0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e486feb8c29-Giải-pháp-nâng-cao-hiệu-quả-hoạt-động-thu-hồi-tài-sản-trong-các-vụ-án-tham-nhũng.jpg

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng

 

 (Pháp lý) - Trong những năm gần đây, số vụ án tham nhũng bị khởi tố điều tra, truy tố và xét xử có chiều hướng gia tăng, với giá trị tài sản tham nhũng, thất thoát ngày càng lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho Nhà nước. Quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc chứng minh và thu hồi tài sản bị tham nhũng.

 Bài viết sau đây, Thạc sĩ Lại Sơn Tùng ( Khoa Cảnh sát kinh tế - Học viện Cảnh sát nhân dân) tập trung phân tích những khó khăn, vướng mắc đó và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng.

 Trước năm 2013, kết quả thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng trung bình chỉ đạt khoảng 10% trên tổng số phải thu hồi. Nhưng đến nay, kết quả này đã không ngừng được nâng cao, đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với trước đây, kết quả năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể, kết quả bình quân giai đoạn 2013 – 2020 đạt hơn 32%, đặc biệt là năm 2019 và năm 2020, khi có sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng thành lập 05 Đoàn kiểm tra tại nhiều địa phương, bộ, ngành theo Kế hoạch số 192-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo để kiểm tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện kết quả thu hồi tài sản, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế, khó khăn và chỉ đạo khắc phục. Riêng kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng do Bản Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo trong năm 2020 thì tài sản thu hồi được bằng 61% tổng số tài sản đã thu hồi được trước đây.

 2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc chứng minh, thu hồi tài sản tham nhũng

 Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã gặp không ít khó khăn trong việc chứng minh và thu hồi tài sản bị tham nhũng. Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đó xuất phát từ một số nội dung sau đây:

-  Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát hiện, xác định hành vi tham nhũng

Thứ nhất, quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tội phạm tham nhũng trong thực tiễn cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp nhiều khó khăn trong việc chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội do tội phạm tham nhũng được xếp vào nhóm tội phạm có “xu hướng ẩn” cao. Tính “ẩn” của loại tội phạm này có được xuất phát từ chủ thể có hành vi tham nhũng là chủ thể đặc biệt, cụ thể là những người có chức vụ, quyền hạn, các đối tượng phạm tội cũng thường là những người có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, am hiểu về pháp luật và có nhiều mối quan hệ xã hội sâu rộng có khả năng “che chắn”, “bảo vệ” cho hành vi sai phạm. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các đối tượng thường chuẩn bị rất “chu đáo” và sau khi thực hiện xong thì chúng tìm mọi cách để tiêu hủy tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi sai phạm. Do vậy, việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử đối với hành vi tham nhũng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn.

 Điển hình như vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội (CDC Hà Nội). Từ đầu tháng 02/2020, Nguyễn Nhật Cảm – Giám đốc CDC Hà Nội đã câu kết với các bị cáo đồng phạm thuộc các công ty tư nhân kinh doanh vật tư y tế để thỏa thuận mua bán các máy, thiết bị y tế thuộc gói thầu số 15 cho CDC Hà Nội trước khi thực hiện các quy trình, thủ tục chỉ định thầu thông thường đã gian lận, hợp thức thủ tục thẩm định gói thầu số 15 theo đúng giá do CDC Hà Nội yêu cầu. Sau đó, Nguyễn Nhật Cảm chỉ đạo và giao cho các nhân viên dưới quyền thuộc CDC Hà Nội hợp thức hóa toàn bộ quy trình chỉ định thầu thông thường để Công ty MST trúng thầu theo đúng giá thỏa thuận từ trước, gây hậu quả thiệt hại cho Nhà nước số tiền hơn 5,4 tỷ đồng và gây ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội.

 Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về các tội danh tham nhũng có những điểm, khoản, điều quy định chưa thật sự rõ ràng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh, chứng minh hành vi phạm tội và xác định thiệt hại do tội phạm gây ra. Ví dụ như Khoản 1, Điều 356 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có nêu: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...” nhưng lại không giải thích cụ thể hành vi “gây thiệt hại khác...” ở đây là gì.

