0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2e1761b9e2-Biện-pháp-tạm-giam-đối-với-bị-can,-bị-cáo-là-người-dưới-18-tuổi.jpg

Biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

1.Biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp ngăn chặn gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khởi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Trong các biện pháp đó, thì tạm giam được xem là biện pháp nghiêm khắc nhất nhằm hạn chế một số quyền công dân của người bị buộc tội. Trong khi đó, người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về tâm, sinh lý và nhân cách, chưa có đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Do đó, việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nói chung và biện pháp tạm giam người dưới 18 tuổi nói riêng phải được thực hiện theo một quy trình đặc biệt.

1.2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là dưới 18 tuổi

Điều 8 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết”. Khoản 1 Điều 414 BLTTHS quy định: “Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” và “chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết”; “chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả” (khoản 1 Điều 414).

Như vậy, các nguyên tắc chung khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi gồm:
 Biện pháp tạm giam là biện pháp cần thiết cuối cùng khi việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của biện pháp tạm giam, phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp khác nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.

Việc tạm giam phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi, nơi tạm giam phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi.

1.3. Điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

BLTTHS 2003 không quy định cụ thể về việc hạn chế tạm giam đối với người dưới 18 tuổi mà chỉ hướng dẫn“cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, Điều 92 và Điều 93 Bộ luật Tố tụng hình sự trước khi áp dụng biện pháp tạm giam”[1]. Quy định này chỉ dừng lại ở mức độ là một lưu ý, khuyến khích “cần xem xét, cân nhắc”, nên còn tùy thuộc nhiều vào ý thức, nhận định chủ quan của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. BLTTHS 2015 đã khắc phục những hạn chế, thiếu sót nêu trên bằng việc quy định cụ thể, chặt chẽ căn cứ, điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp tạm giam đối với người bị buộc tội nói chung, cũng như đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng. Theo quy định tại Điều 419 BLTTHS thì việc tạm giam người dưới 18 tuổi có 02 trường hợp với các điều kiện cụ thể sau đây:

* Trường hợp tạm giam đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi thì phải có đủ hai điều kiện sau:

  • Thứ nhất: Người bị buộc tội phạm vào một trong các tội sau đây: Tội Giết người, tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội Hiếp dâm, tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội Cướp tài sản, tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: Điều 143 (tội Cưỡng dâm); Điều 150 (tội Mua bán người); Điều 151 (tội Mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 170 (tội Cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội Cướp giật tài sản); Điều 173 (tội Trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 248 (tội Sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội Tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội Vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội Mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội Chiếm đoạt chất ma túy); Điều 265 (tội Tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội Đua xe trái phép); Điều 285 (tội Sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội Phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội Cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); Điều 299 (tội Khủng bố); Điều 303 (tội Phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).
  • Thứ hai: Khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS, cụ thể là:

+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

  • Trường hợp tạm giam đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thì phải có đủ hai điều kiện sau:
  • Thứ nhất: Bị can, bị cáo bị điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.
     
  • Thứ hai: Khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS như đã trình bày ở phần trên.

Ngoài ra, bị can, bị cáo từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam đối với tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu trong thời gian điều tra, truy tố, xét xử (có thể đang bị áp dụng hoặc không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác) họ tiếp tục phạm tội mới, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

Việc tạm giam trong những trường hợp nêu trên thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tạm giam, người ra lệnh tạm giam người dưới 18 tuổi phải thông báo cho người đại diện hợp pháp của họ biết.

  • Không được áp dụng biện pháp tạm giam đối với người dưới 18 tuổi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  • Chưa áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác trước khi áp dụng biện pháp tạm giam;
  • Khi chưa có đủ chứng cứ chứng minh rằng họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS;
  • Người bị buộc tội là người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS;
  • Người bị buộc tội là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm các tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 419 BLTTHS.
  • Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng nếu không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 4 Điều 119 BLTTHS.

