0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file651a6ddbd0f7c-Khoản-dự-phòng-rủi-ro-dùng-để-bù-đắp-những-khoản-tổn-thất-nào-trong-hoạt-động-của-Ngân-hàng-Nhà-nước.png

Khoản dự phòng rủi ro dùng để bù đắp những khoản tổn thất nào trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước?

Khoản dự phòng rủi ro là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, được quy định và thực hiện theo quy định pháp luật. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về việc Ngân hàng Nhà nước lập khoản dự phòng rủi ro và thực hiện thủ tục liên quan dựa trên quy định của pháp luật.

I. Ngân hàng Nhà nước có được lập khoản dự phòng rủi ro hay không?

Căn cứ Điều 9 Chế độ tài chính ban hành kèm theo Quyết định 07/2013/QĐ-TTg quy định về khoản dự phòng rủi ro của ngân hàng nhà nước như sau:

Ngân hàng Nhà nước được lập khoản dự phòng rủi ro và hạch toán vào chi phí bằng 10% chênh lệch thu chi chưa bao gồm khoản chi dự phòng rủi ro. Số dư khoản dự phòng rủi ro không vượt quá số phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định áp dụng đối với Ngân hàng Nhà nước. Khoản dự phòng rủi ro được sử dụng đề bù đắp các khoản tổn thất hoặc coi như tổn thất trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, gồm có:

…”

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước được phép lập khoản dự phòng rủi ro và hạch toán vào chi phí bằng một tỷ lệ nhất định, thường là 10% chênh lệch thu chi chưa bao gồm khoản chi dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, số dư khoản dự phòng rủi ro không được vượt quá số phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định áp dụng.

II. Khoản dự phòng rủi ro dùng để bù đắp những khoản tổn thất nào trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước?

Căn cứ Điều 9 Chế độ tài chính ban hành kèm theo Quyết định 07/2013/QĐ-TTg quy định về khoản dự phòng rủi ro của ngân hàng nhà nước như sau:

Ngân hàng Nhà nước được lập khoản dự phòng rủi ro và hạch toán vào chi phí bằng 10% chênh lệch thu chi chưa bao gồm khoản chi dự phòng rủi ro. Số dư khoản dự phòng rủi ro không vượt quá số phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định áp dụng đối với Ngân hàng Nhà nước. Khoản dự phòng rủi ro được sử dụng đề bù đắp các khoản tổn thất hoặc coi như tổn thất trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, gồm có:

1. Các khoản tổn thất phát sinh từ hoạt động tín dụng:

- Các khoản nợ được xóa theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhưng không được Chính phủ cấp nguồn để bù đắp cho Ngân hàng Nhà nước.

- Các khoản nợ vay, các khoản trả thay tổ chức tín dụng có đủ bằng chứng chắc chắn là không còn khả năng thu hồi nợ khi tổ chức tín dụng bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.

2. Các khoản tổn thất trong hoạt động thanh toán và ngân quỹ:

- Các khoản tổn thất trong khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán như sự cố kỹ thuật mạng thanh toán, công nghệ...

- Tổn thất về tiền, vàng, tài sản quý và giấy tờ có giá phát sinh trong hoạt động ngân quỹ.

3. Các khoản tổn thất phát sinh trong hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và can thiệp bình ổn thị trường vàng trong nước:

- Tổn thất về tiền, vàng, và giấy tờ có giá gửi tại ngân hàng nước ngoài do nguyên nhân bất khả kháng như quốc gia nơi Ngân hàng Nhà nước gửi tiền bị chiến tranh, khủng bố, phá sản, thiên tai và ngân hàng nước ngoài đó không còn khả năng thanh toán.

- Rủi ro do giảm giá chứng khoán đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế; rủi ro trong việc kiểm định chất lượng vàng, giảm giá vàng.

4. Các khoản tổn thất khác trong quá trình hoạt động có đủ bằng chứng tin cậy là không còn đối tượng để thu hoặc đối tượng phải thu không còn khả năng thanh toán.

5. Xử lý các khoản thanh toán với nhà nước và ngân sách nhà nước theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

6. Các trường hợp khác theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Số dư của khoản dự phòng rủi ro được trích lập từ khi có Nghị định số 100/1998/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ được chuyển thành số dư đầu của khoản dự phòng rủi ro được trích lập theo Chế độ này để tiếp tục sử dụng theo quy định.

Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính ban hành quy chế quản lý và sử dụng khoản dự phòng rủi ro.”

Theo đó, khoản dự phòng rủi ro được sử dụng đề bù đắp các khoản tổn thất hoặc coi như tổn thất trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, gồm có:

(1) Các khoản tổn thất phát sinh từ hoạt động tín dụng: Bao gồm các khoản nợ được xóa theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhưng không được Chính phủ cấp nguồn để bù đắp cho Ngân hàng Nhà nước. Điều này áp dụng cho các trường hợp mà Chính phủ quyết định giảm bớt hoặc hủy bỏ các khoản nợ đối với Ngân hàng Nhà nước.

(2) Các khoản tổn thất trong hoạt động thanh toán và ngân quỹ: Bao gồm các khoản tổn thất phát sinh trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán, chẳng hạn như sự cố kỹ thuật mạng thanh toán, công nghệ. Các tổn thất về tiền, vàng, tài sản quý và giấy tờ có giá phát sinh trong hoạt động ngân quỹ cũng có thể được đề bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro.

(3) Các khoản tổn thất phát sinh trong hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và can thiệp bình ổn thị trường vàng trong nước: Bao gồm tổn thất về tiền, vàng và giấy tờ có giá gửi tại ngân hàng nước ngoài khi do những nguyên nhân bất khả kháng mà quốc gia nơi Ngân hàng Nhà nước gửi tiền bị chiến tranh, khủng bố, phá sản, thiên tai và ngân hàng nước ngoài đó không còn khả năng thanh toán. Ngoài ra, rủi ro liên quan đến giảm giá chứng khoán đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế và rủi ro trong việc kiểm định chất lượng vàng cũng có thể được đề bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro.

(4) Các khoản tổn thất khác trong quá trình hoạt động: Bao gồm các tổn thất mà có đủ bằng chứng tin cậy là không còn đối tượng để thu hoặc đối tượng phải thu không còn khả năng thanh toán. Đây có thể là các trường hợp đặc biệt mà Ngân hàng Nhà nước quyết định sử dụng khoản dự phòng rủi ro để giải quyết.

(5) Xử lý các khoản thanh toán với nhà nước và ngân sách nhà nước: Nếu có các khoản thanh toán đối với nhà nước và ngân sách nhà nước mà cần được xử lý hoặc đề bù đắp, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng khoản dự phòng rủi ro để thực hiện điều này theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

(6) Các trường hợp khác theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có thể quyết định sử dụng khoản dự phòng rủi ro cho các trường hợp khác mà không nằm trong các danh mục cụ thể được quy định trước đó.

III. Trong trường hợp số dư khoản dự phòng rủi ro cao hơn số phải trích lập dự phòng rủi ro thì xử lý như thế nào?

Căn cứ Điều 5 Thông tư 195/2013/TT-BTC quy định về dự phòng rủi ro như sau:

“Dự phòng rủi ro

1. Ngân hàng Nhà nước thực hiện trích lập, quản lý và sử dụng khoản dự phòng rủi ro theo quy định tại Điều 9 Chế độ tài chính của Ngân hàng Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 07/2013/QĐ-TTg .

2. Trong trường hợp số dư khoản dự phòng rủi ro cao hơn số phải trích lập dự phòng rủi ro, Ngân hàng Nhà nước phải hạch toán khoản chênh lệch giữa số dư khoản dự phòng rủi ro và số phải trích vào thu nhập trong kỳ.”

Như vậy, trong trường hợp số dư khoản dự phòng rủi ro cao hơn số phải trích lập dự phòng rủi ro thì Ngân hàng Nhà nước phải hạch toán khoản chênh lệch giữa số dư khoản dự phòng rủi ro và số phải trích vào thu nhập trong kỳ.

Kết luận

Khoản dự phòng rủi ro là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật và thủ tục của Ngân hàng Nhà nước, giúp đảm bảo tính ổn định và an toàn của hoạt động ngân hàng. Việc lập và sử dụng khoản dự phòng rủi ro phải tuân theo quy định của pháp luật để đảm bảo tính minh bạch và đúng luật trong các giao dịch tài chính.

