0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2f0023d818-Vai-trò-của-Viện-kiểm-sát-nhân-dân-đối-với-việc-bảo-vệ-quyền-con-người-trong-hoạt-động-áp-dụng-biện-pháp-tạm-giữ,-tạm-giam-ở-giai-đoạn-điều-tra.jpg

Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều tra

1.Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều tra

Việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra xử lý tội phạm, ngăn chặn nhanh chóng, làm rõ tội phạm, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, mặt khác, tạo ra những cơ sở, nền tảng vững chắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Lý giải cho vấn đề này bởi vì khi cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, có nghĩa là hạn chế rất nhiều quyền con người của bị can, bị cáo. Ví dụ, đối tượng là người chưa thành niên phạm tội, vốn dĩ là đối tượng dễ bị tổn thương trong hoạt động tố tụng, đồng thời, là nhóm đối tượng nguy cơ cao bị bức cung, mớm cung. Việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, không chỉ gây ra cho nhóm đối tượng này những chấn động về tâm lý, xáo trộn trạng thái thần kinh mà còn hạn chế rất nhiều quyền con người, quyền công dân cơ bản của người chưa thành niên phạm tội, như quyền được tôn trọng đời sống riêng tư, quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các cơ quan công quyền trong quá trình điều tra, quyền không bị ép buộc phải khai báo chống lại bản thân - quyền được im lặng... Hệ lụy này liên quan trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm cũng như xáo trộn cuộc sống, tâm lý của nhóm đối tượng này.
Do đó, các hoạt động của Viện kiểm sát như kiểm sát chặt chẽ trường hợp, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ, thay thế các biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác; trực tiếp hủy bỏ, thay thế các biện pháp tạm giữ, tạm giam... có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo pháp chế pháp chế xã hội chủ nghĩa, cũng như thể hiện rõ vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát.

Mặt khác, có thể thấy rằng, quyền lực nhà nước ở một khía cạnh nào đó tạo ra một trật tự xã hội, quyền con người được đảm bảo. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, quyền lực trong nhiều trường hợp sẽ bị biến tướng, là cơ hội cho sự lạm quyền, tùy tiện, quan liêu. Đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp, việc tồn tại sự lạm quyền, tùy tiện hay sự quan liêu trong việc áp dụng các biện pháp tố tụng, hoạt động tố tụng, hoạt động kiểm sát sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền con người của chủ thể bị áp dụng. Cụ thể, rất nhiều quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, bị bắt, bị can, bị cáo bị ảnh hưởng như quyền sống; quyền không bị tra tấn hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm; quyền được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng phẩm giá vốn có của con người; quyền không bị ép buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình - quyền được im lặng; quyền không bị trì hoãn và tuân thủ thời hạn; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện và một số quyền khác của người bị hại như quyền được xét xử công bằng, quyền bồi thường thiệt hại...

Pháp luật hiện hành quy định rõ về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động này tại Điều 22 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 501/QĐ-VKSTC ngày 12/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Cụ thể, trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát nhân dân thông qua chức năng, nhiệm vụ sau đây để bảo vệ các quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, tạm giam:

Một là, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật liên quan đến biện pháp tạm giữ, tạm giam. Những nội dung này được quy định rất rõ tại Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Hai là, trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam; hỏi người bị tạm giữ, tạm giam về việc tạm giữ, tạm giam. Quy định này đã khắc phục tính thụ động trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (khi nào cơ quan điều tra chuyển hồ sơ tạm giữ, tạm giam, thì lúc đó Viện kiểm sát mới kiểm sát hồ sơ và có quan điểm về việc giải quyết đó). Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát chủ động phối hợp, yêu cầu cơ quan điều tra, trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam; chủ động yêu cầu trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam; chủ động tiến gặp người bị tạm giữ, tạm giam để xác minh, làm rõ chứng cứ của vụ án, tính xác thực của hồ sơ tạm giữ, tạm giam... Đây là hoạt động vừa trực tiếp bảo vệ quyền và lơi ích của người tạm giữ, tạm giam, đồng thời, là hoạt động mang tính gián tiếp làm hạn chế án oan sai.

