0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file651e5aa47157e-Thêm-tiêu-đề--44-.jpg

Pháp luật có công nhận quan hệ nhôn nhân và thừa kế khi không đăng ký kết hôn không?

Có những trường hợp nào khi không đăng ký kết hôn mà vẫn có thể công nhận quan hệ hôn nhân? Nếu sống chung với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, liệu họ có được quyền hưởng di sản và thừa kế của nhau? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Trường hợp nào chưa đăng ký kết hôn mà quan hệ hôn nhân vẫn được thừa nhận?

Có những tình huống khi quan hệ hôn nhân vẫn được công nhận mà không cần đăng ký kết hôn. Theo Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, các trường hợp này bao gồm:

1. Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn. Nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án sẽ áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Quan trọng là quan hệ vợ chồng của họ sẽ được công nhận từ thời điểm xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải từ ngày đăng ký kết hôn.

2. Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng. Trong trường hợp này, họ cần đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2001.

  - Nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003, thì Toà án sẽ áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý rằng quan hệ vợ chồng của họ sẽ được công nhận là đã xác lập từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải từ ngày đăng ký kết hôn.

  - Nếu họ không đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2003 trở đi, thì quan hệ của họ không được công nhận là vợ chồng.

  - Nếu họ mới đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003 và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án sẽ áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Trong trường hợp này, quan hệ vợ chồng của họ sẽ được công nhận là đã xác lập từ ngày họ đăng ký kết hôn.

Như vậy, theo quy định nêu trên, trong thực tế, có những trường hợp đặc thù nam và nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước sau đó mới thực hiện đăng ký kết hôn, và quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận từ thời điểm họ chung sống với nhau như vợ chồng, không phải từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Không đăng ký kết hôn, có được hưởng di sản thừa kế do vợ/chồng để lại không?

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, những người được quyền thừa kế khi người chết để lại di sản nhưng không có di chúc bao gồm:

1. Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

2. Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

3. Hàng thừa kế thứ ba bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Như vậy, khi người chồng/vợ chết không có di chúc, thì người vợ/chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất là người được hưởng di sản thừa kế từ người còn lại chết để lại. Tuy nhiên, về nguyên tắc, người vợ/chồng để được nhận di sản thừa kế từ người còn lại, phải có quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận thông qua việc đăng ký kết hôn. Do đó, nếu hai bên chỉ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, thì quan hệ hôn nhân của họ chưa được pháp luật công nhận, và người vợ/chồng trong trường hợp này sẽ không được hưởng di sản thừa kế từ người chết để lại.

Như vậy, để được bảo vệ quyền lợi chính đáng trong quan hệ hôn nhân và khi có tranh chấp xảy ra, nam nữa nên thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến quan hệ hôn nhân và thừa kế, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết.

 

 

avatar
Nguyễn Phương Thảo
891 ngày trước
Pháp luật có công nhận quan hệ nhôn nhân và thừa kế khi không đăng ký kết hôn không?
Có những trường hợp nào khi không đăng ký kết hôn mà vẫn có thể công nhận quan hệ hôn nhân? Nếu sống chung với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, liệu họ có được quyền hưởng di sản và thừa kế của nhau? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.Trường hợp nào chưa đăng ký kết hôn mà quan hệ hôn nhân vẫn được thừa nhận?Có những tình huống khi quan hệ hôn nhân vẫn được công nhận mà không cần đăng ký kết hôn. Theo Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, các trường hợp này bao gồm:1. Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn. Nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án sẽ áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Quan trọng là quan hệ vợ chồng của họ sẽ được công nhận từ thời điểm xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải từ ngày đăng ký kết hôn.2. Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng. Trong trường hợp này, họ cần đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2001.  - Nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003, thì Toà án sẽ áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý rằng quan hệ vợ chồng của họ sẽ được công nhận là đã xác lập từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải từ ngày đăng ký kết hôn.  - Nếu họ không đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2003 trở đi, thì quan hệ của họ không được công nhận là vợ chồng.  - Nếu họ mới đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003 và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án sẽ áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Trong trường hợp này, quan hệ vợ chồng của họ sẽ được công nhận là đã xác lập từ ngày họ đăng ký kết hôn.Như vậy, theo quy định nêu trên, trong thực tế, có những trường hợp đặc thù nam và nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước sau đó mới thực hiện đăng ký kết hôn, và quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận từ thời điểm họ chung sống với nhau như vợ chồng, không phải từ thời điểm đăng ký kết hôn.Không đăng ký kết hôn, có được hưởng di sản thừa kế do vợ/chồng để lại không?Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, những người được quyền thừa kế khi người chết để lại di sản nhưng không có di chúc bao gồm:1. Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.2. Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.3. Hàng thừa kế thứ ba bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.Như vậy, khi người chồng/vợ chết không có di chúc, thì người vợ/chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất là người được hưởng di sản thừa kế từ người còn lại chết để lại. Tuy nhiên, về nguyên tắc, người vợ/chồng để được nhận di sản thừa kế từ người còn lại, phải có quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận thông qua việc đăng ký kết hôn. Do đó, nếu hai bên chỉ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, thì quan hệ hôn nhân của họ chưa được pháp luật công nhận, và người vợ/chồng trong trường hợp này sẽ không được hưởng di sản thừa kế từ người chết để lại.Như vậy, để được bảo vệ quyền lợi chính đáng trong quan hệ hôn nhân và khi có tranh chấp xảy ra, nam nữa nên thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến quan hệ hôn nhân và thừa kế, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết.