0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e719db4afcb-https-::drive.google.com:uc?id=1mRSB4JUeAMDXrOw_Q71ziugvVczaA-KE.jpeg

Khái niệm và bản chất của tổ chức tài chính vi mô

2.2. Khái niệm và bản chất của tổ chức tài chính vi mô

Mặc dù TCVM đã có một khoảng thời gian tồn tại khá dài song một cách hiểu thống nhất về khái niệm tổ chức TCVM vẫn chưa được xác định mà hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này:

Theo NH phát triển châu Á (ADB) thì “Tổ chức TCVM là các tổ chức có hoạt động kinh doanh chủ yếu về TCVM” và cơ quan này cũng xác định TCVM không chỉ được cung ứng bởi các tổ chức TCVM mà trái lại, có tới ba nguồn cung ứng dịch vụ TCVM bao gồm: các tổ chức chính thức, ví dụ các NH và các hợp tác xã; các tổ chức bán chính thức, ví dụ như các tổ chức phi chính phủ; và nguồn không chính thức, như những người cho vay tiền và chủ hiệu [43, Tr. 1].

Ở một cách tiếp cận khác, CGAP cho rằng các tổ chức TCVM bao gồm các NHTM và các NH phát triển nhà nước cung cấp dịch vụ TCVM (các tổ chức TCVM NH) và các hợp tác xã tài chính gồm các hiệp hội tín dụng, các tổ chức được cấp giấy phép và không được cấp giấy phép khác (các tổ chức TCVM phi NH) [73, Tr. 1]. Bằng cách liệt kê này, CGAP cho chúng ta cách hiểu tổ chức TCVM là một tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM mà không cần bận tâm đến việc TCVM có phải là hoạt động chủ yếu của tổ chức đó hay không.

Mặc dù không đưa ra cách lý giải trực tiếp thế nào là tổ chức TCVM nhưng Microfinance network (Mạng lưới TCVM - MFN) liệt kê các tổ chức TCVM bao gồm nhiều loại hình tổ chức. Đó có thể là những chương trình TCVM phi lợi nhuận hình thành nên các tổ chức TCVM chính thức, các NH của Chính phủ có bộ phận hoạt động TCVM, các NHTM thành lập các đơn vị phụ thuộc hoạt động TCVM, và các hiệp hội tín dụng [75, Tr. 2].

Qua các cách lý giải trên đây chúng ta thấy dường như thế giới ít quan tâm đến việc lý giải cặn kẽ thế nào là một tổ chức TCVM mà chú ý nhiều hơn đến việc xác định dịch vụ TCVM được cung ứng bởi những nguồn nào. Thực tiễn này cho thấy vẫn không có được sự thống nhất về mặt tiêu chí để xác định thế nào là một tổ chức TCVM mà vẫn tồn tại hai cách lý giải:

Thứ nhất, tổ chức TCVM là tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM – TCVM chỉ là một trong số các dịch vụ mà tổ chức này cung ứng;

Thứ hai, tổ chức TCVM là những tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM như là hoạt động kinh doanh cốt lõi (thậm chí có thể là duy nhất).

Như vậy, mặc dù đã xác định tầm quan trọng của TCVM trong công cuộc chống đói nghèo như: “Phương pháp cấp tín dụng sử dụng các cơ chế hiệu quả thay thế vật thế chấp để phân phối và thu hồi vốn vay kinh doanh ngắn hạn cho các nhà doanh nghiệp nhỏ13 (hoặc doanh nghiệp nhỏ tiềm năng), với triển vọng là những doanh nghiệp nhỏ của khách hàng sẽ tăng trưởng, tạo thu nhập cho họ và đôi khi tạo thêm việc làm, đưa người nghèo thoát khỏi nghèo khổ” [30] thì đương nhiên việc xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi cho TCVM cũng là điều đã phải được tính đến, trong đó bao hàm cả quy chế pháp lý rõ ràng cho tổ chức TCVM. Mặc dù vậy, cho đến nay, việc xác định thế nào là tổ chức TCVM vẫn là sự lựa chọn dành riêng cho từng quốc gia quan tâm.

Ở Việt Nam, trong một khoảng thời gian khá dài chúng ta không có các quy định pháp luật cần thiết để điều chỉnh đến hoạt động TCVM thì đương nhiên, cũng không có một cách hiểu mang tính pháp lý về tổ chức TCVM. Các học giả Việt Nam khi thực hiện các nghiên cứu về lĩnh vực này cũng chịu tác động của những cách tiếp cận phổ biến trên thế giới về tổ chức TCVM, theo đó họ hiểu, bất cứ tổ chức nào cung ứng các dịch vụ tài chính, NH nhỏ cho đối tượng khách hàng là những người có thu nhập thấp trong xã hội thì đều được gọi là tổ chức TCVM. Theo đó, tổ chức TCVM bao gồm ba nhóm: (i) các tổ chức TCVM chính thức (bao gồm các tổ chức được cấp phép để thực hiện các hoạt động tài chính – NH vì được quản lý với tính cách/như là một TCTD); (ii) các tổ chức TCVM bán chính thức (bao gồm các tổ chức được cấp phép không phải là các TCTD nhưng được phép thực hiện một, một số các hoạt động TCVM) và (iii) các tổ chức TCVM không chính thức (bao gồm các chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM mang tính tự phát, không trên

cơ sở sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) [4, Tr. 24,25]. Với cách tiếp cận này, đã xuất hiện quan điểm cho rằng, tổ chức TCVM ở Việt Nam bao gồm cả NHHTX, các Quỹ tín dụng nhân dân; Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, Hội Nông dân VN, Hội Cựu chiến binh VN, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh14 rồi hụi họ biêu phường….[60].

Cách lý giải về tổ chức TCVM nêu trên khá rộng và dường như, bất kỳ một chủ thể nào bao hàm cả các tổ chức, cá nhân và nhóm tự phát nếu thực hiện việc cung ứng dịch vụ tài chính – NH cho đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội đều được coi là tổ chức TCVM, thậm chí trong đó có cả những chủ thể không phải là một tổ chức thực thụ. Tuy nhiên, đây lại là cách tiếp cận đến TCVM của khá nhiều quốc gia trên thế giới [88] hiện nay.

Rõ ràng, cách tiếp cận trên đây cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về các nguồn cung cấp dịch vụ TCVM trong xã hội song nếu coi tất cả các nguồn đó là tổ chức TCVM thì sẽ không dễ cho nhà làm luật xây dựng một quy chế pháp lý chuẩn để có thể áp dụng chung cho tất cả những nguồn cung cấp dịch vụ TCVM đó. Chính bởi vậy, khi văn bản đầu tiên của Việt Nam được ban hành để điều chỉnh về TCVM

- Nghị định 28/2005/NĐ-CP - được ban hành thì Khoản 2 Điều 2 văn bản này đã xác định:

“Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, NH, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp.”

Một định nghĩa cho dù thực sự chưa rõ ràng để hiểu khi mà ngay từ tên gọi đã có sự khác biệt với thông lệ quốc tế đến nội hàm được xác định khá phức tạp song cũng có thể coi, đây chính là nền móng cho việc tiếp cận đến khái niệm tổ chức TCVM ở Việt Nam.

Khi Luật các TCTD năm 2010 được ban hành thì TCVM và tổ chức TCVM được quy định rõ ràng hơn và dường như, đúng đắn hơn khi đã trả lại cho lĩnh vực này tên gọi vốn có của nó theo thông lệ quốc tế. Khoản 5 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 quy định:

“Tổ chức TCVM là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động NH nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.”