 Mặt khác, những người có khả năng cung cấp thông tin, tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm thường là những người ở trong cùng cơ quan, đơn vị, tổ chức với người có hành vi tham nhũng (phần lớn là cấp dưới của người có hành vi sai phạm) lại thường có tâm lý e dè, sợ sệt nếu như tố cáo hành vi sai phạm với cơ quan chức năng có thể họ sẽ bị trả thù, thậm chí bị đuổi việc… dẫn đến nảy sinh sự thiếu tích cực, chủ động của những nhân chứng trong việc phát giác tội phạm. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho tội phạm tham nhũng có xu hướng ẩn cao, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác phát hiện, xử lý hành vi sai phạm và thu hồi tài sản tham nhũng.

 Thứ hai, việc xác định và chứng minh mục đích vụ lợi của các đối tượng phạm tội tham nhũng trong nhiều trường hợp rất khó xác định bởi thói quen dùng tiền mặt ở Việt Nam vẫn còn hết sức phổ biến, trong khi các hành vi sai phạm thường diễn ra theo một chu trình khép kín, chỉ người đưa và người nhận biết mà không qua các giao dịch, chuyển khoản. Mặt khác, thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cho thấy, đối tượng phạm tội tham nhũng thường hoạt động có tổ chức trong đó có sự liên kết, bao che, phân công nhiệm vụ cụ thể giữa các thành viên trong quá trình thực hiện hành vi sai phạm, đồng thời có sự thống nhất về mặt lợi ích từ chủ tài khoản (người đứng đầu mỗi đơn vị) đến kế toán trưởng, thủ quỹ… Do vậy, nếu công tác thanh tra, kiểm tra diễn ra một cách hời hợt, cán bộ thanh tra hạn chế về trình độ chuyên môn thì rất khó khăn trong việc phát hiện và buộc các đối tượng phạm tội thừa nhận hành vi vụ lợi của mình.

 -  Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng

 Xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc phát hiện, xác định hành vi tham nhũng được nêu ở trên đã dẫn đến việc thu hồi tài sản tham nhũng của các cơ quan chức năng cũng gặp không ít trở ngại, cụ thể:

Thứ nhất, việc thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, nhất là trong việc xác định tài sản có nguồn gốc tham nhũng bởi các hành vi tham nhũng thường diễn ra sau nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí trong một khoảng thời gian dài mới bị phát hiện. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử án tham nhũng thường mất rất nhiều thời gian, bị cắt khúc do nhiều cơ quan có chức năng khác nhau thực hiện dẫn tới việc các cơ quan có thẩm quyền không kịp thời áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu giữ, kê biên tài sản của các đối tượng phạm tội theo đúng quy định của pháp luật. Khó khăn này phần nào xuất phát từ việc kiểm soát kê khai minh bạch hóa tài sản của cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan có thẩm quyền chưa được tiến hành một cách quyết liệt, triệt để; thậm chí có đơn vị, địa phương chỉ tiến hành công việc này manh tính chất hình thức. Chính vì vậy đã tạo ra những “kẽ hở” cho các đối tượng phạm tội lợi dụng để dễ dàng tẩu tán tài sản tham nhũng dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư mua cổ phiếu, bất động sản nhưng nhờ người khác đứng tên, chuyển dịch tài sản cho người khác… thậm chí chuyển tiền ra nước ngoài.

Đơn cử như vụ án Tham ô tài xảy ra tại Công ty TNHH Một thành viên vận tải tàu biển viễn dương Vinashinlines. Đối tượng chính trong vụ án này là Giang Kim Đạt – nguyên trưởng phòng kinh doanh của công ty đã lợi dụng việc ký kết các hợp đồng kinh tế với các đối tác nước ngoài thông qua việc mua và cho thuê 9 tàu biển cũ của công ty để chiếm đoạt số tiền hơn 255 tỷ đồng. Điều đáng nói, số tiền chiếm đoạt Giang Kim Đạt sử dụng để mua hơn 40 biệt thự lớn nhỏ cùng hàng chục siêu xe đắt tiền đều do người thân trong gia đình đứng tên.

Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, “văn hóa sử dụng tiền mặt” ở nước ta vẫn còn rất phổ biến; cơ chế minh bạch hóa tài sản vẫn chưa được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lý, thông tư, nghị định cụ thể; khả năng kiểm soát dòng tiền mặt của ngân hàng chưa được tốt… do vậy, việc chứng minh nguồn gốc các tài sản tham nhũng cũng gây không ít khó khăn cho việc thu hồi của các cơ quan chức năng.

