0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file6520efe21b375-94.jpg

Quy Trình và Quy Định Thủ Tục Trưng Cầu Giám Định trong Tố Tụng Dân Sự

Trong quá trình xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, việc xác định sự thật và chứng minh bằng bằng chứng là một phần quan trọng để đảm bảo công bằng và minh bạch trong tố tụng. Đôi khi, để làm rõ các khía cạnh phức tạp của một vụ án, cần đến sự can thiệp của các chuyên gia chứng kiến, người sở hữu kiến thức và kỹ năng đặc biệt trong lĩnh vực liên quan.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá quy trình thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự. Qua đó, sẽ tìm hiểu cụ thể về các bước thực hiện, quy định pháp lý, và vai trò quan trọng của giám định viên trong việc đưa ra các kết luận quyết định trong các vụ án pháp lý. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách mà quy trình giám định này đóng góp vào quá trình xét xử và công lý trong tố tụng dân sự.

Cơ sở pháp lý cho trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự

Biện pháp trưng cầu giám định, yêu cầu giám định được quy định tại Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây gọi là BLTTDS 2015). Theo đó:

  • Quyền yêu cầu giám định: Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm hoặc quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
  • Quyết định trưng cầu giám định: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Quyết định này phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, và các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.
  • Giải thích kết luận giám định: Trường hợp kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật, đương sự hoặc cơ quan Tòa án có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định và triệu tập người giám định đến phiên tòa hoặc phiên họp để trình bày về các nội dung cần thiết.
  • Trưng cầu giám định bổ sung: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.
  • Giám định lại: Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật, hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp (năm 2012, sửa đổi và bổ sung năm 2018).

Luật Giám định tư pháp cũng cung cấp hướng dẫn chi tiết về các quy định liên quan đến giám định trong tố tụng dân sự, bổ sung và điều chỉnh quy định về việc giám định và vai trò của các bên liên quan. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hiểu quy trình và quy định về trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự.

Hình thức tiến hành trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự

Việc trưng cầu giám định và yêu cầu giám định trong tố tụng dân sự đều nhằm mục tiêu chung là có được bản kết luận giám định về các vấn đề chuyên môn liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự theo quyết định trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định, theo quy định của pháp luật.

Theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để có kết luận giám định, có thể tiến hành qua hai hình thức sau:

  • Trưng cầu giám định: Đây là hình thức do Tòa án tiến hành thông qua việc ra Quyết định trưng cầu giám định khi đương sự yêu cầu hoặc khi xem xét cần thiết. Trong trường hợp này, Tòa án đưa ra Quyết định trưng cầu giám định, trong đó ghi rõ thông tin về người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, và các yêu cầu cụ thể liên quan đến kết luận của người giám định. Quyết định này thường được đưa ra sau khi đương sự đã yêu cầu giám định hoặc khi Tòa án xem xét cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp kết luận giám định không đủ rõ ràng hoặc vi phạm pháp luật, Tòa án hoặc đương sự có quyền yêu cầu người giám định giải thích hoặc triệu tập họ đến phiên tòa để làm rõ.
  • Yêu cầu giám định: Đương sự tự mình yêu cầu tổ chức giám định, điều kiện tiên quyết là đã có yêu cầu trưng cầu giám định trước đó nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Trong trường hợp này, đương sự có quyền tự mình gửi văn bản yêu cầu tổ chức giám định. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng từ chối yêu cầu, họ phải thông báo cho đương sự bằng văn bản trong vòng 7 ngày. Sau khi hết thời hạn này hoặc sau khi nhận thông báo từ chối, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định.

Hình thức trưng cầu giám định là biện pháp thu thập chứng cứ do Tòa án tiến hành, trong khi hình thức yêu cầu giám định là đương sự tự mình yêu cầu tổ chức giám định dưới điều kiện cần thiết. Cả hai hình thức này đều đóng góp vào việc xác định sự thật và giúp các bên trong tố tụng có căn cứ khoa học cho việc giải quyết vụ án.