Ba là, kiểm tra hồ sơ tạm giữ, tạm giam. Trong hoạt động này, kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát số người bị bắt, bị tạm giữ, bị tạm giam, gia hạn tạm giữ, số người chuyển tạm giam, số người được trả tự do, số người không phê chuẩn lệnh bắt bằng văn bản, kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam, quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến vấn đề tạm giam, tạm giữ... nhằm mục đích phát hiện vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời, bảo vệ lợi ích chính đáng cho người bị tạm giữ, tạm giam.

Bốn là, yêu cầu trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam tự kiểm tra việc tạm giữ, tạm giam và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam; thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam. Hoạt động này tạo ra cơ chế kiểm sát chặt chẽ giữa Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam với người bị tạm giữ, tạm giam. Thông qua cơ chế này, tạo ra tính nghiêm minh của pháp luật, tính răn đe đối với hành vi vi phạm của trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam. Đồng thời, hoạt động này có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, tạm giam. Bởi vì, nếu hoạt động của Viện kiểm sát không tạo ra tính nghiêm minh của pháp luật, quyền lực bị tha hóa trên thực tế dù nhỏ nhưng cũng rất dễ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền và lợi ích cơ bản của nhóm đối tượng này.
Năm là, gặp, hỏi người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người chấp hành án về việc giam, giữ, thi hành án hình sự; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự.

Sáu là, quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam khi không có căn cứ và trái pháp luật. Trong trường hợp, Viện kiểm sát kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam hoặc gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh rằng quyết định tạm giữ, tạm giam của cơ quan tiến hành tố tụng không có căn cứ pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định trả tự do cho nhóm đối tượng này. Trên cơ sở đó, các nguyên tắc tố tụng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bảo đảm trên thực tế, quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được tôn trọng và bảo vệ, mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Bảy là, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, tạm giam đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật. Thực tế đó chứng minh rằng, việc phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật trong giai đoạn điều tra nhằm đưa ra các kháng nghị, kiến nghị hoặc bãi bỏ quyết định vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động ngăn chặn sự lạm quyền, sai sót mang tính khách quan và chủ quan, giúp cho hoạt động xét xử đi đúng hướng, tránh được tình trạng án oan, gây tổn thương đối với bị can, bị cáo, đặc biệt là bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, người chưa thành niên phạm tội.

Tám là, khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.

Chín là, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.

2. Thực tiễn vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều tra

Về thành tựu, Viện kiểm sát các cấp đã chủ động kiểm sát chặt chẽ hơn việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra, hoạt động tạm giữ, tạm giam của các trại giam, tiến hành các hoạt động điều tra, như: Trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, tạm giữ tăng 171%; kiểm sát 100% vụ án hình sự trong suốt quá trình khởi tố, điều tra; số lượng yêu cầu điều tra tăng 3,5%; số vụ án trực tiếp điều tra tăng 35,6%, trực tiếp hỏi cung tăng 152,4%, tham gia hỏi cung tăng 45,1%... Kết quả, các trường hợp bắt, tạm giữ, đã xử lý hình sự đạt 97,3%; tỷ lệ truy tố đúng thời hạn đạt 99,9%, vượt 9,9% chỉ tiêu của Quốc hội; tỷ lệ truy tố đúng tội danh đạt 99,9%, vượt 4,9% chỉ tiêu của Quốc hội; đặc biệt, số bị can phải đình chỉ do không phạm tội giảm 55,3%[1]. Về vấn đề đảm bảo tiêu chuẩn ăn cho phạm nhân, nhìn chung đã đủ định lượng, tiêu chuẩn và đảm bảo vệ sinh, đồng thời, cũng bảo đảm chế độ y tế, thăm gặp, liên lạc điện thoại với thân nhân, cũng như công tác giáo dục pháp luật, tổ chức xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù để tạo ra các điều kiện, tiêu chuẩn giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời can thiệp giải quyết nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng trong quá trình thực thi pháp luật.