Chúng tôi cho rằng, sự xuất hiện của quy định này là một điều hết sức cần thiết cho ngành TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay bởi lẽ đã tạo ra một cách hiểu thống nhất về một khái niệm vốn vẫn đang được tiếp cận theo những cách thức rất khác nhau. Bên cạnh đó, cách hiểu thống nhất về khái niệm tổ chức TCVM cũng giúp cho chúng ta có cơ sở để xây dựng quy chế pháp lý cho chủ thể này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức TCVM nói riêng và hoạt động của ngành TCVM nói chung, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo một cách bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo: Nguyễn Thái Hà

Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
929 ngày trước
Khái niệm và bản chất của tổ chức tài chính vi mô
2.2. Khái niệm và bản chất của tổ chức tài chính vi môMặc dù TCVM đã có một khoảng thời gian tồn tại khá dài song một cách hiểu thống nhất về khái niệm tổ chức TCVM vẫn chưa được xác định mà hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này:Theo NH phát triển châu Á (ADB) thì “Tổ chức TCVM là các tổ chức có hoạt động kinh doanh chủ yếu về TCVM” và cơ quan này cũng xác định TCVM không chỉ được cung ứng bởi các tổ chức TCVM mà trái lại, có tới ba nguồn cung ứng dịch vụ TCVM bao gồm: các tổ chức chính thức, ví dụ các NH và các hợp tác xã; các tổ chức bán chính thức, ví dụ như các tổ chức phi chính phủ; và nguồn không chính thức, như những người cho vay tiền và chủ hiệu [43, Tr. 1].Ở một cách tiếp cận khác, CGAP cho rằng các tổ chức TCVM bao gồm các NHTM và các NH phát triển nhà nước cung cấp dịch vụ TCVM (các tổ chức TCVM NH) và các hợp tác xã tài chính gồm các hiệp hội tín dụng, các tổ chức được cấp giấy phép và không được cấp giấy phép khác (các tổ chức TCVM phi NH) [73, Tr. 1]. Bằng cách liệt kê này, CGAP cho chúng ta cách hiểu tổ chức TCVM là một tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM mà không cần bận tâm đến việc TCVM có phải là hoạt động chủ yếu của tổ chức đó hay không.Mặc dù không đưa ra cách lý giải trực tiếp thế nào là tổ chức TCVM nhưng Microfinance network (Mạng lưới TCVM - MFN) liệt kê các tổ chức TCVM bao gồm nhiều loại hình tổ chức. Đó có thể là những chương trình TCVM phi lợi nhuận hình thành nên các tổ chức TCVM chính thức, các NH của Chính phủ có bộ phận hoạt động TCVM, các NHTM thành lập các đơn vị phụ thuộc hoạt động TCVM, và các hiệp hội tín dụng [75, Tr. 2].Qua các cách lý giải trên đây chúng ta thấy dường như thế giới ít quan tâm đến việc lý giải cặn kẽ thế nào là một tổ chức TCVM mà chú ý nhiều hơn đến việc xác định dịch vụ TCVM được cung ứng bởi những nguồn nào. Thực tiễn này cho thấy vẫn không có được sự thống nhất về mặt tiêu chí để xác định thế nào là một tổ chức TCVM mà vẫn tồn tại hai cách lý giải:Thứ nhất, tổ chức TCVM là tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM – TCVM chỉ là một trong số các dịch vụ mà tổ chức này cung ứng;Thứ hai, tổ chức TCVM là những tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM như là hoạt động kinh doanh cốt lõi (thậm chí có thể là duy nhất).Như vậy, mặc dù đã xác định tầm quan trọng của TCVM trong công cuộc chống đói nghèo như: “Phương pháp cấp tín dụng sử dụng các cơ chế hiệu quả thay thế vật thế chấp để phân phối và thu hồi vốn vay kinh doanh ngắn hạn cho các nhà doanh nghiệp nhỏ13 (hoặc doanh nghiệp nhỏ tiềm năng), với triển vọng là những doanh nghiệp nhỏ của khách hàng sẽ tăng trưởng, tạo thu nhập cho họ và đôi khi tạo thêm việc làm, đưa người nghèo thoát khỏi nghèo khổ” [30] thì đương nhiên việc xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi cho TCVM cũng là điều đã phải được tính đến, trong đó bao hàm cả quy chế pháp lý rõ ràng cho tổ chức TCVM. Mặc dù vậy, cho đến nay, việc xác định thế nào là tổ chức TCVM vẫn là sự lựa chọn dành riêng cho từng quốc gia quan tâm.