Nội dung của Quyết định trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, Quyết định trưng cầu giám định là một phần quan trọng để đảm bảo tính công bằng và khoa học trong việc xác định sự thật của các vấn đề chuyên môn liên quan. Hiện nay, các giám định tư pháp được sử dụng rộng rãi bao gồm giám định chữ viết, dấu vân tay, giám định gen ADN, giám định xây dựng, giám định hàng hóa, giám định sức khỏe, và nhiều loại khác.

Quyết định trưng cầu giám định phải tuân theo các quy định trong Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ, điều này đảm bảo tính chính xác và khoa học của quyết định.

Thông qua mẫu số 06-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết Số: 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017, Quyết định trưng cầu giám định cần ghi rõ các nội dung sau:

  • Các thông tin cơ bản của vụ việc dân sự: Điều này bao gồm các chi tiết như tên và số vụ việc, ngày khởi kiện, tên và địa chỉ các bên liên quan, và các thông tin cơ bản liên quan đến vụ việc.
  • Loại hình trưng cầu giám định: Quyết định cần xác định xem trưng cầu giám định là lần đầu, bổ sung, hay giám định lại.
  • Lý do áp dụng: Quyết định cần nêu rõ liệu việc trưng cầu giám định là do đương sự đã yêu cầu hay do Tòa án xem xét cần thiết cho việc giải quyết vụ án.
  • Đối tượng cần giám định: Điều này đề cập đến việc xác định người hoặc vật cần được giám định, ví dụ như việc kiểm tra chữ ký của người bán trong hợp đồng mua bán tài sản hoặc xác minh chữ viết trong bản di chúc được giao nộp cho Tòa án.
  • Thông tin về tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định: Ghi rõ tên và địa chỉ của tổ chức được trưng cầu giám định hoặc tên, địa chỉ của người được trưng cầu giám định.
  • Các vấn đề cần giám định và yêu cầu cụ thể: Quyết định cần liệt kê chi tiết các vấn đề cần được giám định và đặt ra các yêu cầu cụ thể mà kết luận giám định cần phải thỏa mãn.
  • Các tài liệu và số liệu liên quan: Điều này bao gồm thông tin về bất kỳ tài liệu nào liên quan hoặc mẫu so sánh nào được gửi kèm theo quyết định, cũng như số lượng cụ thể và các ký hiệu tương ứng.
  • Thời hạn giám định: Quyết định cần xác định thời hạn cho việc tổ chức giám định tư pháp hoặc cho người giám định viên trình báo kết luận giám định cho Tòa án.

Tất cả những thông tin này đóng vai trò quan trọng để đảm bảo quá trình giám định được tiến hành một cách công bằng, khoa học và theo quy định của pháp luật.

Giám định bổ sung và Giám định lại trong tố tụng dân sự

Giám định bổ sung

Trong trường hợp kết luận giám định ban đầu bị thiếu sót, không rõ ràng hoặc vi phạm pháp luật, Tòa án có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định. Nếu cần thiết, Tòa án có thể triệu tập người giám định đến phiên tòa hoặc phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung quan trọng. Quy định này nhấn mạnh tính công bằng và khoa học trong việc giám định và giúp Tòa án hiểu rõ hơn về kết quả giám định.

Ngoài ra, Tòa án cũng có thể ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung của kết luận giám định không rõ ràng, thiếu sót hoặc khi xuất hiện vấn đề mới có liên quan đến vụ việc đã được giám định trước đó. Quyết định này có thể dựa trên yêu cầu của đương sự hoặc khi Tòa án thấy cần thiết. Việc giám định bổ sung nhằm bổ sung thông tin hoặc sửa đổi kết luận giám định ban đầu để đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả.

