc quy định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác các biện pháp ngăn chặn là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của tố tụng hình sự để phát hiện chính xác, nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với kẻ phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Do đó, pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới đều có quy định về các biện pháp ngăn chặn, bao gồm cả biện pháp bắt, tạm giam.

2.1. Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Đức

Ở Đức, biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLTTHS. Đây cũng là biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế, được áp dụng bởi Tòa án có thẩm quyền từ những giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án, từ khi người bị buộc tội tham gia tố tụng với tư cách là người bị tình nghi thực hiện tội phạm.

2.2. Đối tượng áp dụng và hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam

Đối tượng thứ nhất có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam là người bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm và phải có căn cứ để bắt giữ. Tuy nhiên, lệnh tạm giam sẽ không được đặt ra nếu không tương xứng với tính chất của vụ án hoặc hình phạt hoặc các biện pháp cải tạo và phòng ngừa (quyết định về án treo và cảnh cáo, hoãn thi hành phần còn lại của bản án phạt tù, hoãn thi hành án phạt tù)[7] dự kiến được áp dụng[8]. Hai đối tượng kế tiếp có thể áp dụng biện pháp này là bị can – người đã có quyết định truy tố và bị cáo – người đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử[9]. Bên cạnh đó, BLTTHS Đức cũng quy định các trường hợp hạn chế tạm giam, theo đó, những người không thỏa mãn các điều kiện hạn chế tạm giam sẽ không bị áp dụng biện pháp này trừ một số trường hợp luật định. Cụ thể, những đối tượng bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo không bị áp dụng biện pháp tạm giam là những người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng (các hành vi trái pháp luật với mức hình phạt thấp hơn một năm tù hoặc hình phạt tiền)[10] đến 6 tháng tù hoặc phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày. Tuy nhiên, hạn chế này không áp dụng đối với trường hợp khi bị can trước đó đã trốn tránh pháp luật hoặc đã chuẩn bị cho việc bỏ trốn; hoặc bị can không có nơi ở cố định hoặc nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ theo quy định của Luật này, hoặc bị can không thể khai báo danh tính của mình[11].

2.3.Về căn cứ bắt và tạm giam

Theo quy định của Điều 112 BLTTHS Đức, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với người bị buộc tội nếu có đủ 2 điều kiện, một là có chứng cứ để nghi ngờ người đó phạm tội và hai là có căn cứ để bắt. Biện pháp này có thể không được áp dụng nếu nó không tương xứng với tính chất của vụ án hoặc hình phạt hay biện pháp cải tạo và phòng ngừa có thể sẽ được áp dụng (trường hợp này, các căn cứ cho việc không áp dụng biện pháp tạm giam phải được nêu rõ). Việc bắt người bị buộc tội để tạm giam có thể được tiến hành nếu có các căn cứ: (1) Xác định người bị buộc tội đã bỏ trốn hoặc có nguy cơ bỏ trốn; (2) Xác định người bị tình nghi sẽ phá huỷ, thay đổi, di chuyển, giấu hoặc làm giả chứng cứ; tác động không đúng đắn tới đồng phạm, nhân chứng, chuyên gia hoặc khiến người khác thực hiện những hành vi này.

Tuy nhiên, có một số trường hợp, dù không có căn cứ bắt giữ nhưng người bị buộc tội vẫn có thể bị tạm giam khi: (1) Có căn cứ rõ ràng để nghi ngờ người đó phạm tội tại Điều 308 Bộ luật Hình sự Đức (khoản 1, 2, 3 – Tội phạm về cháy nổ) nhằm thực hiện các hành vi diệt chủng tại điểm 1 khoản 1 Điều 6 Bộ luật những tội phạm chống lại Luật quốc tế; hoặc (2) Phạm tội tại khoản 1, 2 Điều 129a, khoản 1 Điều 129b (liên quan đến việc thành lập các tổ chức khủng bố), Điều 211 (Tội giết người trong những trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự), Điều 212 (Tội giết người không thuộc các trường hợp tại Điều 211), Điều 226 (Tội gây ra những tổn thương trên cơ thể), Điều 306b, 306c Bộ luật Hình sự Đức (liên quan đến tội làm hỏa hoạn). Theo đó, trong lệnh bắt cũng phải ghi rõ các tình tiết dẫn tới sự nghi ngờ về tội phạm và căn cứ cho việc bắt, trừ khi việc đó ảnh hưởng tới an ninh quốc gia[12].

Một số căn cứ khác cho việc bắt giữ cũng được quy định tại Điều 112a BLTTHS Đức là khi có căn cứ xác đáng để nghi ngờ rằng bị can sẽ thực hiện một số tội phạm được liệt kê tại điều luật này và nếu có căn cứ cho thấy khả năng trước khi có bản án kết tội, người đó sẽ thực hiện tiếp những tội phạm nghiêm trọng tương tự hoặc sẽ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và việc tạm giam là cần thiết để ngăn ngừa sự nguy hiểm sắp xảy ra. Tuy nhiên, những căn cứ bắt giữ tại Điều 112 sẽ được ưu tiên áp dụng trước. Như đã đề cập, một số căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 113 BLTTHS Đức cũng có thể được áp dụng đối với những đối tượng phạm tội ít nghiêm trọng đến 06 tháng tù hay phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày.

Ngoài ra, theo quy định của khoản 4 Điều 116 BLTTHS Đức, sau khi có quyết định đình chỉ thi hành lệnh bắt nhưng người bị buộc tội vi phạm một số căn cứ thì lệnh bắt sẽ được áp dụng lại kèm theo việc tạm giam. Những vi phạm đó có thể xuất phát từ việc bị can vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ và các hạn chế được áp dụng đối với họ; bị can chuẩn bị bỏ trốn, vắng mặt không có lý do chính đáng khi được triệu tập, hoặc có biểu hiện khác khiến cơ quan có thẩm quyền mất niềm tin vào họ; hoặc có những tình tiết mới khiến cho việc bắt là cần thiết.

2.4. Thời hạn tạm giam

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, như đã đề cập, tạm giam có thể được áp dụng đối với người bị tình nghi thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo và luôn gắn liền với các căn cứ bắt giữ. Như vậy, có thể thấy tạm giam được áp dụng ngay từ những giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, từ khi xuất hiện tư cách người bị tình nghi thực hiện tội phạm và kéo dài suốt quá trình này. Điều 121 BLTTHS Đức quy định, trong trường hợp bản án chưa được tuyên về việc quyết định hình phạt tù hoặc cải tạo giam giữ thì thời hạn tạm giam nhiều hơn 06 tháng đối với một hành vi phạm tội sẽ chỉ được áp dụng trong trường hợp việc điều tra có khó khăn đặc biệt hoặc kéo dài bất thường hoặc vì một số lý do quan trọng khác mà việc tuyên án bị cản trở và có cơ sở cho việc tiếp tục tạm giam. Tuy nhiên, trong trường hợp này, thời hạn tạm giam sẽ không kéo dài hơn 01 năm nếu thuộc những căn cứ khác cho việc bắt giữ tại Điều 112a BLTTHS Đức[13]. Trường hợp Tòa án khu vực cấp trên ra lệnh tiếp tục tạm giam thì biện pháp tạm giam tiếp tục được áp dụng và Tòa án khu vực cấp trên sẽ có thẩm quyền cho tới khi bản án được tuyên[14]. Như vậy, biện pháp tạm giam được áp dụng thông thường dưới 06 tháng, nhưng trong một số trường hợp ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì biện pháp này có thể được kéo dài đến 01 năm, đặc biệt Tòa án khu vực cấp trên có quyền kéo dài thời hạn tạm giam cho đến khi bản án được tuyên, tức là trên 01 năm.

