Quản lý thực hiện hợp đồng xây dựng ở việt nam: nội dung và các nhân tố ảnh hưởng
Tóm tắt: Hợp đồng xây dựng là công cụ giúp chủ đầu tư nói riêng và các bên giao thầu trong xây dựng nói chung quản lý hoạt động của bên nhận thầu. Bài viết phân tích nội dung công tác quản lý hợp đồng xây dựng theo các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời chỉ ra các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác này để đề xuất những khuyến nghị cho công tác quản lý hợp đồng trong xây dựng được thực hiện tốt hơn.
1. Đặt vấn đề
Hợp đồng xây dựng là văn bản pháp lý, là công cụ giúp chủ đầu tư nói riêng và các bên giao thầu trong xây dựng nói chung quản lý hoạt động của bên nhận thầu. Có thể thấy, công tác quản lý hợp đồng xây dựng đóng vai trò quyết định đến kết quả dự án bởi hầu hết các hoạt động xây dựng được tiến hành bởi nhà thầu thông qua hợp đồng [8]. Trên thế giới, công tác quản lý hợp đồng cũng rất được coi trọng. Ở Việt Nam cũng đã tiếp cận đến vấn đề này thông qua rất nhiều quy định pháp luật hướng dẫn về thành lập, ký kết và quản lý thực hiện hợp đồng xây dựng. Bài báo này sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân tích và tổng kết kinh nghiệm, so sánh..., trình bày một số vấn đề tổng quan về hợp đồng xây dựng ở Việt Nam, xem xét nội dung quản lý hợp đồng xây dựng và trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hợp đồng xây dựng tại Việt Nam.
2. Khái niệm và phân loại hợp đồng xây dựng ở Việt Nam
2.1 Khái niệm
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22/4/2015 nêu rõ rằng “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng” [4]. Trong đó, bên giao thầu được hiểu là chủ đầu tư hoặc đại diện chủ đầu tư, tổng thầu hoặc nhà thầu chính và bên nhận thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính khi bên giao thầu là chủ đầu tư; là nhà thầu phụ khi bên giao thầu là tổng thầu hoặc là nhà thầu chính, bên nhận thầu có thể là liên doanh các nhà thầu.
2.2 Phân loại hợp đồng xây dựng
Tuỳ theo quy mô, tính chất, điều kiện thực hiện của dự án đầu tư xây dựng công trình, loại công việc, các mối quan hệ của các bên, hợp đồng trong hoạt động xây dựng có thể có nhiều loại với nội dung khác nhau. Có thể tóm tắt cách phân loại hợp đồng theo Nghị định số 37/2015/NĐ-CP theo Bảng 1 [4].
3. Vai trò và nội dung của việc quản lý hợp đồng xây dựng
Công tác quản lý hợp đồng xây dựng (hay còn gọi là quản lý thực hiện hợp đồng xây dựng) có vai trò quan trọng đối với việc đảm bảo hiệu quả đầu tư của các dự án đầu tư xây dựng công trình bởi nó có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, tính an toàn và chi phí của các gói thầu là các bộ phận của dự án đầu tư xây dựng. Trong những năm qua, Nhà nước đã kịp thời ban hành khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hợp đồng trong hoạt động xây dựng nhằm hướng dẫn các chủ thể tham gia quá trình đầu tư xây dựng thực hiện việc quản lý hợp đồng xây dựng cũng như điều chỉnh hoạt động này để góp phần đảm bảo hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng.
Để quản lý hợp đồng xây dựng tốt cần phải nắm rõ được nội dung của quản lý hợp đồng. Theo quy định hiện hành, tùy từng loại hợp đồng xây dựng, nội dung quản lý thực hiện hợp đồng có thể bao gồm: hoạt động thương thảo và ký kết hợp đồng, quản lý tiến độ, quản lý chất lượng, quản lý khối lượng và giá hợp đồng, quản lý thanh quyết toán, quản lý về an toàn lao động bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ và quản lý điều chỉnh hợp đồng [4]. Chất lượng quản lý hợp đồng được đánh giá là đạt yêu cầu khi tất cả các nội dung này đều phải được thực hiện tốt và phù hợp với các quy định hiện hành.