Giám định lại

Giám định lại được thực hiện trong các trường hợp sau:

  • Có căn cứ cho rằng kết luận giám định ban đầu không chính xác: Điều này có thể xuất phát từ việc phát hiện ra sự thiếu sót hoặc sai sót trong quá trình giám định ban đầu.
  • Có vi phạm pháp luật trong quá trình giám định ban đầu: Nếu có bất kỳ vi phạm nào về quy trình hoặc pháp lý trong quá trình giám định ban đầu, Tòa án có quyền yêu cầu giám định lại để điều tra và đảm bảo tính hợp pháp của kết quả.
  • Trong các trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Điều này áp dụng khi có những tình tiết đặc biệt không thể giải quyết bằng cách giám định bổ sung thông thường.

Việc giám định lại nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả giám định, đặc biệt trong những trường hợp có sự nghi ngờ về tính hợp pháp hoặc độ chính xác của kết quả giám định ban đầu. Quy trình này đòi hỏi sự cân nhắc cẩn thận và sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo tính công bằng và đúng luật trong tố tụng dân sự.

Câu hỏi liên quan

Câu hỏi 1: Quy trình thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

Để yêu cầu giám định, đương sự phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Văn bản yêu cầu giám định phải có các nội dung sau:

  • Tên tổ chức hoặc họ, tên người yêu cầu giám định.
  • Nội dung yêu cầu giám định.
  • Tên và đặc điểm của đối tượng giám định.
  • Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có).
  • Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.
  • Chữ ký, họ, tên người yêu cầu giám định.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, Thẩm phán sẽ ra quyết định trưng cầu giám định hoặc từ chối yêu cầu của đương sự. Nếu yêu cầu của đương sự được chấp nhận, thì việc giám định sẽ được tiến hành sau khi có quyết định trưng cầu và trả về kết quả giám định.

Câu hỏi 2: Quy định nào quy định về thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự?

Trả lời: Thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Theo đó, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Để yêu cầu giám định, đương sự phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Văn bản yêu cầu giám định phải có các nội dung cơ bản như tên, nội dung, đặc điểm của đối tượng giám định, ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, Thẩm phán sẽ ra quyết định trưng cầu giám định hoặc từ chối yêu cầu của đương sự. Nếu yêu cầu của đương sự được chấp nhận, thì việc giám định sẽ được tiến hành sau khi có quyết định trưng cầu và trả về kết quả giám định.

Câu hỏi 3: Ai có quyền trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự?

Trả lời: Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, chủ thể có quyền trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự là:

  • Tòa án, khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, có thể ra quyết định trưng cầu giám định.
  • Đương sự, khi đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự, có thể tự mình yêu cầu giám định.

Để yêu cầu giám định, đương sự phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Văn bản yêu cầu giám định phải có các nội dung cơ bản như tên, nội dung, đặc điểm của đối tượng giám định, ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.

Câu hỏi 4: Ai thực hiện việc giám định trong thủ tục trưng cầu giám định?

Trả lời: Việc giám định trong thủ tục trưng cầu giám định được thực hiện bởi những người có kiến thức chuyên môn cần thiết về các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ… theo quy định của pháp luật. Người giám định có thể là cá nhân hoặc tổ chức giám định tư pháp, được cơ quan tiến hành tố tụng hoặc đương sự lựa chọn và yêu cầu. Người giám định phải đảm bảo sự vô tư, khách quan, trung thực, nghiêm túc và chịu trách nhiệm về kết quả giám định. Người giám định có quyền yêu cầu cung cấp đối tượng giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan, yêu cầu làm rõ các câu hỏi giám định, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm điều kiện cần thiết cho việc giám định. Người giám định có nghĩa vụ thực hiện giám định theo quyết định trưng cầu giám định, trả kết luận giám định đúng thời hạn, tham gia phiên tòa khi được yêu cầu.

Câu hỏi 5: Tòa án có quyền yêu cầu giám định bổ sung hay giám định lại không?

Trả lời: Tòa án có quyền yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại trong các trường hợp sau:

  • Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.
  • Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
avatar
Nguyễn Trung Dũng
887 ngày trước
Quy Trình và Quy Định Thủ Tục Trưng Cầu Giám Định trong Tố Tụng Dân Sự
Trong quá trình xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, việc xác định sự thật và chứng minh bằng bằng chứng là một phần quan trọng để đảm bảo công bằng và minh bạch trong tố tụng. Đôi khi, để làm rõ các khía cạnh phức tạp của một vụ án, cần đến sự can thiệp của các chuyên gia chứng kiến, người sở hữu kiến thức và kỹ năng đặc biệt trong lĩnh vực liên quan.Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá quy trình thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự. Qua đó, sẽ tìm hiểu cụ thể về các bước thực hiện, quy định pháp lý, và vai trò quan trọng của giám định viên trong việc đưa ra các kết luận quyết định trong các vụ án pháp lý. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách mà quy trình giám định này đóng góp vào quá trình xét xử và công lý trong tố tụng dân sự.Cơ sở pháp lý cho trưng cầu giám định trong tố tụng dân sựBiện pháp trưng cầu giám định, yêu cầu giám định được quy định tại Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây gọi là BLTTDS 2015). Theo đó:Quyền yêu cầu giám định: Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm hoặc quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.Quyết định trưng cầu giám định: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Quyết định này phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, và các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.Giải thích kết luận giám định: Trường hợp kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật, đương sự hoặc cơ quan Tòa án có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định và triệu tập người giám định đến phiên tòa hoặc phiên họp để trình bày về các nội dung cần thiết.Trưng cầu giám định bổ sung: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.Giám định lại: Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật, hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp (năm 2012, sửa đổi và bổ sung năm 2018).Luật Giám định tư pháp cũng cung cấp hướng dẫn chi tiết về các quy định liên quan đến giám định trong tố tụng dân sự, bổ sung và điều chỉnh quy định về việc giám định và vai trò của các bên liên quan. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hiểu quy trình và quy định về trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự.Hình thức tiến hành trưng cầu giám định trong tố tụng dân sựViệc trưng cầu giám định và yêu cầu giám định trong tố tụng dân sự đều nhằm mục tiêu chung là có được bản kết luận giám định về các vấn đề chuyên môn liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự theo quyết định trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định, theo quy định của pháp luật.Theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để có kết luận giám định, có thể tiến hành qua hai hình thức sau:Trưng cầu giám định: Đây là hình thức do Tòa án tiến hành thông qua việc ra Quyết định trưng cầu giám định khi đương sự yêu cầu hoặc khi xem xét cần thiết. Trong trường hợp này, Tòa án đưa ra Quyết định trưng cầu giám định, trong đó ghi rõ thông tin về người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, và các yêu cầu cụ thể liên quan đến kết luận của người giám định. Quyết định này thường được đưa ra sau khi đương sự đã yêu cầu giám định hoặc khi Tòa án xem xét cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp kết luận giám định không đủ rõ ràng hoặc vi phạm pháp luật, Tòa án hoặc đương sự có quyền yêu cầu người giám định giải thích hoặc triệu tập họ đến phiên tòa để làm rõ.Yêu cầu giám định: Đương sự tự mình yêu cầu tổ chức giám định, điều kiện tiên quyết là đã có yêu cầu trưng cầu giám định trước đó nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Trong trường hợp này, đương sự có quyền tự mình gửi văn bản yêu cầu tổ chức giám định. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng từ chối yêu cầu, họ phải thông báo cho đương sự bằng văn bản trong vòng 7 ngày. Sau khi hết thời hạn này hoặc sau khi nhận thông báo từ chối, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định.Hình thức trưng cầu giám định là biện pháp thu thập chứng cứ do Tòa án tiến hành, trong khi hình thức yêu cầu giám định là đương sự tự mình yêu cầu tổ chức giám định dưới điều kiện cần thiết. Cả hai hình thức này đều đóng góp vào việc xác định sự thật và giúp các bên trong tố tụng có căn cứ khoa học cho việc giải quyết vụ án.Nội dung của Quyết định trưng cầu giám định trong tố tụng dân sựTrong tố tụng dân sự, Quyết định trưng cầu giám định là một phần quan trọng để đảm bảo tính công bằng và khoa học trong việc xác định sự thật của các vấn đề chuyên môn liên quan. Hiện nay, các giám định tư pháp được sử dụng rộng rãi bao gồm giám định chữ viết, dấu vân tay, giám định gen ADN, giám định xây dựng, giám định hàng hóa, giám định sức khỏe, và nhiều loại khác.Quyết định trưng cầu giám định phải tuân theo các quy định trong Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ, điều này đảm bảo tính chính xác và khoa học của quyết định.Thông qua mẫu số 06-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết Số: 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017, Quyết định trưng cầu giám định cần ghi rõ các nội dung sau:Các thông tin cơ bản của vụ việc dân sự: Điều này bao gồm các chi tiết như tên và số vụ việc, ngày khởi kiện, tên và địa chỉ các bên liên quan, và các thông tin cơ bản liên quan đến vụ việc.Loại hình trưng cầu giám định: Quyết định cần xác định xem trưng cầu giám định là lần đầu, bổ sung, hay giám định lại.Lý do áp dụng: Quyết định cần nêu rõ liệu việc trưng cầu giám định là do đương sự đã yêu cầu hay do Tòa án xem xét cần thiết cho việc giải quyết vụ án.Đối tượng cần giám định: Điều này đề cập đến việc xác định người hoặc vật cần được giám định, ví dụ như việc kiểm tra chữ ký của người bán trong hợp đồng mua bán tài sản hoặc xác minh chữ viết trong bản di chúc được giao nộp cho Tòa án.Thông tin về tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định: Ghi rõ tên và địa chỉ của tổ chức được trưng cầu giám định hoặc tên, địa chỉ của người được trưng cầu giám định.Các vấn đề cần giám định và yêu cầu cụ thể: Quyết định cần liệt kê chi tiết các vấn đề cần được giám định và đặt ra các yêu cầu cụ thể mà kết luận giám định cần phải thỏa mãn.Các tài liệu và số liệu liên quan: Điều này bao gồm thông tin về bất kỳ tài liệu nào liên quan hoặc mẫu so sánh nào được gửi kèm theo quyết định, cũng như số lượng cụ thể và các ký hiệu tương ứng.Thời hạn giám định: Quyết định cần xác định thời hạn cho việc tổ chức giám định tư pháp hoặc cho người giám định viên trình báo kết luận giám định cho Tòa án.Tất cả những thông tin này đóng vai trò quan trọng để đảm bảo quá trình giám định được tiến hành một cách công bằng, khoa học và theo quy định của pháp luật.Giám định bổ sung và Giám định lại trong tố tụng dân sựGiám định bổ sungTrong trường hợp kết luận giám định ban đầu bị thiếu sót, không rõ ràng hoặc vi phạm pháp luật, Tòa án có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định. Nếu cần thiết, Tòa án có thể triệu tập người giám định đến phiên tòa hoặc phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung quan trọng. Quy định này nhấn mạnh tính công bằng và khoa học trong việc giám định và giúp Tòa án hiểu rõ hơn về kết quả giám định.Ngoài ra, Tòa án cũng có thể ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung của kết luận giám định không rõ ràng, thiếu sót hoặc khi xuất hiện vấn đề mới có liên quan đến vụ việc đã được giám định trước đó. Quyết định này có thể dựa trên yêu cầu của đương sự hoặc khi Tòa án thấy cần thiết. Việc giám định bổ sung nhằm bổ sung thông tin hoặc sửa đổi kết luận giám định ban đầu để đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả.Giám định lạiGiám định lại được thực hiện trong các trường hợp sau:Có căn cứ cho rằng kết luận giám định ban đầu không chính xác: Điều này có thể xuất phát từ việc phát hiện ra sự thiếu sót hoặc sai sót trong quá trình giám định ban đầu.Có vi phạm pháp luật trong quá trình giám