HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ GIẢI THỂ TRONG TRƯỜNG HỢP QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN GIẢI THỂ TỰ NGUYỆN
Trong quá trình hoạt động, có thời điểm mà một quỹ tín dụng nhân dân có thể phải đối mặt với tình huống cần giải thể tự nguyện. Nguyên nhân có thể đa dạng, từ vấn đề tài chính đến yếu kém trong quản lý hoạt động kinh doanh. Trong tình huống này, việc nộp hồ sơ đề nghị giải thể là một bước quan trọng để chấm dứt hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân một cách hợp pháp và có trật tự. Bài viết này sẽ giới thiệu về nội dung cụ thể của hồ sơ đề nghị giải thể trong trường hợp quỹ tín dụng nhân dân giải thể tự nguyện.
1. Hồ sơ đề nghị giải thể trong trường hợp quỹ tín dụng nhân dân giải thể tự nguyện
Hồ sơ yêu cầu giải thể theo quy định tại Điều 17 của Thông tư 23/2018/TT-NHNN được mô tả như sau:
Thủ tục thu hồi Giấy phép đối với quỹ tín dụng nhân dân tự nguyện giải thể:
- Hồ sơ yêu cầu giải thể bao gồm:
a) Một văn bản yêu cầu giải thể do Chủ tịch Hội đồng quản trị của quỹ tín dụng nhân dân ký kết, trong đó phải nêu rõ lý do yêu cầu giải thể, khả năng thanh toán nợ và các biện pháp sau khi giải thể;
b) Quyết định của Đại hội thành viên của quỹ tín dụng nhân dân về việc giải thể, thu hồi Giấy phép của quỹ tín dụng nhân dân và kế hoạch thanh lý tài sản;
c) Kế hoạch thanh lý tài sản của quỹ tín dụng nhân dân theo quy định tại Điều 25 của Thông tư này;
d) Báo cáo tài chính của quỹ tín dụng nhân dân (bao gồm cả quỹ tín dụng nhân dân không phải được kiểm toán độc lập hàng năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng) trong quý gần nhất trước thời điểm yêu cầu giải thể, phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập và không có ý kiến phản đối. Trong trường hợp tại thời điểm nộp hồ sơ yêu cầu giải thể mà chưa có báo cáo tài chính đã kiểm toán, quỹ tín dụng nhân dân phải nộp báo cáo tài chính đã kiểm toán ngay sau khi tổ chức kiểm toán phát hành báo cáo. Quỹ tín dụng nhân dân chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo tài chính đã nộp.
Lưu ý: Đối với quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt, không cần phải nộp báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập theo quy định tại điểm này.
2. Đề nghị giải thể quỹ tín dụng nhân dân thủ tục thực hiện như thế nào?
Thủ tục chấp thuận đề nghị giải thể quỹ tín dụng nhân dân, theo quy định tại Điều 17 của Thông tư 23/2018/TT-NHNN (đã được sửa đổi bởi Điều 3 của Thông tư 13/2019/TT-NHNN), có các bước thực hiện như sau:
- Chấp thuận đề nghị giải thể:
a) Quỹ tín dụng nhân dân lập hồ sơ đề nghị giải thể theo quy định tại Điều 4 của Thông tư và gửi đến Ngân hàng Nhà nước chi nhánh;
b) Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh có văn bản thông báo cho quỹ tín dụng nhân dân về việc xác nhận đã nhận đủ hồ sơ hợp lệ hoặc yêu cầu bổ sung hồ sơ;
c) Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh yêu cầu lấy ý kiến của: (i) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quỹ tín dụng nhân dân có trụ sở chính về việc giải thể và thu hồi Giấy phép; cũng như về ảnh hưởng của việc giải thể và thu hồi Giấy phép đối với sự ổn định chính trị, kinh tế - xã hội trên địa bàn; (ii) Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam về ảnh hưởng của việc giải thể và thu hồi Giấy phép;
d) Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến, các đơn vị được liệt kê tại điểm c của khoản này phải cung cấp ý kiến về các nội dung đề xuất;
đ) Trong vòng 50 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh có thể thực hiện một trong các quyết định sau đây: (i) Chấp thuận giải thể và phê duyệt Phương án thanh lý tài sản của quỹ tín dụng nhân dân, yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân thành lập Hội đồng thanh lý và tiến hành thanh lý tài sản; cũng như lập Tổ giám sát thanh lý theo quy định tại Điều 27 của Thông tư này; hoặc (ii) Yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân báo cáo và giải trình các nội dung liên quan (nếu cần thiết). Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản giải trình từ quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh xem xét và xử lý theo quy định tại điểm đ(i) của Khoản này; hoặc (iii) Từ chối chấp thuận giải thể quỹ tín dụng nhân dân và nêu rõ lý do.
Như vậy, thủ tục chấp thuận đề nghị giải thể quỹ tín dụng nhân dân được thực hiện theo các bước như trên.
3. Quỹ tín dụng nhân dân phải thành lập Hội đồng thanh lý và tiến hành thanh lý tài sản trong vòng bao nhiêu ngày?
Việc thực hiện thanh lý tài sản của quỹ tín dụng nhân dân, theo quy định tại Điều 17 Khoản 2 của Thông tư 23/2018/TT-NHNN, được mô tả như sau:
Thanh lý tài sản:
a) Sau khi Nhân hàng Nhà nước chi nhánh ban hành quyết định chấp thuận giải thể, quỹ tín dụng nhân dân phải ngưng toàn bộ hoạt động kinh doanh được ghi trong Giấy phép;
b) Trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày Nhân hàng Nhà nước chi nhánh ban hành quyết định chấp thuận giải thể, quỹ tín dụng nhân dân phải thành lập Hội đồng thanh lý và tiến hành thanh lý tài sản dựa trên Phương án thanh lý tài sản đã được phê duyệt, tuân thủ theo quy định của Mục 3 Chương III của Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan;
c) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc quá trình thanh lý, Hội đồng thanh lý phải lập văn bản báo cáo kết quả thanh lý và đề nghị kết thúc thanh lý (bao gồm cả đề nghị kết thúc thanh lý để thực hiện các thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật) và gửi đến Tổ giám sát thanh lý, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở chính và Nhân hàng Nhà nước chi nhánh;
Như vậy, theo quy định, quỹ tín dụng nhân dân phải thành lập Hội đồng thanh lý và tiến hành thanh lý tài sản trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ khi Nhân hàng Nhà nước chi nhánh ban hành quyết định chấp thuận giải thể.
Kết luận:
Hồ sơ đề nghị giải thể trong trường hợp quỹ tín dụng nhân dân giải thể tự nguyện là một phần quan trọng của quy trình kết thúc hoạt động của một tổ chức tín dụng. Để đảm bảo tính hợp pháp và tuân thủ các quy định của pháp luật, hồ sơ này cần bao gồm nhiều tài liệu quan trọng như văn bản đề nghị giải thể, nghị quyết của Đại hội thành viên, phương án thanh lý tài sản, và báo cáo tài chính. Quá trình này đòi hỏi sự chấp hành nghiêm ngặt các quy định và quy trình, đồng thời cũng là một cơ hội để quỹ tín dụng nhân dân đảm bảo rằng tất cả các nghĩa vụ và trách nhiệm được hoàn thành trước khi kết thúc hoạt động.