 

avatar
Nguyễn Diễm Quỳnh
806 ngày trước
Khoản dự phòng rủi ro dùng để bù đắp những khoản tổn thất nào trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước?
Khoản dự phòng rủi ro là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, được quy định và thực hiện theo quy định pháp luật. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về việc Ngân hàng Nhà nước lập khoản dự phòng rủi ro và thực hiện thủ tục liên quan dựa trên quy định của pháp luật.I. Ngân hàng Nhà nước có được lập khoản dự phòng rủi ro hay không?Căn cứ Điều 9 Chế độ tài chính ban hành kèm theo Quyết định 07/2013/QĐ-TTg quy định về khoản dự phòng rủi ro của ngân hàng nhà nước như sau:“Ngân hàng Nhà nước được lập khoản dự phòng rủi ro và hạch toán vào chi phí bằng 10% chênh lệch thu chi chưa bao gồm khoản chi dự phòng rủi ro. Số dư khoản dự phòng rủi ro không vượt quá số phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định áp dụng đối với Ngân hàng Nhà nước. Khoản dự phòng rủi ro được sử dụng đề bù đắp các khoản tổn thất hoặc coi như tổn thất trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, gồm có:…”Theo đó, Ngân hàng Nhà nước được phép lập khoản dự phòng rủi ro và hạch toán vào chi phí bằng một tỷ lệ nhất định, thường là 10% chênh lệch thu chi chưa bao gồm khoản chi dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, số dư khoản dự phòng rủi ro không được vượt quá số phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định áp dụng.II. Khoản dự phòng rủi ro dùng để bù đắp những khoản tổn thất nào trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước?Căn cứ Điều 9 Chế độ tài chính ban hành kèm theo Quyết định 07/2013/QĐ-TTg quy định về khoản dự phòng rủi ro của ngân hàng nhà nước như sau:“Ngân hàng Nhà nước được lập khoản dự phòng rủi ro và hạch toán vào chi phí bằng 10% chênh lệch thu chi chưa bao gồm khoản chi dự phòng rủi ro. Số dư khoản dự phòng rủi ro không vượt quá số phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định áp dụng đối với Ngân hàng Nhà nước. Khoản dự phòng rủi ro được sử dụng đề bù đắp các khoản tổn thất hoặc coi như tổn thất trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, gồm có:1. Các khoản tổn thất phát sinh từ hoạt động tín dụng:- Các khoản nợ được xóa theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhưng không được Chính phủ cấp nguồn để bù đắp cho Ngân hàng Nhà nước.- Các khoản nợ vay, các khoản trả thay tổ chức tín dụng có đủ bằng chứng chắc chắn là không còn khả năng thu hồi nợ khi tổ chức tín dụng bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.2. Các khoản tổn thất trong hoạt động thanh toán và ngân quỹ:- Các khoản tổn thất trong khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán như sự cố kỹ thuật mạng thanh toán, công nghệ...- Tổn thất về tiền, vàng, tài sản quý và giấy tờ có giá phát sinh trong hoạt động ngân quỹ.3. Các khoản tổn thất phát sinh trong hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và can thiệp bình ổn thị trường vàng trong nước:- Tổn thất về tiền, vàng, và giấy tờ có giá gửi tại ngân hàng nước ngoài do nguyên nhân bất khả kháng như quốc gia nơi Ngân hàng Nhà nước gửi tiền bị chiến tranh, khủng bố, phá sản, thiên tai và ngân hàng nước ngoài đó không còn khả năng thanh toán.- Rủi ro do giảm giá chứng khoán đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế; rủi ro trong việc kiểm định chất lượng vàng, giảm giá vàng.4. Các khoản tổn thất khác trong quá trình hoạt động có đủ bằng chứng tin cậy là không còn đối tượng để thu hoặc đối tượng phải thu không còn khả năng thanh toán.5. Xử lý các khoản thanh toán với nhà nước và ngân sách nhà nước theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.6. Các trường hợp khác theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.Số dư của khoản dự phòng rủi ro được trích lập từ khi có Nghị định số 100/1998/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ được chuyển thành số dư đầu của khoản dự phòng rủi ro được trích lập theo Chế độ này để tiếp tục sử dụng theo quy định.Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính ban hành quy chế quản lý và sử dụng khoản dự phòng rủi ro.”Theo đó, khoản dự phòng rủi ro được sử dụng đề bù đắp các khoản tổn thất hoặc coi như tổn thất trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, gồm có:(1) Các khoản tổn thất phát sinh từ hoạt động tín dụng: Bao gồm các khoản nợ được xóa theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhưng không được Chính phủ cấp nguồn để bù đắp cho Ngân hàng Nhà nước. Điều này áp dụng cho các trường hợp mà Chính phủ quyết định giảm bớt hoặc hủy bỏ các khoản nợ đối với Ngân hàng Nhà nước.(2) Các khoản tổn thất trong hoạt động thanh toán và ngân quỹ: Bao gồm các khoản tổn thất phát sinh trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán, chẳng hạn như sự cố kỹ thuật mạng thanh toán, công nghệ. Các tổn thất về tiền, vàng, tài sản quý và giấy tờ có giá phát sinh trong hoạt động ngân quỹ cũng có thể được đề bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro.(3) Các khoản tổn thất phát sinh trong hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và can thiệp bình ổn thị trường vàng trong nước: Bao gồm tổn thất về tiền, vàng và giấy tờ có giá gửi tại ngân hàng nước ngoài khi do những nguyên nhân bất khả kháng mà quốc gia nơi Ngân hàng Nhà nước gửi tiền bị chiến tranh, khủng bố, phá sản, thiên tai và ngân hàng nước ngoài đó không còn khả năng thanh toán. Ngoài ra, rủi ro liên quan đến giảm giá chứng khoán đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế và rủi ro trong việc kiểm định chất lượng vàng cũng có thể được đề bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro.(4) Các khoản tổn thất khác trong quá trình hoạt động: Bao gồm các tổn thất mà có đủ bằng chứng tin cậy là không còn đối tượng để thu hoặc đối tượng phải thu không còn khả năng thanh toán. Đây có thể là các trường hợp đặc biệt mà Ngân hàng Nhà nước quyết định sử dụng khoản dự phòng rủi ro để giải quyết.(5) Xử lý các khoản thanh toán với nhà nước và ngân sách nhà nước: Nếu có các khoản thanh toán đối với nhà nước và ngân sách nhà nước mà cần được xử lý hoặc đề bù đắp, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng khoản dự phòng rủi ro để thực hiện điều này theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.(6) Các trường hợp khác theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có thể quyết định sử dụng khoản dự phòng rủi ro cho các trường hợp khác mà không nằm trong các danh mục cụ thể được quy định trước đó.III. Trong trường hợp số dư khoản dự phòng rủi ro cao hơn số phải trích lập dự phòng rủi ro thì xử lý như thế nào?Căn cứ Điều 5 Thông tư 195/2013/TT-BTC quy định về dự phòng rủi ro như sau:“Dự phòng rủi ro1. Ngân hàng Nhà nước thực hiện trích lập, quản lý và sử dụng khoản dự phòng rủi ro theo quy định tại Điều 9 Chế độ tài chính của Ngân hàng Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 07/2013/QĐ-TTg .2. Trong trường hợp số dư khoản dự phòng rủi ro cao hơn số phải trích lập dự phòng rủi ro, Ngân hàng Nhà nước phải hạch toán khoản chênh lệch giữa số dư khoản dự phòng rủi ro và số phải trích vào thu nhập trong kỳ.”Như vậy, trong trường hợp số dư khoản dự phòng rủi ro cao hơn số phải trích lập dự phòng rủi ro thì Ngân hàng Nhà nước phải hạch toán khoản chênh lệch giữa số dư khoản dự phòng rủi ro và số phải trích vào thu nhập trong kỳ.Kết luậnKhoản dự phòng rủi ro là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật và thủ tục của Ngân hàng Nhà nước, giúp đảm bảo tính ổn định và an toàn của hoạt động ngân hàng. Việc lập và sử dụng khoản dự phòng rủi ro phải tuân theo quy định của pháp luật để đảm bảo tính minh bạch và đúng luật trong các giao dịch tài chính.