định ban đầu: Nếu có bất kỳ vi phạm nào về quy trình hoặc pháp lý trong quá trình giám định ban đầu, Tòa án có quyền yêu cầu giám định lại để điều tra và đảm bảo tính hợp pháp của kết quả.Trong các trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Điều này áp dụng khi có những tình tiết đặc biệt không thể giải quyết bằng cách giám định bổ sung thông thường.Việc giám định lại nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả giám định, đặc biệt trong những trường hợp có sự nghi ngờ về tính hợp pháp hoặc độ chính xác của kết quả giám định ban đầu. Quy trình này đòi hỏi sự cân nhắc cẩn thận và sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo tính công bằng và đúng luật trong tố tụng dân sự.Câu hỏi liên quanCâu hỏi 1: Quy trình thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự được thực hiện như thế nào?Trả lời: Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.Để yêu cầu giám định, đương sự phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Văn bản yêu cầu giám định phải có các nội dung sau:Tên tổ chức hoặc họ, tên người yêu cầu giám định.Nội dung yêu cầu giám định.Tên và đặc điểm của đối tượng giám định.Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có).Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.Chữ ký, họ, tên người yêu cầu giám định.Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, Thẩm phán sẽ ra quyết định trưng cầu giám định hoặc từ chối yêu cầu của đương sự. Nếu yêu cầu của đương sự được chấp nhận, thì việc giám định sẽ được tiến hành sau khi có quyết định trưng cầu và trả về kết quả giám định.Câu hỏi 2: Quy định nào quy định về thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự?Trả lời: Thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Theo đó, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Để yêu cầu giám định, đương sự phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Văn bản yêu cầu giám định phải có các nội dung cơ bản như tên, nội dung, đặc điểm của đối tượng giám định, ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, Thẩm phán sẽ ra quyết định trưng cầu giám định hoặc từ chối yêu cầu của đương sự. Nếu yêu cầu của đương sự được chấp nhận, thì việc giám định sẽ được tiến hành sau khi có quyết định trưng cầu và trả về kết quả giám định.Câu hỏi 3: Ai có quyền trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự?Trả lời: Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, chủ thể có quyền trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự là:Tòa án, khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, có thể ra quyết định trưng cầu giám định.Đương sự, khi đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự, có thể tự mình yêu cầu giám định.Để yêu cầu giám định, đương sự phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Văn bản yêu cầu giám định phải có các nội dung cơ bản như tên, nội dung, đặc điểm của đối tượng giám định, ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.Câu hỏi 4: Ai thực hiện việc giám định trong thủ tục trưng cầu giám định?Trả lời: Việc giám định trong thủ tục trưng cầu giám định được thực hiện bởi những người có kiến thức chuyên môn cần thiết về các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ… theo quy định của pháp luật. Người giám định có thể là cá nhân hoặc tổ chức giám định tư pháp, được cơ quan tiến hành tố tụng hoặc đương sự lựa chọn và yêu cầu. Người giám định phải đảm bảo sự vô tư, khách quan, trung thực, nghiêm túc và chịu trách nhiệm về kết quả giám định. Người giám định có quyền yêu cầu cung cấp đối tượng giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan, yêu cầu làm rõ các câu hỏi giám định, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm điều kiện cần thiết cho việc giám định. Người giám định có nghĩa vụ thực hiện giám định theo quyết định trưng cầu giám định, trả kết luận giám định đúng thời hạn, tham gia phiên tòa khi được yêu cầu.Câu hỏi 5: Tòa án có quyền yêu cầu giám định bổ sung hay giám định lại không?Trả lời: Tòa án có quyền yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại trong các trường hợp sau:Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp.