0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2e494ca9dd-Khái-niệm-quyền-của-người-bị-giữ-trong-trường-hợp-khẩn-cấp.jpg

Khái niệm quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

1.Khái niệm quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa

Quyền là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Theo đó quyền phải có sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; quyền phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định.

Cho nên quyền là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của cá nhân, quyền là một phạm trù trung tâm trong thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật và trong đời sống xã hội. Theo sự phát triển của xã hội, phạm vi các quyền của cá nhân ngày càng phát triển theo hướng đa dạng hóa. Tôn trọng các quyền của cá nhân và đảm bảo quyền của cá nhân là nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp và là nội dung quan trọng của quản lí nhà nước, quản lí xã hội trong giai đoạn hiện nay. Như vậy có thể hiểu “quyền” là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.

Khi nghiên cứu về quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội phải được đặt trong mối quan hệ pháp luật đối với các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự (đại diện cho Nhà nước) và các chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác. Trong đó, với chức năng quản lí xã hội của mình, Nhà nước có quyền giữ, bắt, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án người nào đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm, ngược lại người đó có nhiều quyền đảm bảo thực hiện bào chữa cho hành vi bị buộc tội trong đó quyền được tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình là một trong những quyền điển hình nhất. Đặc biệt, trong mối quan hệ với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội thì việc được tiếp xúc với người bào chữa là cơ hội tốt nhất để nhóm chủ thể này tiếp cận được pháp lý có lợi cho mình và được tư vấn các vấn đề có liên quan đến quy trình tố tụng, các quyền, nghĩa vụ mà họ phải thực hiện đặc biệt họ sẽ được cung cấp thông tin, chứng cứ cần thiết cho người bào chữa để đảm bảo có lợi nhất khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử họ.

Như vậy có thể hiểu quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội là quyền được gặp gỡ, trao đổi những vấn đề liên quan đến vụ án của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội với người bào chữa trên cơ sở được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận trong một giai đoạn nhất định của chuỗi quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

2. Quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội

Thực tiễn đã chỉ ra, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội khi tiếp xúc với cơ quan tiến hành tố tụng hình sự họ có nguy cơ phải đối diện với loại chế tài nghiêm khắc nhất của pháp luật nên họ thường rơi vào tình trạng hoang mang, lo sợ. Do đó, việc người bào chữa đồng hành cùng nhóm người này trong quá trình tố tụng không chỉ giúp họ ổn định tâm lí mà cao hơn là đem đến “lợi ích pháp lí” khi người bào chữa có khả năng đưa ra các chứng cứ và cơ sở pháp lí có lợi cho. Với trình độ hiểu biết pháp luật và kỹ năng hành nghề, sự có mặt của người bào chữa còn đem đến sự chuẩn xác trong áp dụng pháp luật, hạn chế được bức cung, nhục hình và oan, sai. Vì vậy, khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có nhiều quy định mới, tinh thần pháp luật mới về đảm bảo quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra. Cụ thể:
Thứ nhất, quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Một người tham gia tố tụng với tư cách là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là khi cơ quan có thẩm quyền điều tra thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với họ và khi đó ngay lập tức các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo Điều 58 BLTTHS năm 2015 sẽ được áp dụng. Trong đó, “quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” cũng sẽ được sử dụng nhưng vì họ chưa phải là người bị buộc tội theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 LTTHS năm 2015 nên quyền được chỉ định người bào chữa chưa đặt ra mà họ chỉ có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tuy nhiên, các quy định về mời người bào chữa trong BLTTHS chỉ đề cập đến trường hợp của người bị buộc tội, bị can, bị cáo mà không đề cấp đến thủ tục mời người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, vấn đề đó đã được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã quy định (gọi tắt là Thông tư số 46/2019/TT- BCA). Theo đó:

  1. Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không yêu cầu người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi lập xong biên bản giao nhận Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
  2. Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nhờ người bào chữa thì phải có đơn yêu cầu người bào chữa. Có hai trường hợp xảy ra: một là, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nêu đích danh người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa đó, người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; hai là, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không nêu đích danh người bào chữa thì trong thời hạn 1giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

Về hình thức chuyển đơn: Việc chuyển đơn được thực hiện qua đường bưu chính hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nếu người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích có nhu cầu nhận trực tiếp tại trụ sở cơ quan này và có ký nhận tại sổ giao nhận công văn, tài liệu.

