0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file647efdd313930-kelly-sikkema-wgcUx0kR1ps-unsplash.jpg.webp

Tổng quan tình hình nghiên cứu nghiên cứu về khái niệm sự tham gia của người dân và sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước

 

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 

1.1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về khái niệm sự tham gia của người dân và 

sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước 

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu quốc tế tiêu biểu, có giá trị liên quan đến sự tham gia của người dân trong quy trình ngân sách. Năm 2008, Liên Hiệp Quốc (LHQ) xuất bản cuốn sách Participatory Governance and the Millennium 

Development Goal (MDGs). Nội dung chính đề cập tới vấn đề quản trị tốt trong đó có sự tham gia của người dân. Xuất phát từ nhu cầu xác định lại mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân như là một nhân tố thành công của quá trình phát triển bền vững và cung cấp một nền tảng với các vấn đề thích hợp liên quan giữa quản trị và sự tham gia. Phạm vi nghiên cứu là mối quan hệ giữa chính quyền với khu vực tư nhân trong quá trình phân bổ các nguồn lực công. 

Các tác giả cho rằng sự tham gia có hai giá trị, thứ nhất, sự tham gia của người dân là quyền con người cơ bản, thứ hai, quyền tham gia được sử dụng như là một công cụ quản trị nhà nước hiệu quả. Theo góc độ thứ nhất, bản chất cốt lõi của sự tham gia xuất phát từ quyền tự do tham gia vào các lĩnh vực công là một trong những quyền cơ bản của con người, tương tự như quyền được tự do chính trị, kinh tế. 

Dưới góc độ coi sự tham gia như là một phương thức quản trị, quyền tham gia được coi là một phương tiện để các chủ thể tham gia gây ảnh hưởng, tác động đến quy trình nhằm đạt được các kết quả có giá trị. Khi phân bổ nguồn lực công, lĩnh vực có đặc tính là tính sở hữu chung nên các hoạt động như phân bổ, sử dụng, giám sát…phải thông qua cơ chế đại diện, do đó, sự tham gia trở thành một công cụ hữu hiệu để tránh các quyết định quan liêu, không hiệu quả. 

Nội dung của cuốn sách có ý nghĩa rất lớn trong quá trình định hướng và 

phát triển của Luận án, đặc biệt khi khai thác để hoàn thiện Chương 2 của Luận án. 

Sách Accountability, Transparency, Participation and Inclusuon. A New 

Development Consensus? được viết bởi Thomas Carothers và Saskia Brechenmacher, xuất bản bởi tổ chức Carnegie Endowment For International Peace năm 2014. Nội dung chính của cuốn sách trình bày các nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và hòa nhập, được phát triển và áp dụng bởi các tổ chức viện trợ phát triển quốc tế như UNDP, IMF, OECD, USAID. 

Cuốn sách này chỉ ra rằng, về mặt lý thuyết, nội dung của các nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và hòa nhập có những giá trị logic và tốt đẹp. Đó là những cách thức cơ bản để tôn trọng phẩm giá con người và quyền tự chủ của cá nhân. Đây là phương thức gần như duy nhất để bất kỳ ai cũng có thể đưa ra phản đối hoặc ủng hộ đối với các hoạt động của nhà nước nhằm đạt được trách nhiệm giải trình cao hơn. Đây cũng là phương thức để các cơ quan nhà nước minh bạch hơn trong việc xử lý tài chính công, sự tham gia tích cực của người dân vào các quá trình phát triển có ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ trong đó có cả việc trao quyền cho các nhóm yếu thế về đời sống kinh tế và xã hội. Theo các tác giả, các nguyên tắc trong đó có sự tham gia đã vượt lên trên những tranh luận ngày càng gay gắt trên khắp thế giới về giá trị của nền dân chủ tự do và liệu nó có phải là hệ thống chính trị hiệu quả nhất và đáng mơ ước cho mọi quốc gia hay không? Các tác giả cũng thừa nhận sự tham gia có giá trị nội tại là quyền cơ bản của con người nhưng đồng thời nó cũng là công cụ và phương tiện trong quản trị khi nhận định “Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình quản trị ở cấp địa phương và quốc gia sẽ cung cấp cho các cơ quan này thông tin đầu vào trực tiếp về cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân và đưa thêm thông tin về những bất cập, kém hiệu quả vào các quá trình ra quyết định”. 

Sách này có giá trị tham khảo cho Luận án khi cung cấp các minh chứng về bối cảnh phát triển của nguyên tắc tham gia cũng như vai trò tích cực của nó dưới góc độ quản trị, thúc đẩy dân chủ, nội dung này sẽ được trình bày tại Chương 2, ngoài ra, với các kết luận trong bài nguyên cứu đã một lần nữa khẳng định áp dụng nguyên tắc tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam là cần thiết và sẽ được trình bày trong phần khuyến nghị của Luận án. 