Ở Việt Nam, trong một khoảng thời gian khá dài chúng ta không có các quy định pháp luật cần thiết để điều chỉnh đến hoạt động TCVM thì đương nhiên, cũng không có một cách hiểu mang tính pháp lý về tổ chức TCVM. Các học giả Việt Nam khi thực hiện các nghiên cứu về lĩnh vực này cũng chịu tác động của những cách tiếp cận phổ biến trên thế giới về tổ chức TCVM, theo đó họ hiểu, bất cứ tổ chức nào cung ứng các dịch vụ tài chính, NH nhỏ cho đối tượng khách hàng là những người có thu nhập thấp trong xã hội thì đều được gọi là tổ chức TCVM. Theo đó, tổ chức TCVM bao gồm ba nhóm: (i) các tổ chức TCVM chính thức (bao gồm các tổ chức được cấp phép để thực hiện các hoạt động tài chính – NH vì được quản lý với tính cách/như là một TCTD); (ii) các tổ chức TCVM bán chính thức (bao gồm các tổ chức được cấp phép không phải là các TCTD nhưng được phép thực hiện một, một số các hoạt động TCVM) và (iii) các tổ chức TCVM không chính thức (bao gồm các chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM mang tính tự phát, không trêncơ sở sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) [4, Tr. 24,25]. Với cách tiếp cận này, đã xuất hiện quan điểm cho rằng, tổ chức TCVM ở Việt Nam bao gồm cả NHHTX, các Quỹ tín dụng nhân dân; Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, Hội Nông dân VN, Hội Cựu chiến binh VN, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh14 rồi hụi họ biêu phường….[60].Cách lý giải về tổ chức TCVM nêu trên khá rộng và dường như, bất kỳ một chủ thể nào bao hàm cả các tổ chức, cá nhân và nhóm tự phát nếu thực hiện việc cung ứng dịch vụ tài chính – NH cho đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội đều được coi là tổ chức TCVM, thậm chí trong đó có cả những chủ thể không phải là một tổ chức thực thụ. Tuy nhiên, đây lại là cách tiếp cận đến TCVM của khá nhiều quốc gia trên thế giới [88] hiện nay.Rõ ràng, cách tiếp cận trên đây cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về các nguồn cung cấp dịch vụ TCVM trong xã hội song nếu coi tất cả các nguồn đó là tổ chức TCVM thì sẽ không dễ cho nhà làm luật xây dựng một quy chế pháp lý chuẩn để có thể áp dụng chung cho tất cả những nguồn cung cấp dịch vụ TCVM đó. Chính bởi vậy, khi văn bản đầu tiên của Việt Nam được ban hành để điều chỉnh về TCVM- Nghị định 28/2005/NĐ-CP - được ban hành thì Khoản 2 Điều 2 văn bản này đã xác định:“Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, NH, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp.”Một định nghĩa cho dù thực sự chưa rõ ràng để hiểu khi mà ngay từ tên gọi đã có sự khác biệt với thông lệ quốc tế đến nội hàm được xác định khá phức tạp song cũng có thể coi, đây chính là nền móng cho việc tiếp cận đến khái niệm tổ chức TCVM ở Việt Nam.Khi Luật các TCTD năm 2010 được ban hành thì TCVM và tổ chức TCVM được quy định rõ ràng hơn và dường như, đúng đắn hơn khi đã trả lại cho lĩnh vực này tên gọi vốn có của nó theo thông lệ quốc tế. Khoản 5 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 quy định:“Tổ chức TCVM là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động NH nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.”Chúng tôi cho rằng, sự xuất hiện của quy định này là một điều hết sức cần thiết cho ngành TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay bởi lẽ đã tạo ra một cách hiểu thống nhất về một khái niệm vốn vẫn đang được tiếp cận theo những cách thức rất khác nhau. Bên cạnh đó, cách hiểu thống nhất về khái niệm tổ chức TCVM cũng giúp cho chúng ta có cơ sở để xây dựng quy chế pháp lý cho chủ thể này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức TCVM nói riêng và hoạt động của ngành TCVM nói chung, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo một cách bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.Theo: Nguyễn Thái HàLink luận án:  Tại đây