0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2d906c6473-Hoàn-thiện-quy-định-về-biện-pháp-bắt,-tạm-giam-trong-BLTTHS-.jpg

Hoàn thiện quy định về biện pháp bắt, tạm giam trong BLTTHS

3. Hoàn thiện quy định về biện pháp bắt, tạm giam trong BLTTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 

Trên cơ sở phân tích quy định về các biện pháp bắt, tạm giam của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp bắt, tạm giam.

3.1.Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp

Đối tượng áp dụng và hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam

Theo BLTTHS Pháp, chỉ được phép ra lệnh hoặc gia hạn tạm giam trước khi xét xử nếu thuộc một trong các trường hợp: (1) Người thuộc diện thẩm tra tư pháp có khả năng phải chịu hình phạt về tội nghiêm trọng; (2) Người thuộc diện thẩm tra tư pháp có khả năng phải chịu hình phạt ít nhất ba năm tù về tội ít nghiêm trọng. Ngoài ra, cũng có thể ra lệnh tạm giam trước khi xét xử khi người thuộc diện thẩm tra tư pháp cố tình lẩn tránh các nghĩa vụ của giám sát tư pháp.

Đồng thời, BLTTHS Pháp cũng quy định hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam trước khi xét xử nếu người này là cha hoặc mẹ một người chưa thành niên dưới mười sáu tuổi sống cùng với mình, trường hợp tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng thực hiện đối với người chưa thành niên, hoặc trong các trường hợp khi các nghĩa vụ của giám sát tư pháp không được tôn trọng.

3.2. Căn cứ áp dụng

Điều 144 BLTTHS Pháp quy định các điều kiện để áp dụng lệnh tạm giam như sau: Chỉ có thể ra lệnh hoặc gia hạn tạm giam nếu đó là cách duy nhất: để bảo quản vật chứng hoặc dấu vết hoặc ngăn cản việc đe dọa nhân chứng hoặc nạn nhân hoặc gia đình họ hoặc thỏa thuận gian dối giữa những người thuộc diện thẩm tra tư pháp và các đồng phạm; bảo vệ người thuộc diện thẩm tra tư pháp, bảo đảm là người này vẫn thuộc sự điều chỉnh của luật pháp, chấm dứt hành vi phạm tội hoặc ngăn chặn tái phạm; chấm dứt việc gây rối trong một thời gian dài và ngoài dự kiến trật tự công cộng do tính nghiêm trọng của tội phạm gây ra, bối cảnh của hành vi phạm tội, hoặc mức độ trầm trọng của thiệt hại mà nó gây ra.

3.3.Thời hạn tạm giam

Thời hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS Pháp là không được quá bốn tháng đối với các vấn đề ít nghiêm trọng nếu người thuộc diện thẩm tra tư pháp trước đó chưa bị kết án, liên quan đến tội nghiêm trọng hoặc một tội ít nghiêm trọng thông thường, phạt tù không hưởng án treo ít nhất một năm và khi người này có nguy cơ bị kết án năm năm hoặc ít hơn.

3.4. Về thẩm quyền và thủ tục bắt tạm giam

Theo quy định tại Điều 137.1 BLTTHS Pháp, việc tạm giam sẽ do Thẩm phán quyết định theo đề nghị của Công tố viên trưởng cấp quận. Lệnh tạm giam phải chỉ rõ danh tính của người trong lệnh; Thẩm phán ra lệnh phải ghi ngày, ký tên và đóng dấu.

3.5. Hủy bỏ biện pháp bắt tạm giam

Điều 146 BLTTHS Pháp quy định nếu trong quá trình điều tra thấy rằng tội phạm bị điều tra không còn nghiêm trọng, Thẩm phán điều tra, sau khi gửi hồ sơ vụ án cho Công tố viên cấp quận theo đề nghị của người này, có thể bằng một lệnh có lý do chuyển cho Thẩm phán giám sát và tự do ra lệnh trả tự do có hoặc không có giám sát tư pháp. Thẩm phán giám sát và tự do giải quyết trong vòng ba ngày kể từ ngày Thẩm phán điều tra chuyển vụ án.

Nếu Thẩm phán giám sát và tự do không quyết định trong thời hạn quy định thì cá nhân có thể chuyển yêu cầu đến phòng điều tra để ra quyết định bằng văn bản trong vòng hai mươi ngày kể từ khi nhận được vụ án với lý do là đề nghị của Công tố viên. Nếu không thực hiện được điều này thì cá nhân đương nhiên được trả tự do trừ khi đã ra lệnh kiểm tra yêu cầu. Công tố viên cấp quận cũng có quyền chuyển vụ án cho phòng điều tra theo các điều kiện tương tự.

Người thuộc diện thẩm tra tư pháp, bị cáo hoặc bị can trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào và trong bất kỳ trường hợp nào cũng có thể yêu cầu trả tự do. Nếu Thẩm phán tự do và giám sát ra lệnh trả tự do cho người bị tạm giam trái với chỉ thị của Công tố viên cấp quận thì phải thông báo ngay cho người này biết quyết định.
 

3.6. Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản

Đối tượng áp dụng

Điều 60 BLTTHS Nhật Bản quy định Tòa án có thể tạm giam bị cáo nếu có lý do tin rằng người này đã thực hiện tội phạm và thuộc một trong các khoản sau: (1) Bị cáo không có nơi ở cố định; (2) Có đủ lý do để nghi ngờ là người này có thể tiêu hủy hoặc che giấu chứng cứ; (3) Bị cáo chạy trốn hoặc có đủ căn cứ nghi ngờ là người này có thể trốn.

Thời hạn tạm giam

Thời hạn tạm giam là hai tháng kể từ ngày khởi tố. Trường hợp thật cần thiết để tiếp tục thời hạn này, thì có thể gia hạn mỗi tháng bằng quyết định nêu rõ lý do xác đáng. Việc gia hạn này chỉ được thực hiện một lần trừ một số trường hợp đặc biệt mà pháp luật quy định.

Thẩm quyền và thủ tục áp dụng

Việc áp dụng biện pháp tạm giam được giao cho một Thẩm phán Tòa án quận, Tòa gia đình, hoặc Tòa giản lược tại địa điểm nơi tìm thấy bị cáo, tạm giam người này. Việc tạm giam bị cáo phải được ban hành dưới hình thức lệnh tạm giam của Tòa án.

Lệnh tạm giữ hoặc tạm giam phải có tên và địa chỉ nơi ở của bị cáo, tội phạm, sơ bộ cáo buộc, nơi sẽ đưa người này đến và nơi tạm giam người này, thời hạn có hiệu lực, tuyên bố với hiệu lực là sau khi hết thời hạn nói trên lệnh sẽ không được thi hành và bị trả lại, ngày ban hành và những vấn đề khác do các nguyên tắc của Tòa án quy định và có ký tên và đóng dấu của Chánh án hoặc lãnh đạo Tòa án. Trường hợp không biết tên của bị cáo, thì có thể miêu tả diện mạo, vóc dáng hoặc các đặc điểm khác cho phép nhận dạng người này. Trường hợp không biết nơi ở của bị cáo thì không cần nêu trong lệnh.

Thẩm phán đã ban hành lệnh tạm giam phải thẩm tra thông tin cá nhân của người bị tạm giam trong vòng hai mươi bốn giờ kể từ thời điểm khi bị cáo bị dẫn giải. Sau khi thẩm tra thông tin cá nhân của họ, bị cáo phải được trực tiếp gửi ngay đến Tòa án được chỉ định. Trong trường hợp này, Thẩm phán được phân công ban hành lệnh tạm giam phải ấn định thời hạn để bị cáo có mặt tại Tòa án được chỉ định.

