0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2e7fe820c2-Quy-định-về-biện-pháp-tạm-giam.jpg

Quy định về biện pháp tạm giam

Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất. Áp dụng đúng đắn biện pháp tạm giam là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bài viết tập trung khái quát những quy định của BLTTHS năm 2015 về thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị về biện pháp tạm giam góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS về biện pháp tạm giam.

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra. Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp luật định nhằm ngăn chặn tội phạm, hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được tiến hành đúng đắn.

Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn của TTHS, tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất (2). Việc áp dụng biện pháp tạm giam luôn gắn liền với những hạn chế về quyền, lợi ích hợp pháp của công dân như: quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử,… Đây là những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận và bảo đảm trong Hiến pháp (3). Do đó, không phải trường hợp nào, tội phạm nào cũng áp dụng biện pháp tạm giam, phải thận trọng và hạn chế áp dụng, như tinh thần Nghị quyết số 08¬NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới quy định (4).

1.Quy định về biện pháp tạm giam

Thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp, biện pháp tạm giam hiện nay được quy định tại mục I, Chương VII của BLTTHS năm 2015. Trong đó: Điều 119 BLTTHS xác định về căn cứ, đối tượng, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam; Những vấn đề liên quan đến việc áp dụng biện pháp tạm giam trong từng giai đoạn tố tụng và thời hạn áp dụng cụ thể được quy định tại các Điều 173, 241, 278, 329, 347 BLTTHS năm 2015; Việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với các chủ thể đặc biệt là người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi và người bị xem xét yêu cầu dẫn độ trong hoạt động hợp tác quốc tế lần được quy định tại Điều 419 và Điều 502 BLTTHS năm 2015. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều quy định cụ thể hơn nhằm đảm bảo tạm giam chỉ được áp dụng trong những trường hợp thật cần thiết, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục. Đáp ứng được đúng yêu cầu của Đảng và Nhà nước đã được thể hiện trong Nghị quyết số 49¬NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là “Xác định rõ căn cứ để tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm”. Cụ thể như sau:

1.1. Thứ nhất, về căn cứ áp dụng.

Trên cơ sở căn cứ tạm giam được quy định tại Khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 tiếp tục quy định tạm giam có thể áp dụng đối với: bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng (5). Riêng đối với đối tượng bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm, BLTTHS năm 2015 đã làm rõ hơn căn cứ khi áp dụng tạm giam là phải có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lí lịch của bị can; bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này6. Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn mở rộng thêm một trường hợp có thể tạm giam là đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã7. Việc mở rộng thêm đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là phù hợp với thực tiễn và chính sách hình sự của nước ta vì trong trường hợp đối tượng phạm tội nhiều lần hoặc sau khi phạm tội bỏ trốn là thể hiện mức cao hơn tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần phải được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nếu xét thấy cần thiết.
Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn quy định bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng phải có đủ hai điều kiện “có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng” thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp được liệt kê tại các điểm a, b, c, d Khoản 4 Điều 119 BLTTHS năm 2015.

Như vậy, BLTTHS năm 2015 cơ bản đã khắc phục được tính định tính trong cách quy định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam tại BLTTHS năm 2003, cơ bản làm sáng tỏ những căn cứ chưa rõ ràng được quy định tại BLTTHS năm 2003 như: “đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm”, “không có căn cứ rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can”. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa căn cứ “cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử” của BLTTHS năm 2003 thành “có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này”. Cách quy định như trên giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dễ dàng hơn trong việc áp dụng pháp luật, hạn chế thấp nhất sự tùy tiện, lạm dụng việc áp dụng biện pháp tạm giam trong giải quyết các vụ án hình sự.

