0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2e20f1fcdc-Thời-hạn-áp-dụng-biện-pháp-tạm-giam-đối-với-bị-can,-bị-cáo-là-người-dưới-18-tuổi.jpg

Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

3. Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

BLTTHS 2003 không có quy định riêng về thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi. Do đó, người dưới 18 tuổi nếu bị áp dụng biện pháp tạm giam thì thời hạn tạm giam cũng bằng với thời hạn tạm giam người từ đủ 18 tuổi trở lên. Việc không quy định thời hạn tạm giam riêng dành cho người dưới 18 tuổi là chưa xem xét đến các nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự đối với nhóm đối tượng này. Với quy định tại khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015, thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được rút ngắn, chỉ còn bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại BLTTHS. Cụ thể như sau:

  • Thời hạn tạm giam để điều tra: Không quá 40 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 02 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 02 tháng 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải gia hạn điều tra thì việc gia hạn tạm giam được tính như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 01 lần không quá 20 ngày; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 01 lần không quá 40 ngày; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không quá 02 tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 02 lần, mỗi lần không quá 02 tháng 20 ngày.
  • Thời hạn tạm giam để truy tố: Không quá 13 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, không quá 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn tạm giam để truy tố, nhưng không quá 07 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng; không quá 10 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 20 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
  • Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm [2]: Không quá 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 40 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 50 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và không quá 70 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đối với vụ án phức tạp thì thời hạn tạm giam có thể được gia hạn thêm không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, không quá 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.

3. Hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

Việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi được thực hiện như đối với bị can, bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Nguyên tắc chung, khi đã hết thời hạn tạm giam thì người bị tạm giam phải được trả tự do; khi không còn căn cứ để tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ biện pháp tạm giam, trường hợp xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (khoản 1 Ðiều 419 BLTTHS). Theo quy định tại khoản 1 Điều 125 BLTTHS, nếu bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi đang bị áp dụng biện pháp tạm giam, thì biện pháp tạm giam phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp: Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can; bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc thuộc vào trường hợp không được áp dụng biện pháp tạm giam được phân tích ở mục 2 bài viết này.

Về thẩm quyền quyết định việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam: Trong giai đoạn điều tra, truy tố việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định (Điều 125, Điều 241, khoản 7 Điều 173 BLTTHS); trong giai đoạn chuẩn bị xét xử việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định (khoản 1 Điều 278, khoản 1 Điều 347 BLTTHS); trong giai đoạn xét xử do Hội đồng xét xử quyết định (khoản 3 Điều 278, khoản 3 Điều 347 BLTTHS).

4. Nhận xét, kết luận

Quy định về nguyên tắc, điều kiện và thời hạn để áp dụng biện pháp tạm giam đối với người dưới 18 tuổi trong BLTTHS 2015 là rất tiến bộ. Đây là một trong những chính sách hình sự quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bên cạnh đó, vẫn còn một số vướng mắc cần được hướng dẫn, cụ thể như sau:
Thứ nhất: BLTTHS chỉ quy định thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên nhưng không quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi phải bằng hai phần ba thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với người đủ 18 tuổi trở lên, việc thiếu hụt này dẫn đến sự không đồng bộ trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ hai: Thực tiễn xét xử cho thấy, vụ án có nhiều bị can, bị cáo, mà trong đó có bị can, bị cáo là người đủ 18 tuổi trở lên và bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi thì việc tính thời hạn điều tra, truy tố, xét xử, thời hạn tạm giam trong trường hợp này như thế nào? Hoặc vụ án có nhiều bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi nhưng phạm vào các tội có khung hình phạt khác nhau thì khả năng áp dụng biện pháp tạm giam đối với từng bị cáo như thế nào?

Theo: HÀ THÁI THƠ – VÕ THỊ ÁNH TRÚC 

 Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
936 ngày trước
Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi
3. Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổiBLTTHS 2003 không có quy định riêng về thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi. Do đó, người dưới 18 tuổi nếu bị áp dụng biện pháp tạm giam thì thời hạn tạm giam cũng bằng với thời hạn tạm giam người từ đủ 18 tuổi trở lên. Việc không quy định thời hạn tạm giam riêng dành cho người dưới 18 tuổi là chưa xem xét đến các nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự đối với nhóm đối tượng này. Với quy định tại khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015, thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được rút ngắn, chỉ còn bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại BLTTHS. Cụ thể như sau:Thời hạn tạm giam để điều tra: Không quá 40 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 02 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 02 tháng 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải gia hạn điều tra thì việc gia hạn tạm giam được tính như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 01 lần không quá 20 ngày; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 01 lần không quá 40 ngày; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không quá 02 tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam 02 lần, mỗi lần không quá 02 tháng 20 ngày.Thời hạn tạm giam để truy tố: Không quá 13 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, không quá 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn tạm giam để truy tố, nhưng không quá 07 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng; không quá 10 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 20 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm [2]: Không quá 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 40 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 50 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và không quá 70 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đối với vụ án phức tạp thì thời hạn tạm giam có thể được gia hạn thêm không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, không quá 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.3. Hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổiViệc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi được thực hiện như đối với bị can, bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Nguyên tắc chung, khi đã hết thời hạn tạm giam thì người bị tạm giam phải được trả tự do; khi không còn căn cứ để tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ biện pháp tạm giam, trường hợp xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (khoản 1 Ðiều 419 BLTTHS). Theo quy định tại khoản 1 Điều 125 BLTTHS, nếu bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi đang bị áp dụng biện pháp tạm giam, thì biện pháp tạm giam phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp: Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can; bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc thuộc vào trường hợp không được áp dụng biện pháp tạm giam được phân tích ở mục 2 bài viết này.Về thẩm quyền quyết định việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam: Trong giai đoạn điều tra, truy tố việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định (Điều 125, Điều 241, khoản 7 Điều 173 BLTTHS); trong giai đoạn chuẩn bị xét xử việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định (khoản 1 Điều 278, khoản 1 Điều 347 BLTTHS); trong giai đoạn xét xử do Hội đồng xét xử quyết định (khoản 3 Điều 278, khoản 3 Điều 347 BLTTHS).4. Nhận xét, kết luậnQuy định về nguyên tắc, điều kiện và thời hạn để áp dụng biện pháp tạm giam đối với người dưới 18 tuổi trong BLTTHS 2015 là rất tiến bộ. Đây là một trong những chính sách hình sự quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bên cạnh đó, vẫn còn một số vướng mắc cần được hướng dẫn, cụ thể như sau:Thứ nhất: BLTTHS chỉ quy định thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên nhưng không quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi phải bằng hai phần ba thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với người đủ 18 tuổi trở lên, việc thiếu hụt này dẫn đến sự không đồng bộ trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.Thứ hai: Thực tiễn xét xử cho thấy, vụ án có nhiều bị can, bị cáo, mà trong đó có bị can, bị cáo là người đủ 18 tuổi trở lên và bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi thì việc tính thời hạn điều tra, truy tố, xét xử, thời hạn tạm giam trong trường hợp này như thế nào? Hoặc vụ án có nhiều bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi nhưng phạm vào các tội có khung hình phạt khác nhau thì khả năng áp dụng biện pháp tạm giam đối với từng bị cáo như thế nào?Theo: HÀ THÁI THƠ – VÕ THỊ ÁNH TRÚC  Link luận án:  Tại đây