Theo: PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình

Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
936 ngày trước
Hoàn thiện quy định về biện pháp bắt, tạm giam trong BLTTHS
3. Hoàn thiện quy định về biện pháp bắt, tạm giam trong BLTTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Trên cơ sở phân tích quy định về các biện pháp bắt, tạm giam của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp bắt, tạm giam.3.1.Bộ luật Tố tụng hình sự PhápĐối tượng áp dụng và hạn chế áp dụng biện pháp tạm giamTheo BLTTHS Pháp, chỉ được phép ra lệnh hoặc gia hạn tạm giam trước khi xét xử nếu thuộc một trong các trường hợp: (1) Người thuộc diện thẩm tra tư pháp có khả năng phải chịu hình phạt về tội nghiêm trọng; (2) Người thuộc diện thẩm tra tư pháp có khả năng phải chịu hình phạt ít nhất ba năm tù về tội ít nghiêm trọng. Ngoài ra, cũng có thể ra lệnh tạm giam trước khi xét xử khi người thuộc diện thẩm tra tư pháp cố tình lẩn tránh các nghĩa vụ của giám sát tư pháp.Đồng thời, BLTTHS Pháp cũng quy định hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam trước khi xét xử nếu người này là cha hoặc mẹ một người chưa thành niên dưới mười sáu tuổi sống cùng với mình, trường hợp tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng thực hiện đối với người chưa thành niên, hoặc trong các trường hợp khi các nghĩa vụ của giám sát tư pháp không được tôn trọng.3.2. Căn cứ áp dụngĐiều 144 BLTTHS Pháp quy định các điều kiện để áp dụng lệnh tạm giam như sau: Chỉ có thể ra lệnh hoặc gia hạn tạm giam nếu đó là cách duy nhất: để bảo quản vật chứng hoặc dấu vết hoặc ngăn cản việc đe dọa nhân chứng hoặc nạn nhân hoặc gia đình họ hoặc thỏa thuận gian dối giữa những người thuộc diện thẩm tra tư pháp và các đồng phạm; bảo vệ người thuộc diện thẩm tra tư pháp, bảo đảm là người này vẫn thuộc sự điều chỉnh của luật pháp, chấm dứt hành vi phạm tội hoặc ngăn chặn tái phạm; chấm dứt việc gây rối trong một thời gian dài và ngoài dự kiến trật tự công cộng do tính nghiêm trọng của tội phạm gây ra, bối cảnh của hành vi phạm tội, hoặc mức độ trầm trọng của thiệt hại mà nó gây ra.3.3.Thời hạn tạm giamThời hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS Pháp là không được quá bốn tháng đối với các vấn đề ít nghiêm trọng nếu người thuộc diện thẩm tra tư pháp trước đó chưa bị kết án, liên quan đến tội nghiêm trọng hoặc một tội ít nghiêm trọng thông thường, phạt tù không hưởng án treo ít nhất một năm và khi người này có nguy cơ bị kết án năm năm hoặc ít hơn.3.4. Về thẩm quyền và thủ tục bắt tạm giamTheo quy định tại Điều 137.1 BLTTHS Pháp, việc tạm giam sẽ do Thẩm phán quyết định theo đề nghị của Công tố viên trưởng cấp quận. Lệnh tạm giam phải chỉ rõ danh tính của người trong lệnh; Thẩm phán ra lệnh phải ghi ngày, ký tên và đóng dấu.3.5. Hủy bỏ biện pháp bắt tạm giamĐiều 146 BLTTHS Pháp quy định nếu trong quá trình điều tra thấy rằng tội phạm bị điều tra không còn nghiêm trọng, Thẩm phán điều tra, sau khi gửi hồ sơ vụ án cho Công tố viên cấp quận theo đề nghị của người này, có thể