Theo: ThS. Nguyễn Phương Nhung

 Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
969 ngày trước
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều tra
1.Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều traViệc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra xử lý tội phạm, ngăn chặn nhanh chóng, làm rõ tội phạm, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, mặt khác, tạo ra những cơ sở, nền tảng vững chắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Lý giải cho vấn đề này bởi vì khi cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, có nghĩa là hạn chế rất nhiều quyền con người của bị can, bị cáo. Ví dụ, đối tượng là người chưa thành niên phạm tội, vốn dĩ là đối tượng dễ bị tổn thương trong hoạt động tố tụng, đồng thời, là nhóm đối tượng nguy cơ cao bị bức cung, mớm cung. Việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, không chỉ gây ra cho nhóm đối tượng này những chấn động về tâm lý, xáo trộn trạng thái thần kinh mà còn hạn chế rất nhiều quyền con người, quyền công dân cơ bản của người chưa thành niên phạm tội, như quyền được tôn trọng đời sống riêng tư, quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các cơ quan công quyền trong quá trình điều tra, quyền không bị ép buộc phải khai báo chống lại bản thân - quyền được im lặng... Hệ lụy này liên quan trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm cũng như xáo trộn cuộc sống, tâm lý của nhóm đối tượng này.Do đó, các hoạt động của Viện kiểm sát như kiểm sát chặt chẽ trường hợp, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ, thay thế các biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác; trực tiếp hủy bỏ, thay thế các biện pháp tạm giữ, tạm giam... có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo pháp chế pháp chế xã hội chủ nghĩa, cũng như thể hiện rõ vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát.Mặt khác, có thể thấy rằng, quyền lực nhà nước ở một khía cạnh nào đó tạo ra một trật tự xã hội, quyền con người được đảm bảo. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, quyền lực trong nhiều trường hợp sẽ bị biến tướng, là cơ hội cho sự lạm quyền, tùy tiện, quan liêu. Đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp, việc tồn tại sự lạm quyền, tùy tiện hay sự quan liêu trong việc áp dụng các biện pháp tố tụng, hoạt động tố tụng, hoạt động kiểm sát sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền con người của chủ thể bị áp dụng. Cụ thể, rất nhiều quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, bị bắt, bị can, bị cáo bị ảnh hưởng như quyền sống; quyền không bị tra tấn hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm; quyền được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng phẩm giá vốn có của con người; quyền không bị ép buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình - quyền được im lặng; quyền không bị trì hoãn và tuân thủ thời hạn; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện và một số quyền khác của người bị hại như quyền được xét xử công bằng, quyền bồi thường thiệt hại...Pháp luật hiện hành quy định rõ về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động này tại Điều 22 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 501/QĐ-VKSTC ngày 12/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Cụ thể, trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát nhân dân thông qua chức năng, nhiệm vụ sau đây để bảo vệ các quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, tạm giam:Một là, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật liên quan đến biện pháp tạm giữ, tạm giam. Những nội dung này được quy định rất rõ tại Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.Hai là, trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam; hỏi người bị tạm giữ, tạm giam về việc tạm giữ, tạm giam. Quy định này đã khắc phục tính thụ động trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (khi nào cơ quan điều tra chuyển hồ sơ tạm giữ, tạm giam, thì lúc đó Viện kiểm sát mới kiểm sát hồ sơ và có quan điểm về việc giải quyết đó). Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát chủ động phối hợp, yêu cầu cơ quan điều tra, trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam; chủ động yêu cầu trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam; chủ động tiến gặp người bị tạm giữ, tạm giam để xác minh, làm rõ chứng cứ của vụ án, tính xác thực của hồ sơ tạm giữ, tạm giam... Đây là hoạt động vừa trực tiếp bảo vệ quyền và lơi ích của người tạm giữ, tạm giam, đồng thời, là hoạt động mang tính gián tiếp làm hạn chế án oan sai.Ba là, kiểm tra hồ sơ tạm giữ, tạm giam. Trong hoạt động này, kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát số người bị bắt, bị tạm giữ, bị tạm giam, gia hạn tạm giữ, số người chuyển tạm giam, số người được trả tự do, số người không phê chuẩn lệnh bắt bằng văn bản, kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam, quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến vấn đề tạm giam, tạm giữ... nhằm mục đích phát hiện vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời, bảo vệ lợi ích chính đáng cho người bị tạm giữ, tạm giam.Bốn là, yêu cầu trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam tự kiểm tra việc tạm giữ, tạm giam và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam; thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam. Hoạt động này tạo ra cơ chế kiểm sát chặt chẽ giữa Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam với người bị tạm giữ, tạm giam. Thông qua cơ chế này, tạo ra tính nghiêm minh của pháp luật, tính răn đe đối với hành vi vi phạm của trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam. Đồng thời, hoạt động này có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, tạm giam. Bởi vì, nếu hoạt động của Viện kiểm sát không tạo ra tính nghiêm minh của pháp luật, quyền lực bị tha hóa trên thực tế dù nhỏ nhưng cũng rất dễ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền và lợi ích cơ bản của nhóm đối tượng này.Năm là, gặp, hỏi người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người chấp hành án về việc giam, giữ, thi hành án hình sự; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự.Sáu là, quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam khi không có căn cứ và trái pháp luật. Trong trường hợp, Viện kiểm sát kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam hoặc gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh rằng quyết định tạm giữ, tạm giam của cơ quan tiến hành tố tụng không có căn cứ pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định trả tự do cho nhóm đối tượng này. Trên cơ sở đó, các nguyên tắc tố tụng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bảo đảm trên thực tế, quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được tôn trọng và bảo vệ, mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.Bảy là, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, tạm giam đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật. Thực tế đó chứng minh rằng, việc phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật trong giai đoạn điều tra nhằm đưa ra các kháng nghị, kiến nghị hoặc bãi bỏ quyết định vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động ngăn chặn sự lạm quyền, sai sót mang tính khách quan và chủ quan, giúp cho hoạt động xét xử đi đúng hướng, tránh được tình trạng án oan, gây tổn thương đối với bị can, bị cáo, đặc biệt là bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, người chưa thành niên phạm tội.Tám là, khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.Chín là, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.2. Thực tiễn vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều traVề thành tựu, Viện kiểm sát các cấp đã chủ động kiểm sát chặt chẽ hơn việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra, hoạt động tạm giữ, tạm giam của các trại giam, tiến hành các hoạt động điều tra, như: Trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, tạm giữ tăng 171%; kiểm sát 100% vụ án hình sự trong suốt quá trình khởi tố, điều tra; số lượng yêu cầu điều tra tăng 3,5%; số vụ án trực tiếp điều tra tăng 35,6%, trực tiếp hỏi cung tăng 152,4%, tham gia hỏi cung tăng 45,1%... Kết quả, các trường hợp bắt, tạm giữ, đã xử lý hình sự đạt 97,3%; tỷ lệ truy tố đúng thời hạn đạt 99,9%, vượt 9,9% chỉ tiêu của Quốc hội; tỷ lệ truy tố đúng tội danh đạt 99,9%, vượt 4,9% chỉ tiêu của Quốc hội; đặc biệt, số bị can phải đình chỉ do không phạm tội giảm 55,3%[1]. Về vấn đề đảm bảo tiêu chuẩn ăn cho phạm nhân, nhìn chung đã đủ định lượng, tiêu chuẩn và đảm bảo vệ sinh, đồng thời, cũng bảo đảm chế độ y tế, thăm gặp, liên lạc điện thoại với thân nhân, cũng như công tác giáo dục pháp luật, tổ chức xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù để tạo ra các điều kiện, tiêu chuẩn giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời can thiệp giải quyết nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng trong quá trình thực thi pháp luật.Theo: ThS. Nguyễn Phương Nhung Link luận án:  Tại đây