Theo: HÀ THÁI THƠ – VÕ THỊ ÁNH TRÚC 

Link luận án:  Tại đây

 

avatar
Phạm Linh Chi
968 ngày trước
Biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi
1.Biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổiĐể kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp ngăn chặn gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khởi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Trong các biện pháp đó, thì tạm giam được xem là biện pháp nghiêm khắc nhất nhằm hạn chế một số quyền công dân của người bị buộc tội. Trong khi đó, người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về tâm, sinh lý và nhân cách, chưa có đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Do đó, việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nói chung và biện pháp tạm giam người dưới 18 tuổi nói riêng phải được thực hiện theo một quy trình đặc biệt.1.2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là dưới 18 tuổiĐiều 8 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết”. Khoản 1 Điều 414 BLTTHS quy định: “Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” và “chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết”; “chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả” (khoản 1 Điều 414).Như vậy, các nguyên tắc chung khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi gồm: Biện pháp tạm giam là biện pháp cần thiết cuối cùng khi việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả.Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của biện pháp tạm giam, phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp khác nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.Việc tạm giam phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi, nơi tạm giam phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi.1.3. Điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổiBLTTHS 2003 không quy định cụ thể về việc hạn chế tạm giam đối với người dưới 18 tuổi mà chỉ hướng dẫn“cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, Điều 92 và Điều 93 Bộ luật Tố tụng hình sự trước khi áp dụng biện pháp tạm giam”[1]. Quy định này chỉ dừng lại ở mức độ là một lưu ý, khuyến khích “cần xem xét, cân nhắc”, nên còn tùy thuộc nhiều vào ý thức, nhận định chủ quan của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. BLTTHS 2015 đã khắc phục những hạn chế, thiếu sót nêu trên bằng việc quy định cụ thể, chặt chẽ căn cứ, điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp tạm giam đối với người bị buộc tội nói chung, cũng như đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng. Theo quy định tại Điều 419 BLTTHS thì việc tạm giam người dưới 18 tuổi có 02 trường hợp với các điều kiện cụ thể sau đây:* Trường hợp tạm giam đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi thì phải có đủ hai điều kiện sau:Thứ nhất: Người bị buộc tội phạm vào một trong các tội sau đây: Tội Giết người, tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội Hiếp dâm, tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội Cướp tài sản, tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: Điều 143 (tội Cưỡng dâm); Điều 150 (tội Mua bán người); Điều 151 (tội Mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 170 (tội Cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội Cướp giật tài sản); Điều 173 (tội Trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 248 (tội Sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội Tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội Vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội Mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội Chiếm đoạt chất ma túy); Điều 265 (tội Tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội Đua xe trái phép); Điều 285 (tội Sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội Phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội Cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); Điều 299 (tội Khủng bố); Điều 303 (tội Phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).Thứ hai: Khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS, cụ thể là:+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.Trường hợp tạm giam đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thì phải có đủ hai điều kiện sau:Thứ nhất: Bị can, bị cáo bị điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng. Thứ hai: Khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS như đã trình bày ở phần trên.Ngoài ra, bị can, bị cáo từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam đối với tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu trong thời gian điều tra, truy tố, xét xử (có thể đang bị áp dụng hoặc không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác) họ tiếp tục phạm tội mới, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.Việc tạm giam trong những trường hợp nêu trên thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tạm giam, người ra lệnh tạm giam người dưới 18 tuổi phải thông báo cho người đại diện hợp pháp của họ biết.Không được áp dụng biện pháp tạm giam đối với người dưới 18 tuổi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:Chưa áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác trước khi áp dụng biện pháp tạm giam;Khi chưa có đủ chứng cứ chứng minh rằng họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS;Người bị buộc tội là người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS;Người bị buộc tội là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm các tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 419 BLTTHS.Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng nếu không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 4 Điều 119 BLTTHS.Theo: HÀ THÁI THƠ – VÕ THỊ ÁNH TRÚC Link luận án:  Tại đây