0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e71b2c53576-Thành-lập,-tổ-chức-lại,-giải-thể-và-phá-sản-tổ-chức-tài-chính-vi-mô.jpeg

Thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản tổ chức tài chính vi mô

3. Thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản tổ chức tài chính vi mô

3.1. Thành lập tổ chức tài chính vi mô

Chủ thể được quyền thành lập tổ chức tài chính vi mô:

Mặc dù cũng là một doanh nghiệp thực thụ khi tổ chức TCVM phải tồn tại bằng chính những đồng lợi nhuận kiếm được từ hoạt động kinh doanh nhưng không giống như những doanh nghiệp khác (có thể được hình thành bởi sự đầu tư/góp vốn của bất kỳ nhà đầu tư nào không thuộc phạm vi quy định tại Khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014), tổ chức TCVM chỉ có thể được hình thành nếu có sự tham gia đầu tư/góp vốn của một số chủ thể được pháp luật quy định. Cụ thể, theo quy định tại Điều 2 Nghị định 28 thì để một tổ chức TCVM được thành lập, cần phải có sự tham gia đầu tư/góp vốn của ít nhất một trong số các tổ chức sau đây: (i) Tổ chức chính trị - xã hội; (ii) tổ chức xã hội; (iii) tổ chức xã hội - nghề nghiệp; (iv) Quỹ từ thiện; (v) Quỹ xã hội hoặc (vi) Tổ chức phi chính phủ Việt Nam30. Điều này có nghĩa là, đối với tổ chức TCVM một thành viên thì chủ sở hữu bắt buộc phải là một trong các chủ thể nêu trên còn đối với tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên thì cũng cần ít nhất một trong các chủ thể nêu trên cũng tham gia góp vốn đầu tư với các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội. Đây chính là một trong những điểm đặc thù của tổ chức TCVM so với các doanh nghiệp khác trong xã hội, thậm chí là với chính các TCTD khác.

3.2. Trình tự thành lập tổ chức tài chính vi mô

Cũng giống như việc thành lập bất kỳ một TCTD nào khác, việc thành lập tổ chức TCVM cũng được thực hiện qua những trình tự đặc biệt được quy định bởi pháp luật chuyên ngành mà không phải chỉ là những quy định về doanh nghiệp nói chung. Theo quy định của các văn bản về TCVM hiện hành, việc thành lập một tổ chức TCVM phải được diễn ra qua các giai đoạn sau đây:

Giai đoạn thứ nhất: Đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM.

Ở giai đoạn này, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thành lập tổ chức TCVM phải tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật để được nhận Giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền (NHNN Việt Nam – Điều 18 Luật các TCTD 2010 và Khoản 11 Điều 2 Nghị định 28). Cụ thể, hiện nay vấn đề cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCVM được quy định khá chi tiết tại Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02, theo đó, vấn đề cấp giấy phép thành lập tổ chức TCVM được thực hiện theo trình tự:

Bước thứ nhất: Các cá nhân, tổ chức có nhu cầu lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCVM bao gồm các giấy tờ quy định tại Điều 9 Nghị định 28 và Điểm 10 Mục II Thông tư 02:

Các cá nhân, tổ chức có nhu cầu hoạt động TCVM phải lập hai (02) bộ hồ sơ với các giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp luật bằng tiếng Việt (đối với tổ chức TCVM có sự tham gia của bên nước ngoài thì số bộ hồ sơ là ba (03) trong đó có hai bộ bằng tiếng Việt và một bộ bằng tiếng Anh) và nộp đến cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCVM là NHNN Việt Nam.

Về nguyên tắc, bộ hồ sơ gồm đầy đủ các giấy tờ nêu trên được coi là hồ sơ hợp lệ song, theo quy định tại Điểm 10.8 Thông tư 02 thì NHNN có quyền yêu cầu bổ sung thông tin khi xét thấy cần thiết. Theo chúng tôi, đây là một quy định chưa thực sự hợp lý và đầy đủ vì, thuật ngữ “bổ sung thông tin” ở đây chúng ta có thể hiểu là việc yêu cầu giải trình một số thông tin chưa rõ hoặc cũng có thể hiểu là cung cấp thêm các giấy tờ nào đó, ngoài các giấy tờ đã được quy định ở trên. Như vậy, quy định này hoàn toàn có thể sẽ dẫn đến hiện tượng sách nhiễu từ phía cơ quan công quyền đối với các chủ thể đề nghị thành lập tổ chức TCVM.