bằng một lệnh có lý do chuyển cho Thẩm phán giám sát và tự do ra lệnh trả tự do có hoặc không có giám sát tư pháp. Thẩm phán giám sát và tự do giải quyết trong vòng ba ngày kể từ ngày Thẩm phán điều tra chuyển vụ án.Nếu Thẩm phán giám sát và tự do không quyết định trong thời hạn quy định thì cá nhân có thể chuyển yêu cầu đến phòng điều tra để ra quyết định bằng văn bản trong vòng hai mươi ngày kể từ khi nhận được vụ án với lý do là đề nghị của Công tố viên. Nếu không thực hiện được điều này thì cá nhân đương nhiên được trả tự do trừ khi đã ra lệnh kiểm tra yêu cầu. Công tố viên cấp quận cũng có quyền chuyển vụ án cho phòng điều tra theo các điều kiện tương tự.Người thuộc diện thẩm tra tư pháp, bị cáo hoặc bị can trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào và trong bất kỳ trường hợp nào cũng có thể yêu cầu trả tự do. Nếu Thẩm phán tự do và giám sát ra lệnh trả tự do cho người bị tạm giam trái với chỉ thị của Công tố viên cấp quận thì phải thông báo ngay cho người này biết quyết định. 3.6. Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật BảnĐối tượng áp dụngĐiều 60 BLTTHS Nhật Bản quy định Tòa án có thể tạm giam bị cáo nếu có lý do tin rằng người này đã thực hiện tội phạm và thuộc một trong các khoản sau: (1) Bị cáo không có nơi ở cố định; (2) Có đủ lý do để nghi ngờ là người này có thể tiêu hủy hoặc che giấu chứng cứ; (3) Bị cáo chạy trốn hoặc có đủ căn cứ nghi ngờ là người này có thể trốn.Thời hạn tạm giamThời hạn tạm giam là hai tháng kể từ ngày khởi tố. Trường hợp thật cần thiết để tiếp tục thời hạn này, thì có thể gia hạn mỗi tháng bằng quyết định nêu rõ lý do xác đáng. Việc gia hạn này chỉ được thực hiện một lần trừ một số trường hợp đặc biệt mà pháp luật quy định.Thẩm quyền và thủ tục áp dụngViệc áp dụng biện pháp tạm giam được giao cho một Thẩm phán Tòa án quận, Tòa gia đình, hoặc Tòa giản lược tại địa điểm nơi tìm thấy bị cáo, tạm giam người này. Việc tạm giam bị cáo phải được ban hành dưới hình thức lệnh tạm giam của Tòa án.Lệnh tạm giữ hoặc tạm giam phải có tên và địa chỉ nơi ở của bị cáo, tội phạm, sơ bộ cáo buộc, nơi sẽ đưa người này đến và nơi tạm giam người này, thời hạn có hiệu lực, tuyên bố với hiệu lực là sau khi hết thời hạn nói trên lệnh sẽ không được thi hành và bị trả lại, ngày ban hành và những vấn đề khác do các nguyên tắc của Tòa án quy định và có ký tên và đóng dấu của Chánh án hoặc lãnh đạo Tòa án. Trường hợp không biết tên của bị cáo, thì có thể miêu tả diện mạo, vóc dáng hoặc các đặc điểm khác cho phép nhận dạng người này. Trường hợp không biết nơi ở của bị cáo thì không cần nêu trong lệnh.Thẩm phán đã ban hành lệnh tạm giam phải thẩm tra thông tin cá nhân của người bị tạm giam trong vòng hai mươi bốn giờ kể từ thời điểm khi bị cáo bị dẫn giải. Sau khi thẩm tra thông tin cá nhân của họ, bị cáo phải được trực tiếp gửi ngay đến Tòa án được chỉ định. Trong trường hợp này, Thẩm phán được phân công ban hành lệnh tạm giam phải ấn định thời hạn để bị cáo có mặt tại Tòa án được chỉ định.Theo: PGS.TS. Nguyễn Hòa BìnhLink luận án:  Tại đây