Theo: Ths. Lại Sơn Tùng

Link tham khảo:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
931 ngày trước
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng
  (Pháp lý) - Trong những năm gần đây, số vụ án tham nhũng bị khởi tố điều tra, truy tố và xét xử có chiều hướng gia tăng, với giá trị tài sản tham nhũng, thất thoát ngày càng lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho Nhà nước. Quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc chứng minh và thu hồi tài sản bị tham nhũng. Bài viết sau đây, Thạc sĩ Lại Sơn Tùng ( Khoa Cảnh sát kinh tế - Học viện Cảnh sát nhân dân) tập trung phân tích những khó khăn, vướng mắc đó và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng. Trước năm 2013, kết quả thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng trung bình chỉ đạt khoảng 10% trên tổng số phải thu hồi. Nhưng đến nay, kết quả này đã không ngừng được nâng cao, đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với trước đây, kết quả năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể, kết quả bình quân giai đoạn 2013 – 2020 đạt hơn 32%, đặc biệt là năm 2019 và năm 2020, khi có sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng thành lập 05 Đoàn kiểm tra tại nhiều địa phương, bộ, ngành theo Kế hoạch số 192-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo để kiểm tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện kết quả thu hồi tài sản, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế, khó khăn và chỉ đạo khắc phục. Riêng kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng do Bản Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo trong năm 2020 thì tài sản thu hồi được bằng 61% tổng số tài sản đã thu hồi được trước đây. 2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc chứng minh, thu hồi tài sản tham nhũng Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã gặp không ít khó khăn trong việc chứng minh và thu hồi tài sản bị tham nhũng. Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đó xuất phát từ một số nội dung sau đây:-  Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát hiện, xác định hành vi tham nhũngThứ nhất, quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tội phạm tham nhũng trong thực tiễn cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp nhiều khó khăn trong việc chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội do tội phạm tham nhũng được xếp vào nhóm tội phạm có “xu hướng ẩn” cao. Tính “ẩn” của loại tội phạm này có được xuất phát từ chủ thể có hành vi tham nhũng là chủ thể đặc biệt, cụ thể là những người có chức vụ, quyền hạn, các đối tượng phạm tội cũng thường là những người có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, am hiểu về pháp luật và có nhiều mối quan hệ xã hội sâu rộng có khả năng “che chắn”, “bảo vệ” cho hành vi sai phạm. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các đối tượng thường chuẩn bị rất “chu đáo” và sau khi thực hiện xong thì chúng tìm mọi cách để tiêu hủy tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi sai phạm. Do vậy, việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử đối với hành vi tham nhũng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn. Điển hình như vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội (CDC Hà Nội). Từ đầu tháng 02/2020, Nguyễn Nhật Cảm – Giám đốc CDC Hà Nội đã câu kết với các bị cáo đồng phạm thuộc các công ty tư nhân kinh doanh vật tư y tế để thỏa thuận mua bán các máy, thiết bị y tế thuộc gói thầu số 15 cho CDC Hà Nội trước khi thực hiện các quy trình, thủ tục chỉ định thầu thông thường đã gian lận, hợp thức thủ tục thẩm định gói thầu số 15 theo đúng giá do CDC Hà Nội yêu cầu. Sau đó, Nguyễn Nhật Cảm chỉ đạo và giao cho các nhân viên dưới quyền thuộc CDC Hà Nội hợp thức hóa toàn bộ quy trình chỉ định thầu thông thường để Công ty MST trúng thầu theo đúng giá thỏa thuận từ trước, gây hậu quả thiệt hại cho Nhà nước số tiền hơn 5,4 tỷ đồng và gây ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về các tội danh tham nhũng có những điểm, khoản, điều quy định chưa thật sự rõ ràng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh, chứng minh hành vi phạm tội và xác định thiệt hại do tội phạm gây ra. Ví dụ như Khoản 1, Điều 356 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có nêu: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...” nhưng lại không giải thích cụ thể hành vi “gây thiệt hại khác...” ở đây là gì. Mặt khác, những người có khả năng cung cấp thông tin, tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm thường là những người ở trong cùng cơ quan, đơn vị, tổ chức với người có hành vi tham nhũng (phần lớn là cấp dưới của người có hành vi sai phạm) lại thường có tâm lý e dè, sợ sệt nếu như tố cáo hành vi sai phạm với cơ quan chức năng có thể họ sẽ bị trả thù, thậm chí bị đuổi việc… dẫn đến nảy sinh sự thiếu tích cực, chủ động của những nhân chứng trong việc phát giác tội phạm. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho tội phạm tham nhũng có xu hướng ẩn cao, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác phát hiện, xử lý hành vi sai phạm và thu hồi tài sản tham nhũng. Thứ hai, việc xác định và chứng minh mục đích vụ lợi của các đối tượng phạm tội tham nhũng trong nhiều trường hợp rất khó xác định bởi thói quen dùng tiền mặt ở Việt Nam vẫn còn hết sức phổ biến, trong khi các hành vi sai phạm thường diễn ra theo một chu trình khép kín, chỉ người đưa và người nhận biết mà không qua các giao dịch, chuyển khoản. Mặt khác, thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cho thấy, đối tượng phạm tội tham nhũng thường hoạt động có tổ chức trong đó có sự liên kết, bao che, phân công nhiệm vụ cụ thể giữa các thành viên trong quá trình thực hiện hành vi sai phạm, đồng thời có sự thống nhất về mặt lợi ích từ chủ tài khoản (người đứng đầu mỗi đơn vị) đến kế toán trưởng, thủ quỹ… Do vậy, nếu công tác thanh tra, kiểm tra diễn ra một cách hời hợt, cán bộ thanh tra hạn chế về trình độ chuyên môn thì rất khó khăn trong việc phát hiện và buộc các đối tượng phạm tội thừa nhận hành vi vụ lợi của mình. -  Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng Xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc phát hiện, xác định hành vi tham nhũng được nêu ở trên đã dẫn đến việc thu hồi tài sản tham nhũng của các cơ quan chức năng cũng gặp không ít trở ngại, cụ thể:Thứ nhất, việc thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, nhất là trong việc xác định tài sản có nguồn gốc tham nhũng bởi các hành vi tham nhũng thường diễn ra sau nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí trong một khoảng thời gian dài mới bị phát hiện. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử án tham nhũng thường mất rất nhiều thời gian, bị cắt khúc do nhiều cơ quan có chức năng khác nhau thực hiện dẫn tới việc các cơ quan có thẩm quyền không kịp thời áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu giữ, kê biên tài sản của các đối tượng phạm tội theo đúng quy định của pháp luật. Khó khăn này phần nào xuất phát từ việc kiểm soát kê khai minh bạch hóa tài sản của cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan có thẩm quyền chưa được tiến hành một cách quyết liệt, triệt để; thậm chí có đơn vị, địa phương chỉ tiến hành công việc này manh tính chất hình thức. Chính vì vậy đã tạo ra những “kẽ hở” cho các đối tượng phạm tội lợi dụng để dễ dàng tẩu tán tài sản tham nhũng dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư mua cổ phiếu, bất động sản nhưng nhờ người khác đứng tên, chuyển dịch tài sản cho người khác… thậm chí chuyển tiền ra nước ngoài.Đơn cử như vụ án Tham ô tài xảy ra tại Công ty TNHH Một thành viên vận tải tàu biển viễn dương Vinashinlines. Đối tượng chính trong vụ án này là Giang Kim Đạt – nguyên trưởng phòng kinh doanh của công ty đã lợi dụng việc ký kết các hợp đồng kinh tế với các đối tác nước ngoài thông qua việc mua và cho thuê 9 tàu biển cũ của công ty để chiếm đoạt số tiền hơn 255 tỷ đồng. Điều đáng nói, số tiền chiếm đoạt Giang Kim Đạt sử dụng để mua hơn 40 biệt thự lớn nhỏ cùng hàng chục siêu xe đắt tiền đều do người thân trong gia đình đứng tên.Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, “văn hóa sử dụng tiền mặt” ở nước ta vẫn còn rất phổ biến; cơ chế minh bạch hóa tài sản vẫn chưa được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lý, thông tư, nghị định cụ thể; khả năng kiểm soát dòng tiền mặt của ngân hàng chưa được tốt… do vậy, việc chứng minh nguồn gốc các tài sản tham nhũng cũng gây không ít khó khăn cho việc thu hồi của các cơ quan chức năng.Theo: Ths. Lại Sơn TùngLink tham khảo:  Tại đây