0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e71b60853af-Cơ-cấu-tổ-chức-và-hoạt-động-quản-trị,-điều-hành-tổ-chức-tổ-chức-tài-chính-vi-mô.jpeg

Cơ cấu tổ chức và hoạt động quản trị, điều hành tổ chức tổ chức tài chính vi mô

3.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động quản trị, điều hành tổ chức tổ chức tài chính vi mô

Hiện nay cả những văn bản chuyên biệt về tổ chức TCVM (Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02) và Luật các TCTD đều có quy định khá chi tiết về cơ cấu tổ chức của tổ chức TCVM cũng như cách thức ban hành các quyết định quản trị của tổ chức này. Trong khi Nghị định 28 và Thông tư 02 đưa ra những quy định điều chỉnh trực tiếp đến việc xây dựng bộ máy quản lý nội bộ cũng như cơ chế vận hành của các cơ quan đó trong tổ chức TCVM thì Luật các TCTD 2010 cũng đưa ra những quy định điều chỉnh việc xây dựng bộ máy quản lý nội bộ cũng như cơ chế vận hành của các TCTD có hình thức pháp lý là công ty TNHH – trong đó có tổ chức TCVM. Điều đáng nói là, các quy định của những văn bản này không hề thống nhất với nhau mà trái lại, rất khác biệt. Cách tiếp cận của Luật các TCTD 2010 là cố gắng xây dựng mô hình các TCTD là công ty TNHH cũng tương tự như mô hình của các công ty TNHH được xây dựng theo Luật doanh nghiệp 200547 thì Nghị định 28 và tiếp nối là Thông tư 02 lại đưa ra một mô hình tổ chức TCVM có cấu trúc hoàn toàn khác với các công ty TNHH hoạt động ở các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Rõ ràng, cách tiếp cận của các văn bản chuyên biệt về TCVM là không thật sự hợp lý bởi điều đó sẽ tạo ra những chủ thể kinh doanh “không giống ai” – khi hình thức pháp lý thì giống các chủ thể khác nhưng cấu trúc trong nội bộ thì lại khác biệt. Tuy nhiên, bất cập này đã được Khoản 2 Điều 87 Luật các TCTD 2010 giải quyết như thông qua quy định như sau:

“Cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành của tổ chức tài chính vi mô được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Như vậy, các tổ chức TCVM sẽ có một cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế vận hành được xác định trước hết phải theo các quy định của Luật các TCTD 2010 chứ không phải là các văn bản chuyên biệt về TCVM hiện hành48. Những quy định của Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02 sẽ chỉ được áp dụng khi Luật không có quy định. Tuy nhiên, theo quy định Khoản 6 Điều 50 Luật các TCTD 2010 thì các tiêu chuẩn, điều kiện của các chức danh quản lý, điều hành cũng như kiểm soát của tổ chức TCVM sẽ thực hiện theo quy định của NHNN chứ không bắt buộc phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn, điều kiện nêu ra tại Luật các TCTD 2010. Ở thời điểm hiện tại, văn bản của NHNN theo yêu cầu của Khoản 6 Điều 50 Luật các TCTD 2010 vẫn chưa được ban hành nên các quy định hiện tại theo Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02 sẽ đwọc áp dụng. Trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành, mô hình tổ chức cũng như cơ chế vận hành tổ chức TCVM sẽ được thực hiện như sau:

3.3. Cơ cấu tổ chức của tổ chức tài chính vi mô

Mặc dù tổ chức TCVM có thể tồn tại dưới dạng công ty TNHH một thành viên hoặc có từ hai thành viên trở lên song theo quy định của Luật các TCTD 2010, mô hình tổ chức cho cả hai loại hình này đều bao gồm các cơ quan: HĐTV – Tổng Giám đốc – BKS. Đối với TCTD nói chung và tổ chức TCVM nói riêng, mô hình có chức danh Chủ tịch công ty như ở một số công ty TNHH tổ chức theo Luật doanh nghiệp 2014 sẽ không được áp dụng.

