Sự cần thiết khách quan của chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
2.3. Sự cần thiết khách quan của chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Thứ nhất, như đã phân tích, giải quyết việc làm là vấn đề bức xúc đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong cả thời gian tới. Nhà nước đã có chính sách quốc gia về việc làm, trước mắt là từ nay cho đến năm 2010, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc mở rộng sản xuất và dịch vụ, đa dạng hoá ngành nghề. Nhà nước tạo cơ hội bình đẳng cho việc tạo việc làm và tìm kiếm việc làm, đề ra chính sách phát triển thị trường lao động trong và ngoài nước. Với những nỗ lực của Nhà nước và xã hội, từ năm 1991 đến năm 2000, số người có việc làm đã tăng từ 30,9 người lên 40,6 triệu người [49, tr. 3] .
Do kết quả tăng dân số trong giai đoạn trước cho nên thời kỳ 2001-2010 mỗi năm nước ta có thêm khoảng 1,7-1,8 triệu người bước vào tuổi lao động, trong khi đó số người ra khỏi độ tuổi lao động chỉ có 0,35 triệu người. Dự tính trong 10 năm đầu thế kỷ XXI dân số trong độ tuổi lao động sẽ tăng bình quân là 2,5%/năm gấp gần 2 lần so với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (1,4%/năm) [80, tr. 7], cộng thêm số người thất nghiệp ở thành thị, hàng vạn lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, lao động nông nghiệp thiếu việc làm do bình quân đất canh tác trên một nhân khẩu đang giảm dần và giảm nhanh ở vùng đất được đô thị hoá, thành lập các khu công nghiệp, mở các tuyến giao thông…càng làm tăng thêm áp lực về giải quyết việc làm. Mặt khác, chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn yếu, nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động.
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng đa dạng hoá của xã hội đòi hỏi sản phẩm hàng hoá ngày một chất lượng hơn. Chính vì thế trong một số trường hợp, chủ doanh nghiệp cần phải tổ chức lại sản xuất để nâng tính cạnh tranh đã dẫn đến dư thừa lao động và hậu quả tất yếu là một bộ phận lao động bị thất nghiệp.
Người lao động thất nghiệp kéo theo một loạt hệ quả tác động đến cả bản thân người lao động lẫn người sử dụng lao động và an ninh xã hội, khiến cho:
- Về phía người lao động thất nghiệp, vì không có nguồn sống nên họ thấy rằng cần phải liên kết sự đóng góp lại để từ đó hình thành một quỹ chung. Quỹ này sẽ được sử dụng trong thời gian người lao động không có việc và đi tìm việc.
- Về phía người chủ sử dụng lao động, trong các trường hợp giảm thiểu lao động hoặc bị phá sản họ không thể gánh chịu nổi việc tự mình phải chi trả cho nhiều người lao động mất việc làm. Từ đó, họ thấy cần phải hợp lực với nhiều chủ sử dụng lao động khác vừa là để phòng những tình huống xấu có thể xảy ra, vừa để chia sẻ gánh nặng rủi ro. Do đó, họ tự nguyện nộp một khoản tiền nhất định vào một quỹ tập trung và khi bất trắc xảy ra thì sẽ có nguồn để giải quyết.
- Về phía Nhà nước, một khi đã nhận thấy tác động tích cực của cơ chế liên kết cùng nhau chia sẻ trách nhiệm nên đứng ra tổ chức việc hình thành quỹ chung để trả cho người lao động khi bị mất việc, nhằm ổn định xã hội.
Thứ hai, khi chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường, chúng ta phải tiếp cận với nhiều vấn đề rất mới. Thất nghiệp là một vấn đề như vậy. Nếu xét dưới góc độ sử dụng lao động: thất nghiệp có nghĩa là ở một thời điểm nào đó (một tuần, một tháng…) có những bộ phận người lao động không có việc làm. Do vậy, không phải chỉ khi chuyển sang cơ chế thị trường mới có hiện tượng này mà ngay cả thời kỳ kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp vẫn có tình trạng thất nghiệp, nhưng nó không trở thành một vấn đề xã hội gay gắt. Khi bước vào nền kinh tế thị trường, nước ta đã có hàng loạt xí nghiệp quốc doanh bị giải thể hoặc bị thu hẹp sản xuất, dẫn đến hàng chục vạn lao động phải thôi việc theo Quyết định 176/HĐBT, Quyết định 111/HĐBT. Đây thực chất là sa thải lao động theo Công ước 175 của Tổ chức lao động quốc tế.