Vì tư cách tố tụng của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp tồn tại trong một thời gian rất ngắn, thậm chí có thể sẽ chuyển sang tư cách người bị tạm giữ ngay cả khi đơn mời người bào chữa chưa được gửi đến nơi nhận nên Thông tư 46 nêu trên đã quy định trường hợp “trong quá trình thực hiện việc chuyển đơn, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị áp dụng biện pháp tạm giữ thì việc tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa tiếp tục được thực hiện, không phải làm các thủ tục đăng ký đối với người bị tạm giữ” [3].

Bên cạnh đó, Thông tư 46/2019/TT-BCA cũng quy định trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải thông báo cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can biết quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát [4].

Thứ hai, quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội

Người bị buộc tội tham gia tố tụng khi có các quyết định pháp lý của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (lệnh bắt, quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử). Do đó, để đảm bảo quyền được tranh tụng, chứng minh là mình vô tội pháp luật trao cho người bị buộc tội quyền được tự bào chữa, mời người bào chữa hoặc chỉ định bào chữa. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của quyền này chính là quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Do đó, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều điểm mới, tiến bộ so với BLTTHS năm 2003 trong việc quy định quyền của người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa như sau:

  • Người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa sớm hơn so với quy định trước đây

Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ tức là phụ thuộc vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và điều này có thể dẫn đến người bị buộc tội không có người bào chữa đồng hành trong lần tiếp xúc đầu tiên với cơ quan có thẩm quyền điều tra. Tuy nhiên, Điều 74 BLTTHS năm 2015 đã khắc phục vấn đề này khi quy định: “Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ”. Như vậy, nếu trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì người bào chữa của những người này được tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Có thể thấy, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng hiện nay sớm hơn thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng của BLTTHS năm 2003. quy định mới này đã cụ thể hóa quy định của Điều 31 Hiến pháp năm 2013 về việc “người bị bắt có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”.

  • Mở rộng hơn các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa

BLTTHS năm 2003 chỉ quy định trường hợp bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự và trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (Điều 57 BLTTHS năm 2003), Điều 76 BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa là: “Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình”. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa với trường hợp bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân đã làm tăng cơ hội người bị buộc tội đương nhiên được người bào chữa bảo vệ, qua đó làm tăng các trường hợp được tiếp xúc với người bào chữa.

Thủ tục tiếp xúc người bị buộc tội tại giai đoạn điều tra của người bào chữa được nhanh, gọn hơn. Để được tham gia bào chữa, thì thủ tục đăng ký bào chữa là bắt buộc và giấy chứng nhận người bào chữa là cơ sở pháp lí để bắt đầu thời điểm người bào chữa được tham gia tố tụng vụ án, được tiếp xúc với người bị buộc tội trừ trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ chối hoặc yêu cầu thay đổi Luật sư hoặc Luật sư không được tham gia tố tụng ở giai đoạn này theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thủ tục này chính là rào cản vô hình làm chậm lại quá trình được tham gia tố tụng của người bào chữa đồng thời cũng làm chậm lại thời gian được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Khắc phục hạn chế này của BLTTHS năm 2003, Điều 78 BLTTHS năm 2015 quy định rút ngắn thời hạn đăng ký bào chữa chỉ trong 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận đủ giấy tờ thay bằng 03 ngày như BLTTHS năm 2003; đồng thời “Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng...” (Điều 78 BLTTHS năm 2015) đã thay thế cho việc cùng một người bào chữa nhưng để tham gia tố tụng ở mỗi giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì phải được các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải cấp 03 lần giấy chứng nhận người bào chữa cho họ thì đến nay chỉ cần cấp 01 lần cho toàn bộ quá trình tố tụng. Như vậy, quy trình tham gia tố tụng của người bào chữa được quy định nhanh gọn hơn rất nhiều, tạo điều kiện tối đa nhất cho người bị buộc tội được nhanh chóng tiếp xúc với người bào chữa.