1.2. Thứ hai, về thẩm quyền áp dụng.

Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam được quy định tại Khoản 5 Điều 119 BLTTHS năm 2015. Theo đó, những người có thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam (quy định tại Khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015) có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam, gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp (Trường hợp này, lệnh tạm giam phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành); Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

1.3. Thứ ba, về thời hạn tạm giam.

Thời hạn tạm giam được quy định cụ thể trong từng giai đoạn tố tụng như: điều tra (Điều 173), truy tố (Điều 241), chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 278), sau khi tuyên án (Điều 329), xét xử phúc thẩm (Điều 347). Theo đó, thời hạn tạm giam được xác định theo từng loại tội phạm mà bị can, bị cáo bị khởi tố và thời hạn các giai đoạn tố tụng tương ứng.

Việc quy định về thời hạn tạm giam tại BLTTHS năm 2015 có điểm mới là đã rút ngắn thời hạn gia hạn tạm giam để điều tra so với BLTTHS năm 20038, cụ thể là Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải gia hạn tạm giam thì đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt9 nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng. Việc giảm bớt số lần và rút ngắn thời hạn gia hạn tạm giam để điều tra như trên chính là sự thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 đề cao quyền con người, quyền công dân.

BLTTHS năm 2015 cũng sửa đổi thẩm quyền gia hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong hai trường hợp cụ thể như sau: đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn 02 lần với tổng thời gian tạm giam được gia hạn không quá 08 tháng. Trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia thì thời hạn tạm giam được Viện tưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn được quy định rõ hơn là không quá 04 tháng. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung trường hợp đặc biệt khi không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra (Khoản 5, 6 Điều 173 BLTTHS năm 2015).

1.4. Thứ tư, tạm giam người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.

Điều 419 BLTTHS năm 2015 quy định: Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giam người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại BLTTHS.

Tóm lại, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều điểm mới tiến bộ trong quy định biện pháp tạm giam, đã quy định cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, đã xác định rõ thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam, thu hẹp thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam cũng như quy định cụ thể việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi. Các quy định trên đã cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp được đặt ra trong Nghị quyết số 49/NQ¬TW.

Theo: Ngô Thị Thùy Trang

  Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
969 ngày trước
Quy định về biện pháp tạm giam
Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất. Áp dụng đúng đắn biện pháp tạm giam là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bài viết tập trung khái quát những quy định của BLTTHS năm 2015 về thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị về biện pháp tạm giam góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS về biện pháp tạm giam.Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra. Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp luật định nhằm ngăn chặn tội phạm, hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được tiến hành đúng đắn.Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn của TTHS, tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất (2). Việc áp dụng biện pháp tạm giam luôn gắn liền với những hạn chế về quyền, lợi ích hợp pháp của công dân như: quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử,… Đây là những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận và bảo đảm trong Hiến pháp (3). Do đó, không phải trường hợp nào, tội phạm nào cũng áp dụng biện pháp tạm giam, phải thận trọng và hạn chế áp dụng, như tinh thần Nghị quyết số 08¬NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới quy định (4).1.Quy định về biện pháp tạm giamThực hiện yêu cầu cải cách tư pháp, biện pháp tạm giam hiện nay được quy định tại mục I, Chương VII của BLTTHS năm 2015. Trong đó: Điều 119 BLTTHS xác định về căn cứ, đối tượng, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam; Những vấn đề liên quan đến việc áp dụng biện pháp tạm giam trong từng giai đoạn tố tụng và thời hạn áp dụng cụ thể được quy định tại các Điều 173, 241, 278, 329, 347 BLTTHS năm 2015; Việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với các chủ thể đặc biệt là người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi và người bị xem xét yêu cầu dẫn độ trong hoạt động hợp tác quốc tế lần được quy định tại Điều 419 và Điều 502 BLTTHS năm 2015. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều quy định cụ thể hơn nhằm đảm bảo tạm giam chỉ được áp dụng trong những trường hợp thật cần thiết, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục. Đáp ứng được đúng yêu cầu của Đảng và Nhà nước đã được thể hiện trong Nghị quyết số 49¬NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là “Xác định rõ căn cứ để tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm”. Cụ thể như sau:1.1. Thứ nhất, về căn cứ áp dụng.Trên cơ sở căn cứ tạm giam được quy định tại Khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 tiếp tục quy định tạm giam có thể áp dụng đối với: bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng (5). Riêng đối với đối tượng bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm, BLTTHS năm 2015 đã làm rõ hơn căn cứ khi áp dụng tạm giam là phải có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lí lịch của bị can; bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này6. Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn mở rộng thêm một trường hợp có thể tạm giam là đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã7. Việc mở rộng thêm đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là phù hợp với thực tiễn và chính sách hình sự của nước ta vì trong trường hợp đối tượng phạm tội nhiều lần hoặc sau khi phạm tội bỏ trốn là thể hiện mức cao hơn tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần phải được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nếu xét thấy cần thiết.Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn quy định bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng phải có đủ hai điều kiện “có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng” thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp được liệt kê tại các điểm a, b, c, d Khoản 4 Điều 119 BLTTHS năm 2015.Như vậy, BLTTHS năm 2015 cơ bản đã khắc phục được tính định tính trong cách quy định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam tại BLTTHS năm 2003, cơ bản làm sáng tỏ những căn cứ chưa rõ ràng được quy định tại BLTTHS năm 2003 như: “đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm”, “không có căn cứ rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can”. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa căn cứ “cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử” của BLTTHS năm 2003 thành “có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này”. Cách quy định như trên giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dễ dàng hơn trong việc áp dụng pháp luật, hạn chế thấp nhất sự tùy tiện, lạm dụng việc áp dụng biện pháp tạm giam trong giải quyết các vụ án hình sự.1.2. Thứ hai, về thẩm quyền áp dụng.Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam được quy định tại Khoản 5 Điều 119 BLTTHS năm 2015. Theo đó, những người có thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam (quy định tại Khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015) có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam, gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp (Trường hợp này, lệnh tạm giam phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành); Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.1.3. Thứ ba, về thời hạn tạm giam.Thời hạn tạm giam được quy định cụ thể trong từng giai đoạn tố tụng như: điều tra (Điều 173), truy tố (Điều 241), chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 278), sau khi tuyên án (Điều 329), xét xử phúc thẩm (Điều 347). Theo đó, thời hạn tạm giam được xác định theo từng loại tội phạm mà bị can, bị cáo bị khởi tố và thời hạn các giai đoạn tố tụng tương ứng.Việc quy định về thời hạn tạm giam tại BLTTHS năm 2015 có điểm mới là đã rút ngắn thời hạn gia hạn tạm giam để điều tra so với BLTTHS năm 20038, cụ thể là Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải gia hạn tạm giam thì đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt9 nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng. Việc giảm bớt số lần và rút ngắn thời hạn gia hạn tạm giam để điều tra như trên chính là sự thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 đề cao quyền con người, quyền công dân.BLTTHS năm 2015 cũng sửa đổi thẩm quyền gia hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong hai trường hợp cụ thể như sau: đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn 02 lần với tổng thời gian tạm giam được gia hạn không quá 08 tháng. Trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia thì thời hạn tạm giam được Viện tưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn được quy định rõ hơn là không quá 04 tháng. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung trường hợp đặc biệt khi không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra (Khoản 5, 6 Điều 173 BLTTHS năm 2015).1.4. Thứ tư, tạm giam người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.Điều 419 BLTTHS năm 2015 quy định: Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giam người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại BLTTHS.Tóm lại, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều điểm mới tiến bộ trong quy định biện pháp tạm giam, đã quy định cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, đã xác định rõ thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam, thu hẹp thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam cũng như quy định cụ thể việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi. Các quy định trên đã cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp được đặt ra trong Nghị quyết số 49/NQ¬TW.Theo: Ngô Thị Thùy Trang  Link luận án:  Tại đây