Hội đồng thành viên

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật các TCTD 2010 thì HĐTV là cơ quan quản trị có toàn quyền nhân danh tổ chức TCVM để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của tổ chức TCVM, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ sở hữu49. Như vậy, HĐTV là cơ quan có quyền quyền quyết định cao nhất ở tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên nhưng lại không có được vị trí đó ở tổ chức TCVM một thành viên bởi Khoản 1 Điều 43 và Khoản 1 Điều 66 Luật các TCTD đã trao cho Chủ sở hữu quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến tổ chức TCVM. HĐTV chỉ có quyền quyết định những vấn đề còn lại mà thôi. Nhiệm kỳ của HĐTV được xác định theo quy định của Điều lệ tổ chức TCVM nhưng không quá năm (05) năm. HĐTV của tổ chức TCVM là cơ quan được hình thành bởi:

Thứ nhất, đối với tổ chức TCVM một thành viên: bao gồm tất cả những người được Chủ sở hữu tổ chức TCVM bổ nhiệm làm người đại diện;

Thứ hai, đối với tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên: bao gồm thành viên góp vốn là cá nhân và người đại diện của thành viên góp vốn là tổ chức.

Nhiệm kỳ của thành viên HĐTV được xác định theo nhiệm kỳ của HĐTV. Trong trường hợp thành viên HĐTV được bổ nhiệm bổ sung thì thành viên đó sẽ có nhiệm kỳ bằng khoảng thời gian còn lại của nhiệm kỳ HĐTV. Việc bổ nhiệm người đại diện phần vốn góp của mình tham gia HĐTV của thành viên góp vốn/chủ sở hữu tổ chức TCVM phải được thực hiện trên cơ sở danh sách ứng cử viên đã được Thống đốc NHNN phê chuẩn.

Về số lượng thành viên của HĐTV tổ chức TCVM thì hiện nay pháp luật có quy định khác nhau giữa tổ chức TCVM một thành viên và tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên: Trong khi ở tổ chức TCVM một thành viên, số lượng thành viên HĐTV được giới hạn từ năm đến mười một (05 đến 11)51 thì ở tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên, số lượng thành viên HĐTV lại không được có bất cứ một giới hạn nào mà hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các thành viên đã tham gia góp vốn của tổ chức TCVM52.

Một điểm cần lưu ý là, những người được chủ sở hữu/thành viên góp vốn của tổ chức TCVM bổ nhiệm làm người đại diện phần vốn góp để tham gia HĐTV theo logic đối với các TCTD nói chung thì phải là những người có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn nhất định theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hiện nay không có bất cứ văn bản nào về TCVM có quy định về vấn đề này bởi cơ cấu tổ chức của tổ chức TCVM theo Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02 thì tổ chức TCVM không có cơ quan quản trị là HĐTV. Nếu suy luận cơ quan này chính là Hội nghị Thành viên trong các văn bản về TCVM nêu trên thì chúng ta cũng không tìm thấy quy định nào mô tả về tiêu chuẩn của thành viên Hội nghị thành viên. Như vậy, buộc phải áp dụng các tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật các TCTD – tức là không có sự phân biệt so với các TCTD khác, trừ Quỹ TDND53 . Nếu các tiêu chuẩn này được áp dụng sẽ thực sự xuất hiện những khó khăn nhất định cho các tổ chức TCVM khi xây dựng bộ máy của mình54. Cụ thể, Khoản 1 Điều 50 Luật các TCTD 2010 quy định:

Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên HĐTV phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

  1. Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này;
  2. Có đạo đức nghề nghiệp;
  3. Là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là thành viên HĐTV, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị hoặc có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh vực NH, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán.

Căn cứ vào quy định này thì thành viên HĐTV phải là người có đầy đủ những tiêu chuẩn sau đây:

Thứ nhất, không thuộc các đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ bao gồm:

Một là, Các đối tượng sau đây: (i) Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; (ii) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; (iii) Người đã bị kết án về tội từ tội phạm nghiêm trọng trở lên; (iv) Người đã bị kết án về tội xâm phạm sở hữu mà chưa được xoá án tích; (v) Cán bộ, công chức, người quản lý từ cấp phòng trở lên trong các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm từ 50% vốn điều lệ trở lên, trừ người được cử làm đại diện quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại tổ chức tín dụng; (vi) Sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại tổ chức tín dụng và (vii) Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng.