3.1 Quản lý quá trình thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng xây dựng
Đây là quá trình rất quan trọng bởi có thương thảo mới có thể làm rõ, đầy đủ và chính xác các nội dung của chủ đầu tư đặt ra cũng như khả năng đáp ứng của nhà thầu, nhằm mục đích có một hợp đồng được lập đầy đủ, chính xác, chặt chẽ và đúng pháp luật mà hai bên đều chấp nhận được, đảm bảo và thuận lợi cho quá trình quản lý hợp đồng của chủ đầu tư và nhà thầu. Quá trình thương thảo cũng nhằm mục đích cụ thể hóa được những yêu cầu mà có thể trong hồ sơ, tài liệu làm căn cứ để hai bên thực hiện còn thiếu, chưa rõ, hoặc không có như thưởng phạt hợp đồng, điều chỉnh hợp đồng, thanh toán, tạm ứng…, Ngoài ra, chủ đầu tư có thể điều đình được về giá hợp đồng cũng như các yêu cầu quan trọng khác về chất lượng, tiến độ, điều chỉnh hợp đồng [1,4,5]. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay ở Việt Nam công tác thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng xây dựng đối với nhiều chủ đầu tư và nhà thầu vẫn chưa thực sự được quan tâm một cách đúng mức hay nói một cách khác là đã coi nhẹ công tác này. Ở nhiều gói thầu, khâu này làm không tốt dẫn đến công trình bị chậm tiến độ, phát sinh khối lượng, giá…, gây ảnh hưởng đến quá trình quản lý thực hiện hợp đồng.Trong một số trường hợp khác, việc không tiến hành thương thảo có thể dẫn đến phát sinh mâu thuẫn trong quá trình thực hiện hợp đồng vì cùng một vấn đề nhưng mỗi bên lại có cách hiểu và diễn giải khác nhau, nếu như hai bên không giải quyết được bằng phương pháp đàm phán, thương lượng có thể dẫn đến tranh chấp, làm chậm tiến độ triển khai dự án, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho tất cả các bên. Việc này đã xảy ra trong một số tình huống thực tế như trong hợp đồng “Xây lắp Trung tâm thể dục thể thao Cầu Đơ, phường Hà Cầu, thành phố Hà Đông, Hà Nội”. Tại điều 5 khoản 5.2 của hợp đồng hai bên đã ký kết thể hiện rằng “thủ tục tạm ứng được thực hiện theo quy định”, tuy nhiên hai bên đã không nêu rõ việc tạm ứng hợp đồng này được áp dụng theo văn bản quy phạm pháp luật nào, rất dễ gây hiểu lầm. Tại điều 10 khoản 10.1 tạm ngừng thực hiện hợp đồng có ghi “mỗi bên có quyền quyết định tạm ngừng hợp đồng do lỗi của bên kia gây ra nhưng phải thông báo cho bên kia biết bằng văn bản và cùng bàn bạc giải quyết để thực hiện đúng nội dung của hợp đồng này, trường hợp bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng không thông báo cho bên còn lại mà việc tạm ngừng này gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên còn lại”; nội dung hợp đồng như vậy không nêu rõ thời gian cụ thể kể từ khi một bên gửi thông báo tạm ngừng đến bên kia mà bên kia không có phản hồi sau thời gian phải được quy định cụ thể thì mới được tạm ngừng, vì tình huống này có thể xảy ra trường hợp là một bên vừa mới gửi thông báo việc tạm ngừng cho bên kia, nhưng bên kia chưa có đủ thời gian để nghiên cứu xem xét thì bên kia mặc định là có thể coi rằng hợp đồng đã được tạm ngừng. Các phân tích trên cho thấy việc quản lý quá trình thương thảo có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý thực hiện hợp đồng.
3.2 Quản lý tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng
Theo quy định hiện nay thì các công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án. Chủ đầu tư và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ [3,4].
Các dự án đầu tư xây dựng hiện nay thường bị chậm tiến độ so với tiến độ của dự án được duyệt, đặc biệt là các dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật. Mỗi dự án bị chậm tiến độ thường do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên có một nguyên nhân chủ quan phổ biến là năng lực quản lý hợp đồng của bản thân chủ đầu tư và năng lực quản lý thi công của nhà thầu thi công công trình chưa tốt. Các nguyên nhân khách quan phổ biến có thể kể đến là tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, thời tiết xấu, quá trình thi công gặp phải các công trình ngầm cần dừng lại để xử lý… Nhưng nếu chủ đầu tư và nhà thầu có năng lực tốt (có đội ngũ cán bộ kỹ sư chuyên môn, trình độ cao nhiều kinh nghiệm về quản lý, tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp tốt, trang thiết bị, máy móc tốt, tài chính tốt…) thì họ sẽ có những biện pháp hợp lý đưa ra mà có thể hạn chế, phòng tránh và giảm thiểu được các nguyên nhân làm chậm việc thực hiện tiến độ hợp đồng xây dựng.
Theo: Lại Văn Lương , Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Đặng Hoàng Mai
Link tham khảo: Tại đây