TRƯỜNG HỢP NÀO VỤ ÁN HÌNH SỰ BỊ ĐÌNH CHỈ?
Trong quá trình xử lý vụ án hình sự, việc xem xét và quyết định việc đình chỉ vụ án là một quá trình quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tố tụng và quyền lợi của các bên liên quan. Để hiểu rõ hơn về quy trình và điều kiện đình chỉ vụ án hình sự, chúng ta cần tìm hiểu về những trường hợp cụ thể và thủ tục cần thiết trong quá trình này.
Khi nào thì đình chỉ vụ án hình sự?
Quyết định đình chỉ vụ án hình sự là quyết định của cơ quan tố tụng (cơ quan điều tra, cơ quan truy tố) dựa trên việc xem xét các yếu tố liên quan đến việc giữ gìn công lý, bảo vệ quyền lợi của các bên và mục tiêu của hệ thống tư pháp. Có một số trường hợp cụ thể khi cơ quan tố tụng có thể quyết định đình chỉ vụ án:
Thiếu bằng chứng: Khi không đủ bằng chứng để chứng minh việc phạm tội của bị can hoặc việc phạm tội không đủ nghiêm trọng để tiến hành truy tố.
Ân xá hóa vụ án: Trong một số trường hợp, cơ quan tố tụng có thể quyết định đình chỉ vụ án khi bị can đã thực hiện những hành vi bù đắp thiệt hại hoặc đã đền bù thiệt hại cho người bị hại.
Hoàn thiện hồ sơ: Khi cần thêm thời gian để hoàn thiện hồ sơ điều tra hoặc có yêu cầu điều tra bổ sung.
Lợi ích công cộng: Khi việc tiến hành xử lý vụ án không còn phù hợp với lợi ích công cộng hoặc sẽ gây ra hậu quả không mong muốn.
Yếu tố nhân phẩm: Khi bị can đã có hành vi thiện tâm sau khi vi phạm pháp luật và việc tiếp tục xử lý sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho tương lai của bị can.
Đình chỉ vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra
Theo Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
(1) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2021) hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);
Cụ thể, các căn cứ theo các quy định trên bao gồm:
- Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2021) bao gồm:
+ Không có sự việc phạm tội;
+ Hành vi không cấu thành tội phạm;
+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
+ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Tội phạm đã được đại xá;
+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
+ Tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
- Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
- Các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29, khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
(2) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
2. Đình chỉ vụ án hình sự trong giai đoạn truy tố
Theo Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi:
Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2021) hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Các căn cứ theo các quy định trên như đã đề cập tại (1) của mục 1 nêu trên.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
3. Đình chỉ vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử
Theo khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
(1) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Cụ thể, các căn cứ theo các quy định trên bao gồm:
- Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự như sau:
+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
+ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Tội phạm đã được đại xá;
+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
(Theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)
(2) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
Kết luận
Trong quá trình xử lý vụ án hình sự, việc đình chỉ vụ án là một quyết định quan trọng có ảnh hưởng lớn đến quá trình tố tụng và quyền lợi của các bên liên quan. Việc đình chỉ vụ án có thể dựa trên nhiều yếu tố như thiếu bằng chứng, ân xá hóa vụ án, lợi ích công cộng, và yếu tố nhân phẩm. Thủ tục đình chỉ vụ án cũng cần tuân thủ các quy trình và quy định pháp luật liên quan để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình xử lý tố tụng. Để biết thêm chi tiết về thủ tục pháp luật liên quan đến đình chỉ vụ án hình sự, bạn có thể tìm hiểu tại trang web của Thủ tục Pháp luật https://ttpl.vn.