Hai là, Người thuộc đối tượng không được tham gia quản lý, điều hành theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

Ba là, Người đã từng là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Tổng giám đốc (Giám đốc), thành viên Hội đồng quản trị, thành viên HĐTV, thành viên BKS của doanh nghiệp, Chủ nhiệm và các thành viên Ban quản trị hợp tác xã tại thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng;

Bốn là, Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động, bị buộc giải thể do vi phạm pháp luật nghiêm trọng, trừ trường hợp là đại diện theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấn chỉnh, củng cố doanh nghiệp đó;

Theo: Nguyễn Thái Hà

Link luận án:  Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
929 ngày trước
Cơ cấu tổ chức và hoạt động quản trị, điều hành tổ chức tổ chức tài chính vi mô
3.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động quản trị, điều hành tổ chức tổ chức tài chính vi môHiện nay cả những văn bản chuyên biệt về tổ chức TCVM (Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02) và Luật các TCTD đều có quy định khá chi tiết về cơ cấu tổ chức của tổ chức TCVM cũng như cách thức ban hành các quyết định quản trị của tổ chức này. Trong khi Nghị định 28 và Thông tư 02 đưa ra những quy định điều chỉnh trực tiếp đến việc xây dựng bộ máy quản lý nội bộ cũng như cơ chế vận hành của các cơ quan đó trong tổ chức TCVM thì Luật các TCTD 2010 cũng đưa ra những quy định điều chỉnh việc xây dựng bộ máy quản lý nội bộ cũng như cơ chế vận hành của các TCTD có hình thức pháp lý là công ty TNHH – trong đó có tổ chức TCVM. Điều đáng nói là, các quy định của những văn bản này không hề thống nhất với nhau mà trái lại, rất khác biệt. Cách tiếp cận của Luật các TCTD 2010 là cố gắng xây dựng mô hình các TCTD là công ty TNHH cũng tương tự như mô hình của các công ty TNHH được xây dựng theo Luật doanh nghiệp 200547 thì Nghị định 28 và tiếp nối là Thông tư 02 lại đưa ra một mô hình tổ chức TCVM có cấu trúc hoàn toàn khác với các công ty TNHH hoạt động ở các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Rõ ràng, cách tiếp cận của các văn bản chuyên biệt về TCVM là không thật sự hợp lý bởi điều đó sẽ tạo ra những chủ thể kinh doanh “không giống ai” – khi hình thức pháp lý thì giống các chủ thể khác nhưng cấu trúc trong nội bộ thì lại khác biệt. Tuy nhiên, bất cập này đã được Khoản 2 Điều 87 Luật các TCTD 2010 giải quyết như thông qua quy định như sau:“Cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành của tổ chức tài chính vi mô được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”Như vậy, các tổ chức TCVM sẽ có một cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế vận hành được xác định trước hết phải theo các quy định của Luật các TCTD 2010 chứ không phải là các văn bản chuyên biệt về TCVM hiện hành48. Những quy định của Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02 sẽ chỉ được áp dụng khi Luật không có quy định. Tuy nhiên, theo quy định Khoản 6 Điều 50 Luật các TCTD 2010 thì các tiêu chuẩn, điều kiện của các chức danh quản lý, điều hành cũng như kiểm soát của tổ chức TCVM sẽ thực hiện theo quy định của NHNN chứ không bắt buộc phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn, điều kiện nêu ra tại Luật các TCTD 2010. Ở thời điểm hiện tại, văn bản của NHNN theo yêu cầu của Khoản 6 Điều 50 Luật các TCTD 2010 vẫn chưa được ban hành nên các quy định hiện tại theo Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02 sẽ đwọc áp dụng. Trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành, mô hình tổ chức cũng như cơ chế vận hành tổ chức TCVM sẽ được thực hiện như sau:3.3. Cơ cấu tổ chức của tổ chức tài chính vi môMặc dù tổ chức TCVM có thể tồn tại dưới dạng công ty TNHH một thành viên hoặc có từ hai thành viên trở lên song theo quy định của Luật các TCTD 2010, mô hình tổ chức cho cả hai loại hình này đều bao gồm các cơ quan: HĐTV – Tổng Giám đốc – BKS. Đối với TCTD nói chung và tổ chức TCVM nói riêng, mô hình có chức danh Chủ tịch công ty như ở một số công ty TNHH tổ chức theo Luật doanh nghiệp 2014 sẽ không được áp dụng.Hội đồng thành viênTheo quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật các TCTD 2010 thì HĐTV là cơ quan quản trị có toàn quyền nhân danh tổ chức TCVM để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của tổ chức TCVM, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ sở hữu49. Như vậy, HĐTV là cơ quan có quyền quyền quyết định cao nhất ở tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên nhưng lại không có được vị trí đó ở tổ chức TCVM một thành viên bởi Khoản 1 Điều 43 và Khoản 1 Điều 66 Luật các