Bước thứ hai: NHNN xem xét điều kiện để quyết định việc cấp/không cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM.

Ở bước này, NHNN sẽ phải tiến hành xem xét và thông báo cho người nộp hồ sơ biết về tính hợp lệ của hồ sơ hoặc những yêu cầu cần sửa đổi, bổ sung trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Thông báo của NHNN phải bằng văn bản và, trong trường hợp xác định hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức TCVM là hợp lệ NHNN phải tiến hành xem xét các điều kiện cần thiết để quyết định việc cấp/không cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức TCVM cho người đề nghị trong thời hạn sáu mươi (60) ngày làm việc kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép thì NHNN cũng phải có văn bản nêu rõ lý do từ chối.

Cần phải lưu ý rằng, việc có được một bộ hồ sơ hợp lệ chưa đủ để NHNN tiến hành cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức TCVM cho người đề nghị: đây mới chỉ là điều kiện cần mà chưa phải là điều kiện đủ. Để có thể nhận được giấy phép từ phía NHNN thì những chủ thể đề nghị cấp giấy phép và tổ chức TCVM dự định thành lập phải đáp ứng được những điều kiện luật định. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 20 Luật các TCTD thì những điều kiện này sẽ do NHNN quy định. Hiện nay, những điều kiện để tổ chức TCVM có thể được cấp giấy phép thành lập và hoạt động đang được quy định tại Điều 8 Nghị định 28; Khoản 5 Điều 1 Nghị định 165 và được cụ thể hóa tại Khoản 9 Mục II Thông tư 02. Cụ thể:

Điều kiện thứ nhất: Có nhu cầu về hoạt động TCVM. Thực sự, quy định này là rất không cần thiết vì có khi nào, không có nhu cầu hoạt động TCVM mà các chủ thể vẫn tiến hành thủ tục thành lập tổ chức TCVM? Rõ ràng, chỉ khi có nhu cầu hoạt động TCVM thì các các cá nhân, tổ chức mới tiến hành thủ tục đề nghị thành lập tổ chức TCVM mà thôi. Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc đưa ra quy định này như một điều kiện để xem xét cấp giấy phép thành lập tổ chức TCVM là thừa vì mặc nhiên nó đã được đáp ứng khi xuất hiện bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép;

Điều kiện thứ hai: Có ý kiến của Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi dự kiến đặt trụ sở chính của tổ chức TCVM về sự cần thiết thành lập tổ chức này trên địa bàn. Đây chính là nội dung thể hiện sự cần thiết của việc thành lập tổ chức TCVM trên địa bàn mà tổ chức TCVM dự định đặt trụ sở chính. Nói một cách khác, điều kiện này thể hiện nhu cầu cần phải có hoạt động TCVM tại địa phương. Tuy nhiên, việc quy định đây là một điều kiện để xem xét, quyết định cấp giấy phép cho tổ chức TCVM cũng không phải là quy định khoa học vì, trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM, đây chính là một loại giấy tờ cần phải có để đảm bảo tính hợp lệ của hồ sơ. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, không nhất thiết phải có quy định này mà, nên thay quy định này và một số các quy định khác (sẽ được trình bày dưới đây) bằng một điều kiện là “có hồ sơ hợp lệ” là đủ;

Điều kiện thứ ba: Có vốn điều lệ tối thiểu năm (05) tỷ VND. Đây là lĩnh vực kinh doanh khá nhạy cảm (về bản chất là hoạt động NH) nên pháp luật có đưa ra mức vốn pháp định cho hoạt động kinh doanh này là năm (05) tỷ VND - Khoản 2 Điều 1 Nghị định 165 - nhằm góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức TCVM. Vì vậy, để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, tổ chức TCVM buộc phải có mức vốn điều lệ từ năm (05) tỷ VND trở lên;