Theo: PGS.TS Nguyễn Hòa Bình

Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
932 ngày trước
Quy định về các biện pháp bắt, tạm giam của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới
2. Quy định về các biện pháp bắt, tạm giam của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giớiChế định các biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự. Việc quy định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác các biện pháp ngăn chặn là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của tố tụng hình sự để phát hiện chính xác, nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với kẻ phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Do đó, pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới đều có quy định về các biện pháp ngăn chặn, bao gồm cả biện pháp bắt, tạm giam.2.1. Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang ĐứcỞ Đức, biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLTTHS. Đây cũng là biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế, được áp dụng bởi Tòa án có thẩm quyền từ những giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án, từ khi người bị buộc tội tham gia tố tụng với tư cách là người bị tình nghi thực hiện tội phạm.2.2. Đối tượng áp dụng và hạn chế áp dụng biện pháp tạm giamĐối tượng thứ nhất có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam là người bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm và phải có căn cứ để bắt giữ. Tuy nhiên, lệnh tạm giam sẽ không được đặt ra nếu không tương xứng với tính chất của vụ án hoặc hình phạt hoặc các biện pháp cải tạo và phòng ngừa (quyết định về án treo và cảnh cáo, hoãn thi hành phần còn lại của bản án phạt tù, hoãn thi hành án phạt tù)[7] dự kiến được áp dụng[8]. Hai đối tượng kế tiếp có thể áp dụng biện pháp này là bị can – người đã có quyết định truy tố và bị cáo – người đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử[9]. Bên cạnh đó, BLTTHS Đức cũng quy định các trường hợp hạn chế tạm giam, theo đó, những người không thỏa mãn các điều kiện hạn chế tạm giam sẽ không bị áp dụng biện pháp này trừ một số trường hợp luật định. Cụ thể, những đối tượng bị nghi ngờ xác đáng về việc thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo không bị áp dụng biện pháp tạm giam là những người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng (các hành vi trái pháp luật với mức hình phạt thấp hơn một năm tù hoặc hình phạt tiền)[10] đến 6 tháng tù hoặc phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày. Tuy nhiên, hạn chế này không áp dụng đối với trường hợp khi bị can trước đó đã trốn tránh pháp luật hoặc đã chuẩn bị cho việc bỏ trốn; hoặc bị can không có nơi ở cố định hoặc nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ theo quy định của Luật này, hoặc bị can không thể khai báo danh tính của mình[11].2.3.Về căn cứ bắt và tạm giamTheo quy định của Điều 112 BLTTHS Đức, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với người bị buộc tội nếu có đủ 2 điều kiện, một là có chứng cứ để nghi ngờ người đó phạm tội và hai là có căn cứ để bắt. Biện pháp này có thể không được áp dụng nếu nó không tương xứng với tính chất của vụ án hoặc hình phạt hay biện pháp cải tạo và phòng ngừa có thể sẽ được áp dụng (trường hợp này, các căn cứ cho việc không áp dụng biện pháp tạm giam phải được nêu rõ). Việc bắt người bị buộc tội để tạm giam có thể được tiến hành nếu có các căn cứ: (1) Xác định người bị buộc tội đã bỏ trốn hoặc có nguy cơ bỏ trốn; (2) Xác định người bị tình nghi sẽ phá huỷ, thay đổi, di chuyển, giấu hoặc làm giả chứng cứ; tác động không đúng đắn tới đồng phạm, nhân chứng, chuyên gia hoặc khiến người khác thực hiện những hành vi này.Tuy nhiên, có một số trường hợp, dù không