TCTD đã trao cho Chủ sở hữu quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến tổ chức TCVM. HĐTV chỉ có quyền quyết định những vấn đề còn lại mà thôi. Nhiệm kỳ của HĐTV được xác định theo quy định của Điều lệ tổ chức TCVM nhưng không quá năm (05) năm. HĐTV của tổ chức TCVM là cơ quan được hình thành bởi:Thứ nhất, đối với tổ chức TCVM một thành viên: bao gồm tất cả những người được Chủ sở hữu tổ chức TCVM bổ nhiệm làm người đại diện;Thứ hai, đối với tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên: bao gồm thành viên góp vốn là cá nhân và người đại diện của thành viên góp vốn là tổ chức.Nhiệm kỳ của thành viên HĐTV được xác định theo nhiệm kỳ của HĐTV. Trong trường hợp thành viên HĐTV được bổ nhiệm bổ sung thì thành viên đó sẽ có nhiệm kỳ bằng khoảng thời gian còn lại của nhiệm kỳ HĐTV. Việc bổ nhiệm người đại diện phần vốn góp của mình tham gia HĐTV của thành viên góp vốn/chủ sở hữu tổ chức TCVM phải được thực hiện trên cơ sở danh sách ứng cử viên đã được Thống đốc NHNN phê chuẩn.Về số lượng thành viên của HĐTV tổ chức TCVM thì hiện nay pháp luật có quy định khác nhau giữa tổ chức TCVM một thành viên và tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên: Trong khi ở tổ chức TCVM một thành viên, số lượng thành viên HĐTV được giới hạn từ năm đến mười một (05 đến 11)51 thì ở tổ chức TCVM có từ hai thành viên trở lên, số lượng thành viên HĐTV lại không được có bất cứ một giới hạn nào mà hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các thành viên đã tham gia góp vốn của tổ chức TCVM52.Một điểm cần lưu ý là, những người được chủ sở hữu/thành viên góp vốn của tổ chức TCVM bổ nhiệm làm người đại diện phần vốn góp để tham gia HĐTV theo logic đối với các TCTD nói chung thì phải là những người có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn nhất định theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hiện nay không có bất cứ văn bản nào về TCVM có quy định về vấn đề này bởi cơ cấu tổ chức của tổ chức TCVM theo Nghị định 28, Nghị định 165 và Thông tư 02 thì tổ chức TCVM không có cơ quan quản trị là HĐTV. Nếu suy luận cơ quan này chính là Hội nghị Thành viên trong các văn bản về TCVM nêu trên thì chúng ta cũng không tìm thấy quy định nào mô tả về tiêu chuẩn của thành viên Hội nghị thành viên. Như vậy, buộc phải áp dụng các tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật các TCTD – tức là không có sự phân biệt so với các TCTD khác, trừ Quỹ TDND53 . Nếu các tiêu chuẩn này được áp dụng sẽ thực sự xuất hiện những khó khăn nhất định cho các tổ chức TCVM khi xây dựng bộ máy của mình54. Cụ thể, Khoản 1 Điều 50 Luật các TCTD 2010 quy định:Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên HĐTV phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này;Có đạo đức nghề nghiệp;Là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là thành viên HĐTV, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị hoặc có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh vực NH, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán.Căn cứ vào quy định này thì thành viên HĐTV phải là người có đầy đủ những tiêu chuẩn sau đây:Thứ nhất, không thuộc các đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ bao gồm:Một là, Các đối tượng sau đây: (i) Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; (ii) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; (iii) Người đã bị kết án về tội từ tội phạm nghiêm trọng trở lên; (iv) Người đã bị kết án về tội xâm phạm sở hữu mà chưa được xoá án tích; (v) Cán bộ, công chức, người quản lý từ cấp phòng trở lên trong các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm từ 50% vốn điều lệ trở lên, trừ người được cử làm đại diện quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại tổ chức tín dụng; (vi) Sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại tổ chức tín dụng và (vii) Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng.Hai là, Người thuộc đối tượng không được tham gia quản lý, điều hành theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về phòng, chống tham nhũng;Ba là, Người đã từng là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Tổng giám đốc (Giám đốc), thành viên Hội đồng quản trị, thành viên HĐTV, thành viên BKS của doanh nghiệp, Chủ nhiệm và các thành viên Ban quản trị hợp tác xã tại thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng;Bốn là, Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động, bị buộc giải thể do vi phạm pháp luật nghiêm trọng, trừ trường hợp là đại diện theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấn chỉnh, củng cố doanh nghiệp đó;Theo: Nguyễn Thái HàLink luận án:  Tại đây