0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e71cb7512d7-Cơ-sở-xây-dựng-và-thực-hiện-chế-độ-bảo-hiểm-thất-nghiệp-cho-người-lao-động-ở-Việt-Nam.webp

Cơ sở xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở Việt Nam

3.1. Cơ sở xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở Việt Nam

3.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội

 Qua 15 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi cơ bản. Từ một nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín với cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không những đã thoát khỏi khủng hoảng và lạm phát mà đã có sự tăng trưởng: “Sau mấy năm đầu thực hiện chiến lược, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi (2,07 lần). Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP…Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%...” [47, tr. 149-150]. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những đổi khác to lớn. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, GDP bình quân đầu người chưa đến 200 USD đến nay chúng ta đã tăng được gấp đôi, lên 400 USD/ đầu người và chỉ tiêu này sẽ tăng lên trong vòng 5 đến 10 năm nữa [19, tr. 34].

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Năm 2000 chúng ta chặn được sự giảm sút về tốc độ tăng trưởng và năm 2001 đã đưa tổng sản phẩm trong nước tăng 6,89%; năm 2002 tăng 7,04% và năm 2003 đạt tốc độ tăng 7,24% [112, tr. 4]. Như vậy, tính ra trong 3 năm 2001-2003, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,06% trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,40%/năm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,04%/năm, khu vực dịch vụ tăng 6,42%/năm [101, tr. 8-9]. Những số liệu trên đây cho thấy: Nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, năm sau cao hơn năm trước. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ, thì tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp và xây dựng đã không ngừng tăng lên qua các năm: “Năm 2000 chiếm 36,73%; 2001 chiếm 38,13%; 2002 chiếm 38,55% và năm 2003 chiếm khoảng 40%” [101, tr. 8 - 9]. Ngoài ra, trong những năm vừa qua do chúng ta đẩy mạnh việc tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước nên mặc dù số lượng doanh nghiệp giảm đi đáng kể nhưng tỷ trọng của khu vực này vẫn duy trì ở mức cao (trên 38%).

Cùng với sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất lớn. Nhiều sản phẩm công nghiệp như dầu khí, thuỷ sản, dệt may đã trở thành những sản phẩm mũi nhọn của nền kinh tế, tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn. Riêng ngành dệt may kim ngạch xuất khẩu năm 2003 đã đạt được 3,67 tỷ USD [5, tr. 5], đây là chiến lược tăng tốc của ngành trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh khu vực và thế giới. Bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các ngành công nghiệp mũi nhọn còn thu hút một lực lượng lao động rất lớn, đặc biệt là tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật cao. Đây là tiền đề to lớn để lao động nước ta đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, tiếp thu công nghệ mới và có thể hoà nhập với thị trường lao động thế giới.

Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, còn có sự đóng góp rất lớn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Với chính sách mở cửa của nền kinh tế, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã không ngừng tăng lên. Từ khi có Luật đầu tư nước ngoài, tính đến cuối năm 2003 cả nước đã có: trên 4.270 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký khoảng 40,5 tỷ USD, trong đó hơn 2.160 dự án đang hoạt động sản xuất, kinh doanh với tổng số vốn khoảng 24 tỷ USD và 760 dự án đang xây dựng cơ bản, tổng số vốn đăng ký trên 9,65 tỷ USD, ngoài ra còn có 2000 lượt dự án mở rộng qui mô hoạt động với số vốn được điều chỉnh tăng thêm khoảng 8,6 tỷ USD. Đáng chú ý là đến nay tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký đã tăng từ 53% (năm 2002) lên 59,2%...Trong năm, khu vực doanh nghiệp FDI đã tạo thêm việc làm cho trên 34.000 lao động, góp phần đưa tổng số lao động trực tiếp làm việc trong khu vực kinh tế này lên hơn 660.000 người .

Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không chỉ tạo ra cho chúng ta có nguồn vốn lớn để mở rộng sản xuất mà còn góp phần tạo nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đồng thời với việc phát triển các doanh nghiệp liên doanh còn tạo ra môi trường dịch vụ mới phát triển như: dịch vụ vốn, dịch vụ xã hội…

Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999, có hiệu lực từ đầu năm 2000, được đánh giá là một trong những đạo luật đi vào cuộc sống nhanh và có hiệu quả nhất trong tiến trình đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta. Tính đến hết năm 2003 tức là sau 4 năm thực thi Luật Doanh nghiệp, trong cả nước đã có hơn 77.400 doanh nghiệp được thành lập. Như vậy trung bình cứ mỗi tháng có khoảng 1.600 doanh nghiệp mới được thành lập, gấp gần 10 lần so với khi Luật Doanh nghiệp chưa ban hành. Đã huy động được khoảng 146.000 tỷ đồng trong nhân dân đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội [56, tr. 10].

Từ khi luật Doanh nghiệp có hiệu lực, hàng trăm ngàn doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được thành lập và phát triển, tạo việc làm và tăng thu nhập cho hàng triệu lao động. Hàng năm khu vực ngoài quốc doanh đã đóng góp khoảng hơn 60% trong GDP. Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển không chỉ khẳng định vị thế của khu vực này trong nền kinh tế quốc dân mà còn tạo điều kiện để có thể mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động ở khu vực kinh tế này.

Cơ cấu lao động theo ngành đã có chuyển biến tích cực, năm 2004 số người làm việc trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 57,9%; lao động trong công nghiệp và xây dựng chiếm 17,4% và lao động trong nhóm ngành dịch vụ chiếm 24,7% [25, tr. 171]. Xét cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế thì khu vực kinh tế cá thể tạo nhiều việc làm nhất so với các thành phần kinh tế khác (chiếm 75,4%) tổng số việc làm trong nền kinh tế; tiếp đến là thành phần kinh tế nhà nước (chiếm 10,4%); kinh tế tập thể (chiếm 8,4%); tư nhân chiếm 3,3%); lao động làm ở thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ rất thấp (chỉ 1,3%) [118, tr. 54].

Theo báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, năm 2003 đã giải quyết việc làm cho 1.505.000 người, tăng gần 6% so với năm 2002, trong đó phần lớn (74,4%) việc làm được giải quyết từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, số lao động được giải quyết việc làm thông qua chương trình này là 1.120.000 người chiếm 74,4% tổng số việc làm; thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm là 330.000 người chiếm 22% tổng số việc làm; thông qua xuất khẩu lao động là 55.000 người chiếm 3,65% tổng số chỗ làm việc mới. Quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước đã làm thay đổi về cơ bản đời sống của đại bộ phận các gia đình lao động của nước ta. Theo kết quả điều tra mức sống dân cư của Tổng cục thống kê, năm 2003, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức tiền lương bình quân tháng cao nhất (927 ngàn đồng), gấp 1,2 lần so với mức bình quân chung (mức tiền lương bình quân tháng của một người lao động làm công ăn lương là 775 ngàn đồng); tiếp đến là thành phần kinh tế nhà nước (855,4 ngàn đồng) bằng 1,1 lần so với mức bình quân chung. Các thành phần kinh tế khác đều có mức tiền lương thấp hơn so với mức bình quân chung, trong đó mức cao nhất là thành phần kinh tế tư nhân (755,6 ngàn đồng) chỉ bằng 97,42% so với mức bình quân chung và thấp nhất là thành phần kinh tế cá thể (613,8 ngàn đồng) chỉ bằng 79,13% so với mức bình quân chung. Đời sống dân cư được nâng lên đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo “Tỷ lệ nghèo đã giảm từ 13,33% năm 1999 xuống còn 9,96% năm 2001 -2002, trong đó khu vực nông thôn giảm từ 15,96% năm 1999 xuống 11,99%; khu vực thành thị giảm từ 4,61% xuống 3,61%” [101, tr. 134]. Từ các số liệu trên cho thấy: với khả năng thu nhập và mức sống ngày càng được cải thiện, nhiều người lao động sẽ có điều kiện tham gia vào chương trình bảo hiểm thất nghiệp. Ngày nay, người lao động có nhiều cơ hội để mở rộng sản xuất, tìm kiếm việc làm nhưng nguy cơ mất việc do doanh nghiệp bị phá sản, giải thể, thay đổi sản xuất kinh doanh, cơ cấu công nghệ...là điều khó tránh khỏi. Do vậy, việc bảo vệ người lao động khi bị mất việc làm, tránh cho họ những hụt hẫng trong cuộc sống là điều rất cần thiết. Hơn nữa, qua gần 20 năm phát triển kinh tế thị trường, và khoảng 10 năm tách bảo hiểm xã hội độc lập với ngân sách nhà nước, cho thấy Việt Nam đã đủ điều kiện về tổ chức và tài chính để lo bảo hiểm thất nghiệp.