Theo: Nguyễn Thái Hà

Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
965 ngày trước
Thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản tổ chức tài chính vi mô
3. Thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản tổ chức tài chính vi mô3.1. Thành lập tổ chức tài chính vi môChủ thể được quyền thành lập tổ chức tài chính vi mô:Mặc dù cũng là một doanh nghiệp thực thụ khi tổ chức TCVM phải tồn tại bằng chính những đồng lợi nhuận kiếm được từ hoạt động kinh doanh nhưng không giống như những doanh nghiệp khác (có thể được hình thành bởi sự đầu tư/góp vốn của bất kỳ nhà đầu tư nào không thuộc phạm vi quy định tại Khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014), tổ chức TCVM chỉ có thể được hình thành nếu có sự tham gia đầu tư/góp vốn của một số chủ thể được pháp luật quy định. Cụ thể, theo quy định tại Điều 2 Nghị định 28 thì để một tổ chức TCVM được thành lập, cần phải có sự tham gia đầu tư/góp vốn của ít nhất một trong số các tổ chức sau đây: (i) Tổ chức chính trị - xã hội; (ii) tổ chức xã hội; (iii) tổ chức xã hội - nghề nghiệp; (iv) Quỹ từ thiện; (v) Quỹ xã hội hoặc (vi) Tổ chức phi chính phủ Việt Nam30. Điều này có nghĩa là, đối với tổ chức TCVM một thành viên thì chủ sở hữu bắt buộc phải là một trong các chủ thể nêu trên còn đối với tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên thì cũng cần ít nhất một trong các chủ thể nêu trên cũng tham gia góp vốn đầu tư với các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội. Đây chính là một trong những điểm đặc thù của tổ chức TCVM so với các doanh nghiệp khác trong xã hội, thậm chí là với chính các TCTD khác.3.2. Trình tự thành lập tổ chức tài chính vi môCũng giống như việc thành lập bất kỳ một TCTD nào khác, việc thành lập tổ chức TCVM cũng được thực hiện qua những trình tự đặc biệt được quy định bởi pháp luật chuyên ngành mà không phải chỉ là những quy định về doanh nghiệp nói chung. Theo quy định của các văn bản về TCVM hiện hành, việc thành lập một tổ chức TCVM phải được diễn ra qua các giai đoạn sau đây:Giai đoạn thứ nhất: Đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM.Ở giai đoạn này, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thành lập tổ chức TCVM phải tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật để được nhận Giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền (NHNN Việt Nam – Điều 18 Luật các TCTD 2010 và Khoản 11 Điều 2 Nghị định 28). Cụ thể, hiện nay vấn đề cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCVM được quy định khá chi tiết tại Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02, theo đó, vấn đề cấp giấy phép thành lập tổ chức TCVM được thực hiện theo trình tự:Bước thứ nhất: Các cá nhân, tổ chức có nhu cầu lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCVM bao gồm các giấy tờ quy định tại Điều 9 Nghị định 28 và Điểm 10 Mục II Thông tư 02:Các cá nhân, tổ chức có nhu cầu hoạt động TCVM phải lập hai (02) bộ hồ sơ với các giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp luật bằng tiếng Việt (đối với tổ chức TCVM có sự tham gia của bên nước ngoài thì số bộ hồ sơ là ba (03) trong đó có hai bộ bằng tiếng Việt và một bộ bằng tiếng Anh) và nộp đến cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCVM là NHNN Việt Nam.Về nguyên tắc, bộ hồ sơ gồm đầy đủ các giấy tờ nêu trên được coi là hồ sơ hợp lệ song, theo quy định tại Điểm 10.8 Thông tư 02 thì NHNN có quyền yêu cầu bổ sung thông tin khi xét thấy cần thiết. Theo chúng tôi, đây là một quy định chưa thực sự hợp lý và đầy đủ vì, thuật ngữ “bổ sung thông tin” ở đây chúng ta có thể hiểu là việc yêu cầu giải trình một số thông tin chưa rõ hoặc cũng có thể hiểu là cung cấp thêm các giấy tờ nào đó, ngoài các giấy tờ đã được quy định ở trên. Như vậy, quy định này hoàn toàn có thể sẽ dẫn đến hiện tượng sách nhiễu từ phía cơ quan công quyền đối với các chủ thể đề nghị thành lập tổ chức TCVM.Bước thứ hai: NHNN xem xét điều kiện để quyết định việc cấp/không cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM.Ở bước này, NHNN sẽ phải tiến hành xem xét và thông báo cho người nộp hồ sơ biết về tính hợp lệ của hồ sơ hoặc những yêu cầu cần sửa đổi, bổ sung trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Thông báo của NHNN phải bằng văn bản và, trong trường hợp xác định hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức TCVM là hợp lệ NHNN phải tiến hành xem xét các điều kiện cần thiết để quyết định việc cấp/không cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức TCVM cho người đề nghị trong thời hạn sáu mươi (60) ngày làm việc kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép thì NHNN cũng phải có văn bản nêu rõ lý do từ chối.Cần phải lưu ý rằng, việc có được một bộ hồ sơ hợp lệ chưa đủ để NHNN tiến hành cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức TCVM cho người đề nghị: đây mới chỉ là điều kiện cần mà chưa phải là điều kiện đủ. Để có thể nhận được giấy phép từ phía NHNN thì những chủ thể đề nghị cấp giấy phép và tổ chức TCVM dự định thành lập phải đáp ứng được những điều kiện luật định. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 20 Luật các TCTD thì những điều kiện này sẽ do NHNN quy định. Hiện nay, những điều kiện để tổ chức TCVM có thể được cấp giấy phép thành lập và hoạt động đang được quy định tại Điều 8 Nghị định 28; Khoản 5 Điều 1 Nghị định 165 và được cụ thể hóa tại Khoản 9 Mục II Thông tư 02. Cụ thể:Điều kiện thứ nhất: Có nhu cầu về hoạt động TCVM. Thực sự, quy định này là rất không cần thiết vì có khi nào, không có nhu cầu hoạt động TCVM mà các chủ thể vẫn tiến hành thủ tục thành lập tổ chức TCVM? Rõ ràng, chỉ khi có nhu cầu hoạt động TCVM thì các các cá nhân, tổ chức mới tiến hành thủ tục đề nghị thành lập tổ chức TCVM mà thôi. Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc đưa ra quy định này như một điều kiện để xem xét cấp giấy phép thành lập tổ chức TCVM là thừa vì mặc nhiên nó đã được đáp ứng khi xuất hiện bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép;Điều kiện thứ hai: Có ý kiến của Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi dự kiến đặt trụ sở chính của tổ chức TCVM về sự cần thiết thành lập tổ chức này trên địa bàn. Đây chính là nội dung thể hiện sự cần thiết của việc thành lập tổ chức TCVM trên địa bàn mà tổ chức TCVM dự định đặt trụ sở chính. Nói một cách khác, điều kiện này thể hiện nhu cầu cần phải có hoạt động TCVM tại địa phương. Tuy nhiên, việc quy định đây là một điều kiện để xem xét, quyết định cấp giấy phép cho tổ chức TCVM cũng không phải là quy định khoa học vì, trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức TCVM, đây chính là một loại giấy tờ cần phải có để đảm bảo tính hợp lệ của hồ sơ. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, không nhất thiết phải có quy định này mà, nên thay quy định này và một số các quy định khác (sẽ được trình bày dưới đây) bằng một điều kiện là “có hồ sơ hợp lệ” là đủ;Điều kiện thứ ba: Có vốn điều lệ tối thiểu năm (05) tỷ VND. Đây là lĩnh vực kinh doanh khá nhạy cảm (về bản chất là hoạt động NH) nên pháp luật có đưa ra mức vốn pháp định cho hoạt động kinh doanh này là năm (05) tỷ VND - Khoản 2 Điều 1 Nghị định 165 - nhằm góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức TCVM. Vì vậy, để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, tổ chức TCVM buộc phải có mức vốn điều lệ từ năm (05) tỷ VND trở lên;Theo: Nguyễn Thái HàLink luận án:  Tại đây