Theo: Luật sư NGÔ NGỌC DIỄM Tiến sĩ VŨ THỊ PHƯỢNG

 Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
1016 ngày trước
Khái niệm quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
1.Khái niệm quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữaQuyền là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Theo đó quyền phải có sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; quyền phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định.Cho nên quyền là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của cá nhân, quyền là một phạm trù trung tâm trong thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật và trong đời sống xã hội. Theo sự phát triển của xã hội, phạm vi các quyền của cá nhân ngày càng phát triển theo hướng đa dạng hóa. Tôn trọng các quyền của cá nhân và đảm bảo quyền của cá nhân là nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp và là nội dung quan trọng của quản lí nhà nước, quản lí xã hội trong giai đoạn hiện nay. Như vậy có thể hiểu “quyền” là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.Khi nghiên cứu về quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội phải được đặt trong mối quan hệ pháp luật đối với các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự (đại diện cho Nhà nước) và các chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác. Trong đó, với chức năng quản lí xã hội của mình, Nhà nước có quyền giữ, bắt, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án người nào đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm, ngược lại người đó có nhiều quyền đảm bảo thực hiện bào chữa cho hành vi bị buộc tội trong đó quyền được tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình là một trong những quyền điển hình nhất. Đặc biệt, trong mối quan hệ với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội thì việc được tiếp xúc với người bào chữa là cơ hội tốt nhất để nhóm chủ thể này tiếp cận được pháp lý có lợi cho mình và được tư vấn các vấn đề có liên quan đến quy trình tố tụng, các quyền, nghĩa vụ mà họ phải thực hiện đặc biệt họ sẽ được cung cấp thông tin, chứng cứ cần thiết cho người bào chữa để đảm bảo có lợi nhất khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử họ.Như vậy có thể hiểu quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội là quyền được gặp gỡ, trao đổi những vấn đề liên quan đến vụ án của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội với người bào chữa trên cơ sở được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận trong một giai đoạn nhất định của chuỗi quá trình điều tra, truy tố, xét xử.2. Quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tộiThực tiễn đã chỉ ra, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội khi tiếp xúc với cơ quan tiến hành tố tụng hình sự họ có nguy cơ phải đối diện với loại chế tài nghiêm khắc nhất của pháp luật nên họ thường rơi vào tình trạng hoang mang, lo sợ. Do đó, việc người bào chữa đồng hành cùng nhóm người này trong quá trình tố tụng không chỉ giúp họ ổn định tâm lí mà cao hơn là đem đến “lợi ích pháp lí” khi người bào chữa có khả năng đưa ra các chứng cứ và cơ sở pháp lí có lợi cho. Với trình độ hiểu biết pháp luật và kỹ năng hành nghề, sự có mặt của người bào chữa còn đem đến sự chuẩn xác trong áp dụng pháp luật, hạn chế được bức cung, nhục hình và oan, sai. Vì vậy, khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có nhiều quy định mới, tinh thần pháp luật mới về đảm bảo quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra. Cụ thể:Thứ nhất, quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấpMột người tham gia tố tụng với tư cách là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là khi cơ quan có thẩm quyền điều tra thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với họ và khi đó ngay lập tức các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo Điều 58 BLTTHS năm 2015 sẽ được áp dụng. Trong đó, “quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” cũng sẽ được sử dụng nhưng vì họ chưa phải là người bị buộc tội theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 LTTHS năm 2015 nên quyền được chỉ định người bào chữa chưa đặt ra mà họ chỉ có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tuy nhiên, các quy định về mời người bào chữa trong BLTTHS chỉ đề cập đến trường hợp của người bị buộc tội, bị can, bị cáo mà không đề cấp đến thủ tục mời người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, vấn đề đó đã được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã quy định (gọi tắt là Thông tư số 46/2019/TT- BCA). Theo đó:Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không yêu cầu người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi lập xong biên bản giao nhận Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nhờ người bào chữa thì phải có đơn yêu cầu người bào chữa. Có hai trường hợp xảy ra: một là, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nêu đích danh người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa đó, người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; hai là, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không nêu đích danh người bào chữa thì trong thời hạn 1giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.Về hình thức chuyển đơn: Việc chuyển đơn được thực hiện qua đường bưu chính hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nếu người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích có nhu cầu nhận trực tiếp tại trụ sở cơ quan này và có ký nhận tại sổ giao nhận công văn, tài liệu.Vì tư cách tố tụng của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp tồn tại trong một thời gian rất ngắn, thậm chí có thể sẽ chuyển sang tư cách người bị tạm giữ ngay cả khi đơn mời người bào chữa chưa được gửi đến nơi nhận nên Thông tư 46 nêu trên đã quy định trường hợp “trong quá trình thực hiện việc chuyển đơn, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị áp dụng biện pháp tạm giữ thì việc tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa tiếp tục được thực hiện, không phải làm các thủ tục đăng ký đối với người bị tạm giữ” [3].Bên cạnh đó, Thông tư 46/2019/TT-BCA cũng quy định trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải thông báo cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can biết quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát [4].Thứ hai, quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tộiNgười bị buộc tội tham gia tố tụng khi có các quyết định pháp lý của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (lệnh bắt, quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử). Do đó, để đảm bảo quyền được tranh tụng, chứng minh là mình vô tội pháp luật trao cho người bị buộc tội quyền được tự bào chữa, mời người bào chữa hoặc chỉ định bào chữa. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của quyền này chính là quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Do đó, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều điểm mới, tiến bộ so với BLTTHS năm 2003 trong việc quy định quyền của người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa như sau:Người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa sớm hơn so với quy định trước đâyĐiều 58 BLTTHS năm 2003 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ tức là phụ thuộc vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và điều này có thể dẫn đến người bị buộc tội không có người bào chữa đồng hành trong lần tiếp xúc đầu tiên với cơ quan có thẩm quyền điều tra. Tuy nhiên, Điều 74 BLTTHS năm 2015 đã khắc phục vấn đề này khi quy định: “Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ”. Như vậy, nếu trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì người bào chữa của những người này được tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Có thể thấy, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng hiện nay sớm hơn thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng của BLTTHS năm 2003. quy định mới này đã cụ thể hóa quy định của Điều 31 Hiến pháp năm 2013 về việc “người bị bắt có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”.Mở rộng hơn các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữaBLTTHS năm 2003 chỉ quy định trường hợp bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự và trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (Điều 57 BLTTHS năm 2003), Điều 76 BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa là: “Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình”. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa với trường hợp bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân đã làm tăng cơ hội người bị buộc tội đương nhiên được người bào chữa bảo vệ, qua đó làm tăng các trường hợp được tiếp xúc với người bào chữa.Thủ tục tiếp xúc người bị buộc tội tại giai đoạn điều tra của người bào chữa được nhanh, gọn hơn. Để được tham gia bào chữa, thì thủ tục đăng ký bào chữa là bắt buộc và giấy chứng nhận người bào chữa là cơ sở pháp lí để bắt đầu thời điểm người bào chữa được tham gia tố tụng vụ án, được tiếp xúc với người bị buộc tội trừ trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ chối hoặc yêu cầu thay đổi Luật sư hoặc Luật sư không được tham gia tố tụng ở giai đoạn này theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thủ tục này chính là rào cản vô hình làm chậm lại quá trình được tham gia tố tụng của người bào chữa đồng thời cũng làm chậm lại thời gian được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Khắc phục hạn chế này của BLTTHS năm 2003, Điều 78 BLTTHS năm 2015 quy định rút ngắn thời hạn đăng ký bào chữa chỉ trong 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận đủ giấy tờ thay bằng 03 ngày như BLTTHS năm 2003; đồng thời “Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng...” (Điều 78 BLTTHS năm 2015) đã thay thế cho việc cùng một người bào chữa nhưng để tham gia tố tụng ở mỗi giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì phải được các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải cấp 03 lần giấy chứng nhận người bào chữa cho họ thì đến nay chỉ cần cấp 01 lần cho toàn bộ quá trình tố tụng. Như vậy, quy trình tham gia tố tụng của người bào chữa được quy định nhanh gọn hơn rất nhiều, tạo điều kiện tối đa nhất cho người bị buộc tội được nhanh chóng tiếp xúc với người bào chữa.Theo: Luật sư NGÔ NGỌC DIỄM Tiến sĩ VŨ THỊ PHƯỢNG Link luận án:  Tại đây