Thứ ba, cùng với thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường tiền tệ…thị trường lao động ở nước ta cũng đang hình thành và phát triển. Bằng việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật lao động, Nhà nước đã tạo ra những tiền đề quan trọng để thị trường sức lao động phát triển thuận lợi. Trước hết phải kể đến sự ra đời của Bộ luật Lao động 1994. Một văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh quan hệ lao động trong cơ chế mới. Với Bộ luật Lao động, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền tự do di chuyển sức lao động. Người lao động được tự do tìm việc làm, nơi làm việc phù hợp với trình độ, tay nghề, sức khoẻ và hoàn cảnh của họ. Ngoài ra, người lao động có quyền chấm dứt quan hệ lao động với người sử dụng lao động khi họ không thực hiện đúng những điều đã cam kết trong hợp đồng lao động. Ngược lại, người sử dụng lao động cũng có quyền sa thải hoặc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, công nghệ, trường hợp bất khả kháng hoặc người lao động vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật. Hơn nữa, trong quá trình kinh doanh do trình độ quản lý của các “ông chủ” khác nhau, có doanh nghiệp ăn nên làm ra, có doanh nghiệp bị giải thể, phá sản, dẫn đến người lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp. Thêm vào đó là tình trạng số người đến tuổi lao động chưa có việc làm hàng năm là khá lớn.
Thứ tư, xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam còn là hết sức cần thiết, bởi lẽ Việt Nam sắp gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, đây là con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế nước ta sớm hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, những thách thức mà chúng ta phải đương đầu đó là tính thị trường, tính cạnh tranh khốc liệt hơn. Nhiều doanh nghiệp sẽ phải tiến hành tổ chức, cơ cấu lại quá trình kinh doanh, chú trọng đầu tư kỹ thuật công nghệ hiện đại…sẽ dẫn đến giảm qui mô sử dụng lao động. Thất nghiệp trong thời gian tới tăng nhanh. Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam phải cắt giảm thuế, bãi bỏ hàng rào phi thuế quan, thực hiện qui chế tối huệ quốc và qui chế đối xử quốc gia đối với hành hoá và dịch vụ của các nước thành viên xuất khẩu sang Việt Nam. Lúc đó, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải tham gia cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài ngay chính tại thị trường nội địa. Thị trường lao động chắc chắn cũng sẽ có những diễn biến phức tạp như: cơ cấu lao động trong xã hội thay đổi, việc làm giảm, thất nghiệp tăng lên.
Như vậy, việc nghiên cứu, ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn hiện nay là cần thiết và phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động.
Thứ năm, lịch sử thế giới cũng đã chứng minh rằng, thất nghiệp là con đẻ của nền kinh tế thị trường. Nhà nước chỉ có thể hạn chế nó thông qua hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội hợp lý và tiến bộ. Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển và những nước đang phát triển đều phải đương đầu với vấn đề này. Ngay cả những nước được đánh giá là có nền kinh tế mạnh nhất thế giới như: Hoa Kỳ, Anh, Cộng hoà liên bang Đức, Nhật Bản, Italia, Pháp…vẫn có một tỷ lệ thất nghiệp nhất định, có nước còn cao hơn cả giới hạn cho phép (giới hạn cho phép hay được coi là bình thường là mức dưới 3%). Lấy ví dụ như ở năm 2002: Anh: 5,1%, Thụy Điển 5,2%, Nhật Bản 5,3%, CHLB Đức 8,1%, Pháp 9,0%, Phần Lan 10%, Tây Ban Nha 12,8% [110, tr. 27]. Thất nghiệp ảnh hưởng tới tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. Do đó, đa số các nước có nền kinh tế phát triển đã qui định về bảo hiểm thất nghiệp để bảo vệ cho người lao động khi bị thất nghiệp và giúp họ quay trở lại làm việc.
Như đã nói, bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách xã hội. Nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ tạo sự ổn định về mặt xã hội và ngược lại nếu thực hiện không tốt sẽ làm cho xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, mất ổn định. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội là do thiếu việc làm và thất nghiệp gây nên. Bàn về vấn đề này, có ý kiến cho rằng bảo hiểm thất nghiệp vừa mang tính xã hội, vừa đảm bảo công bằng xã hội. Bởi lẽ, bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ nhằm giải quyết hai mục tiêu:
Một là, khuyến khích người lao động chủ động trong việc đào tạo nghề, tự đào tạo, đào tạo lại, tạo và tìm kiếm việc làm để giảm sức ép cung về lao động, hạn chế thất nghiệp.
Hai là, hỗ trợ người thất nghiệp một phần kinh phí để duy trì cuộc sống bình thường trong tình trạng thất nghiệp.
Theo: Lê Thị Hoài Thu
Link luận án: Tại đây