có căn cứ bắt giữ nhưng người bị buộc tội vẫn có thể bị tạm giam khi: (1) Có căn cứ rõ ràng để nghi ngờ người đó phạm tội tại Điều 308 Bộ luật Hình sự Đức (khoản 1, 2, 3 – Tội phạm về cháy nổ) nhằm thực hiện các hành vi diệt chủng tại điểm 1 khoản 1 Điều 6 Bộ luật những tội phạm chống lại Luật quốc tế; hoặc (2) Phạm tội tại khoản 1, 2 Điều 129a, khoản 1 Điều 129b (liên quan đến việc thành lập các tổ chức khủng bố), Điều 211 (Tội giết người trong những trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự), Điều 212 (Tội giết người không thuộc các trường hợp tại Điều 211), Điều 226 (Tội gây ra những tổn thương trên cơ thể), Điều 306b, 306c Bộ luật Hình sự Đức (liên quan đến tội làm hỏa hoạn). Theo đó, trong lệnh bắt cũng phải ghi rõ các tình tiết dẫn tới sự nghi ngờ về tội phạm và căn cứ cho việc bắt, trừ khi việc đó ảnh hưởng tới an ninh quốc gia[12].Một số căn cứ khác cho việc bắt giữ cũng được quy định tại Điều 112a BLTTHS Đức là khi có căn cứ xác đáng để nghi ngờ rằng bị can sẽ thực hiện một số tội phạm được liệt kê tại điều luật này và nếu có căn cứ cho thấy khả năng trước khi có bản án kết tội, người đó sẽ thực hiện tiếp những tội phạm nghiêm trọng tương tự hoặc sẽ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và việc tạm giam là cần thiết để ngăn ngừa sự nguy hiểm sắp xảy ra. Tuy nhiên, những căn cứ bắt giữ tại Điều 112 sẽ được ưu tiên áp dụng trước. Như đã đề cập, một số căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 113 BLTTHS Đức cũng có thể được áp dụng đối với những đối tượng phạm tội ít nghiêm trọng đến 06 tháng tù hay phạt tiền đến 180 đơn vị tính theo ngày.Ngoài ra, theo quy định của khoản 4 Điều 116 BLTTHS Đức, sau khi có quyết định đình chỉ thi hành lệnh bắt nhưng người bị buộc tội vi phạm một số căn cứ thì lệnh bắt sẽ được áp dụng lại kèm theo việc tạm giam. Những vi phạm đó có thể xuất phát từ việc bị can vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ và các hạn chế được áp dụng đối với họ; bị can chuẩn bị bỏ trốn, vắng mặt không có lý do chính đáng khi được triệu tập, hoặc có biểu hiện khác khiến cơ quan có thẩm quyền mất niềm tin vào họ; hoặc có những tình tiết mới khiến cho việc bắt là cần thiết.2.4. Thời hạn tạm giamỞ Cộng hòa Liên bang Đức, như đã đề cập, tạm giam có thể được áp dụng đối với người bị tình nghi thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo và luôn gắn liền với các căn cứ bắt giữ. Như vậy, có thể thấy tạm giam được áp dụng ngay từ những giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, từ khi xuất hiện tư cách người bị tình nghi thực hiện tội phạm và kéo dài suốt quá trình này. Điều 121 BLTTHS Đức quy định, trong trường hợp bản án chưa được tuyên về việc quyết định hình phạt tù hoặc cải tạo giam giữ thì thời hạn tạm giam nhiều hơn 06 tháng đối với một hành vi phạm tội sẽ chỉ được áp dụng trong trường hợp việc điều tra có khó khăn đặc biệt hoặc kéo dài bất thường hoặc vì một số lý do quan trọng khác mà việc tuyên án bị cản trở và có cơ sở cho việc tiếp tục tạm giam. Tuy nhiên, trong trường hợp này, thời hạn tạm giam sẽ không kéo dài hơn 01 năm nếu thuộc những căn cứ khác cho việc bắt giữ tại Điều 112a BLTTHS Đức[13]. Trường hợp Tòa án khu vực cấp trên ra lệnh tiếp tục tạm giam thì biện pháp tạm giam tiếp tục được áp dụng và Tòa án khu vực cấp trên sẽ có thẩm quyền cho tới khi bản án được tuyên[14]. Như vậy, biện pháp tạm giam được áp dụng thông thường dưới 06 tháng, nhưng trong một số trường hợp ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì biện pháp này có thể được kéo dài đến 01 năm, đặc biệt Tòa án khu vực cấp trên có quyền kéo dài thời hạn tạm giam cho đến khi bản án được tuyên, tức là trên 01 năm.Theo: PGS.TS Nguyễn Hòa BìnhLink luận án:  Tại đây