3.1.2 Cơ sở chính trị

Nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội đáng mừng, đó là kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, lạm phát được đẩy lùi và kiểm soát tích cực. Nhưng, tình trạng thất nghiệp cũng lại trở thành một vấn đề xã hội bức xúc. Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến vấn đề này. Ngoài các biện pháp tình thế đối với lao động mất việc làm trong các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước còn dành một khoản tiền lớn trong ngân sách để cho vay hỗ trợ việc làm với lãi suất ưu đãi, cùng với các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất khác, hàng năm đã giải quyết được trên một triệu người có việc làm mới “Số lao động được giải quyết việc làm trong ba năm đạt khoảng 4,3 triệu người (nông nghiệp 2,6 triệu, công nghiệp trên 90 vạn, dịch vụ khoảng 76 vạn)” [47, tr. 39] và việc làm đầy đủ hơn. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cũng chủ trương xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho phù hợp với nền kinh tế thị trường. Chủ trương đó được ghi trong Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá VII của Đảng cộng sản Việt Nam : “Nghiên cứu ban hành chính sách trợ cấp thất nghiệp”. Tiếp tục tinh thần Nghị quyết VII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nêu lên: “Từng bước hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở thành thị” [45, tr. 173]. Ngoài ra, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh: “Sửa đổi, bổ sung tuổi nghỉ hưu; xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp để tạo điều kiện cho các cơ quan, doanh nghiệp sắp xếp lao động theo yêu cầu nâng cao hiệu suất công tác, năng suất lao động” [46, tr. 205]. Xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp là vấn đề mới mẻ ở nước ta, nên còn được đề cập chủ yếu trong các Nghị quyết của Quốc hội khoá X như: Nghị quyết số 11/1997 kỳ họp thứ 2 và Nghị quyết số 20/1998 kỳ họp thứ 4. Gần đây trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có nêu: “Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp

Theo: Lê Thị Hoài Thu 

Link luận án: Tại đây

avatar
Phạm Linh Chi
966 ngày trước
Cơ sở xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở Việt Nam
3.1. Cơ sở xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở Việt Nam3.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội Qua 15 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi cơ bản. Từ một nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín với cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không những đã thoát khỏi khủng hoảng và lạm phát mà đã có sự tăng trưởng: “Sau mấy năm đầu thực hiện chiến lược, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi (2,07 lần). Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP…Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%...” [47, tr. 149-150]. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những đổi khác to lớn. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, GDP bình quân đầu người chưa đến 200 USD đến nay chúng ta đã tăng được gấp đôi, lên 400 USD/ đầu người và chỉ tiêu này sẽ tăng lên trong vòng 5 đến 10 năm nữa [19, tr. 34].Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Năm 2000 chúng ta chặn được sự giảm sút về tốc độ tăng trưởng và năm 2001 đã đưa tổng sản phẩm trong nước tăng 6,89%; năm 2002 tăng 7,04% và năm 2003 đạt tốc độ tăng 7,24% [112, tr. 4]. Như vậy, tính ra trong 3 năm 2001-2003, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,06% trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,40%/năm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,04%/năm, khu vực dịch vụ tăng 6,42%/năm [101, tr. 8-9]. Những số liệu trên đây cho thấy: Nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, năm sau cao hơn năm trước. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ, thì tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp và xây dựng đã không ngừng tăng lên qua các năm: “Năm 2000 chiếm 36,73%; 2001 chiếm 38,13%; 2002 chiếm 38,55% và năm 2003 chiếm khoảng 40%” [101, tr. 8 - 9]. Ngoài ra, trong những năm vừa qua do chúng ta đẩy mạnh việc tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước nên mặc dù số lượng doanh nghiệp giảm đi đáng kể nhưng tỷ trọng của khu vực này vẫn duy trì ở mức cao (trên 38%).Cùng với sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất lớn. Nhiều sản phẩm công nghiệp như dầu khí, thuỷ sản, dệt may đã trở thành những sản phẩm mũi nhọn của nền kinh tế, tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn. Riêng ngành dệt may kim ngạch xuất khẩu năm 2003 đã đạt được 3,67 tỷ USD [5, tr. 5], đây là chiến lược tăng tốc của ngành trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh khu vực và thế giới. Bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các ngành công nghiệp mũi nhọn còn thu hút một lực lượng lao động rất lớn, đặc biệt là tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật cao. Đây là tiền đề to lớn để lao động nước ta đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, tiếp thu công nghệ mới và có thể hoà nhập với thị trường lao động thế giới.Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, còn có sự đóng góp rất lớn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Với chính sách mở cửa của nền kinh tế, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã không ngừng tăng lên. Từ khi có Luật đầu tư nước ngoài, tính đến cuối năm 2003 cả nước đã có: trên 4.270 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký khoảng 40,5 tỷ USD, trong đó hơn 2.160 dự án đang hoạt động sản xuất, kinh doanh với tổng số vốn khoảng 24 tỷ USD và 760 dự án đang xây dựng cơ bản, tổng số vốn đăng ký trên 9,65 tỷ USD, ngoài ra còn có 2000 lượt dự án mở rộng qui mô hoạt động với số vốn được điều chỉnh tăng thêm khoảng 8,6 tỷ USD. Đáng chú ý là đến nay tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký đã tăng từ 53% (năm 2002) lên 59,2%...Trong năm, khu vực doanh nghiệp FDI đã tạo thêm việc làm cho trên 34.000 lao động, góp phần đưa tổng số lao động trực tiếp làm việc trong khu vực kinh tế này lên hơn 660.000 người .Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không chỉ tạo ra cho chúng ta có nguồn vốn lớn để mở rộng sản xuất mà còn góp phần tạo nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đồng thời với việc phát triển các doanh nghiệp liên doanh còn tạo ra môi trường dịch vụ mới phát triển như: dịch vụ vốn, dịch vụ xã hội…Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999, có hiệu lực từ đầu năm 2000, được đánh giá là một trong những đạo luật đi vào cuộc sống nhanh và có hiệu quả nhất trong tiến trình đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta. Tính đến hết năm 2003 tức là sau 4 năm thực thi Luật Doanh nghiệp, trong cả nước đã có hơn 77.400 doanh nghiệp được thành lập. Như vậy trung bình cứ mỗi tháng có khoảng 1.600 doanh nghiệp mới được thành lập, gấp gần 10 lần so với khi Luật Doanh nghiệp chưa ban hành. Đã huy động được khoảng 146.000 tỷ đồng trong nhân dân đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội [56, tr. 10].Từ khi luật Doanh nghiệp có hiệu lực, hàng trăm ngàn doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được thành lập và phát triển, tạo việc làm và tăng thu nhập cho hàng triệu lao động. Hàng năm khu vực ngoài quốc doanh đã đóng góp khoảng hơn 60% trong GDP. Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển không chỉ khẳng định vị thế của khu vực này trong nền kinh tế quốc dân mà còn tạo điều kiện để có thể mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động ở khu vực kinh tế này.Cơ cấu lao động theo ngành đã có chuyển biến tích cực, năm 2004 số người làm việc trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 57,9%; lao động trong công nghiệp và xây dựng chiếm 17,4% và lao động trong nhóm ngành dịch vụ chiếm 24,7% [25, tr. 171]. Xét cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế thì khu vực kinh tế cá thể tạo nhiều việc làm nhất so với các thành phần kinh tế khác (chiếm 75,4%) tổng số việc làm trong nền kinh tế; tiếp đến là thành phần kinh tế nhà nước (chiếm 10,4%); kinh tế tập thể (chiếm 8,4%); tư nhân chiếm 3,3%); lao động làm ở thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ rất thấp (chỉ 1,3%) [118, tr. 54].Theo báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, năm 2003 đã giải quyết việc làm cho 1.505.000 người, tăng gần 6% so với năm 2002, trong đó phần lớn (74,4%) việc làm được giải quyết từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, số lao động được giải quyết việc làm thông qua chương trình này là 1.120.000 người chiếm 74,4% tổng số việc làm; thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm là 330.000 người chiếm 22% tổng số việc làm; thông qua xuất khẩu lao động là 55.000 người chiếm 3,65% tổng số chỗ làm việc mới. Quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước đã làm thay đổi về cơ bản đời sống của đại bộ phận các gia đình lao động của nước ta. Theo kết quả điều tra mức sống dân cư của Tổng cục thống kê, năm 2003, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức tiền lương bình quân tháng cao nhất (927 ngàn đồng), gấp 1,2 lần so với mức bình quân chung (mức tiền lương bình quân tháng của một người lao động làm công ăn lương là 775 ngàn đồng); tiếp đến là thành phần kinh tế nhà nước (855,4 ngàn đồng) bằng 1,1 lần so với mức bình quân chung. Các thành phần kinh tế khác đều có mức tiền lương thấp hơn so với mức bình quân chung, trong đó mức cao nhất là thành phần kinh tế tư nhân (755,6 ngàn đồng) chỉ bằng 97,42% so với mức bình quân chung và thấp nhất là thành phần kinh tế cá thể (613,8 ngàn đồng) chỉ bằng 79,13% so với mức bình quân chung. Đời sống dân cư được nâng lên đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo “Tỷ lệ nghèo đã giảm từ 13,33% năm 1999 xuống còn 9,96% năm 2001 -2002, trong đó khu vực nông thôn giảm từ 15,96% năm 1999 xuống 11,99%; khu vực thành thị giảm từ 4,61% xuống 3,61%” [101, tr. 134]. Từ các số liệu trên cho thấy: với khả năng thu nhập và mức sống ngày càng được cải thiện, nhiều người lao động sẽ có điều kiện tham gia vào chương trình bảo hiểm thất nghiệp. Ngày nay, người lao động có nhiều cơ hội để mở rộng sản xuất, tìm kiếm việc làm nhưng nguy cơ mất việc do doanh nghiệp bị phá sản, giải thể, thay đổi sản xuất kinh doanh, cơ cấu công nghệ...là điều khó tránh khỏi. Do vậy, việc bảo vệ người lao động khi bị mất việc làm, tránh cho họ những hụt hẫng trong cuộc sống là điều rất cần thiết. Hơn nữa, qua gần 20 năm phát triển kinh tế thị trường, và khoảng 10 năm tách bảo hiểm xã hội độc lập với ngân sách nhà nước, cho thấy Việt Nam đã đủ điều kiện về tổ chức và tài chính để lo bảo hiểm thất nghiệp.3.1.2 Cơ sở chính trịNước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội đáng mừng, đó là kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, lạm phát được đẩy lùi và kiểm soát tích cực. Nhưng, tình trạng thất nghiệp cũng lại trở thành một vấn đề xã hội bức xúc. Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến vấn đề này. Ngoài các biện pháp tình thế đối với lao động mất việc làm trong các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước còn dành một khoản tiền lớn trong ngân sách để cho vay hỗ trợ việc làm với lãi suất ưu đãi, cùng với các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất khác, hàng năm đã giải quyết được trên một triệu người có việc làm mới “Số lao động được giải quyết việc làm trong ba năm đạt khoảng 4,3 triệu người (nông nghiệp 2,6 triệu, công nghiệp trên 90 vạn, dịch vụ khoảng 76 vạn)” [47, tr. 39] và việc làm đầy đủ hơn. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cũng chủ trương xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho phù hợp với nền kinh tế thị trường. Chủ trương đó được ghi trong Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá VII của Đảng cộng sản Việt Nam : “Nghiên cứu ban hành chính sách trợ cấp thất nghiệp”. Tiếp tục tinh thần Nghị quyết VII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nêu lên: “Từng bước hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở thành thị” [45, tr. 173]. Ngoài ra, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh: “Sửa đổi, bổ sung tuổi nghỉ hưu; xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp để tạo điều kiện cho các cơ quan, doanh nghiệp sắp xếp lao động theo yêu cầu nâng cao hiệu suất công tác, năng suất lao động” [46, tr. 205]. Xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp là vấn đề mới mẻ ở nước ta, nên còn được đề cập chủ yếu trong các Nghị quyết của Quốc hội khoá X như: Nghị quyết số 11/1997 kỳ họp thứ 2 và Nghị quyết số 20/1998 kỳ họp thứ 4. Gần đây trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có nêu: “Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệpTheo: Lê Thị Hoài Thu Link luận án: Tại đây