Bài nghiên cứu Participation and Development: Perspectives from the 

Comprehensive Development Paradigm của tác giả Joseph E. Stiglitz đăng trên tạp chí Review of Development Economics năm 2002. Theo Stiglitz, trong bối cảnh sụp đổ của hệ thống XHCN, khoa học công nghệ phát triển và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ. Các quốc gia chuyển đổi thay thế mô hình phát triển tập trung bằng mô hình phát triển toàn diện. Theo đó, công dân tham gia vào quá trình lên ý tưởng và quyết định tới các chính sách phát triển. Sự tham gia được ví như chìa khóa thành công cho các chính sách phát triển toàn diện, theo tác giả, sự tham gia không chỉ đơn giản là bỏ phiếu. Các quy trình có sự tham gia phải đòi hỏi đối thoại cởi mở và sự tham gia tích cực của người dân và nó yêu cầu các cá nhân có tiếng nói trong các quyết định ảnh hưởng đến họ. 

Bài viết đã trình bày về bối cảnh phát triển nguyên tắc tham gia của các quốc gia chuyển đổi và chứng minh tác động của nguyên tắc này mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, các dự án, quản trị xã hội và bền vững chính trị. Các nội dung này có giá trị tham khảo cho Luận án khi trình bày về vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc tham gia trong Chương 1 của Luận án. 

Công trình nghiên cứu của World Bank (WB) Participatory Budgeting xuất bản năm 2007. Theo quan điểm của WB, lập ngân sách có sự tham gia đã được sử dụng như một công cụ quả trị trên toàn cầu. Khi tham gia lập ngân sách, người dân sẽ hiểu biết hơn tới các hoạt động vốn thuộc chức năng của chính phủ, đồng thời, tiếng nói của họ có thể ảnh hưởng tới các chính sách của chính phủ, ngoài ra, sự tham gia cũng là sợi dây liên kết nhằm giúp các chính phủ phải chịu trách nhiệm với những cam kết và trách nhiệm của mình. Cuốn sách với các công trình nghiên cứu đã phân tích các giá trị cũng như những nhược điểm khi áp dụng thực hành ngân sách có sự tham gia trên khắp thế giới nhằm cung cấp những chỉ dẫn và gợi ý tốt nhất cho các nhà quản lý. Tài liệu quan trọng này có giá trị tham khảo hữu ích cho Luận án, các nghiên cứu thực hành về ngân sách có sự tham gia trên toàn cầu đã góp phần khẳng định về sự cần thiết phải áp dụng sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước là hoàn toàn đúng đắn với yêu cầu của thực tiễn tại Việt Nam. 

Nghiên cứu Introduction to Participatory Budgeting của tác giả Brian Walmper, đây là một chương trong cuốn sách Participatory Budgeting được WB xuất bản năm 2007. Theo Walmper, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước được định nghĩa là một quá trình ra quyết định, qua đó công dân cân nhắc và thương lượng về việc phân bổ các nguồn lực công. Cơ sở nền tảng cho sự phát triển của nguyên tắc tham gia là hỗ trợ của nhánh hành pháp; sự sẵn có của các tổ chức dân sự; môi trường chính trị sẵn sàng và ủng hộ; nguồn lực tài chính để người tham gia lựa chọn dự án. Mặc dù với các địa phương khác nhau và với các chương trình tham gia ngân sách khác nhau nhưng tác giả đã đưa ra những nguyên lý chung khi áp dụng nguyên tắc tham gia trong quy trình ngân sách nhà nước. 

Liên quan đến Luận án, công trình này đã cung cấp những hướng dẫn cụ thể khi áp dụng nguyên tắc tham gia trên thực tế. Các minh chứng thực nghiệm trong bài viết đã cho thấy sự tham gia vào ngân sách nhà nước đã được áp dụng từ rất lâu trên thế giới và đạt được những thành tựu quan trọng như giáo dục và trao quyền cho công dân, thúc đẩy công bằng xã hội…Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả, sự tham gia cũng có những hạn chế và việc áp dụng chúng cần phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường chính trị, lịch sử quản trị, cấu trúc dân cư … 

1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước 

Sách The Impacts of Fiscal Openness do Paolo de Renzio và Joachim 

Wehner nghiên cứu, xuất bản bởi NXB Đại học Oxford năm 2017. Bài nghiên cứu tổng hợp 38 nghiên cứu thực nghiệm được xuất bản từ năm 1991 đến đầu năm 2015, gồm các tài liệu làm việc của IMF, WB và một số tác giả, tổ chức khác đã đóng góp đáng kể vào cuộc tranh luận lớn liên quan hoặc thường xuyên được trích dẫn trong các nghiên cứu nhằm hệ thống và đánh giá các bằng chứng đã được công bố về tác động của tính minh bạch và sự tham gia tới ngân sách nhà nước. Mục đích làm rõ tác động của 2 yếu tố này có mối quan hệ nhân quả với giảm thiểu tham nhũng, nâng cao trách nhiệm giải trình trong bầu cử và cải thiện phân bổ nguồn lực hay không? Theo đó, sự tham gia được nghiên cứu và đánh giá dưới hai góc độ. Thứ nhất, sự tham gia là công cụ chính, tức là người dân trực tiếp tham gia. Thứ hai là sự tham gia dưới các hình thức khác như khảo sát công dân; công dân bỏ phiếu về các ưu tiên ngân sách. 

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, lấy sự minh bạch và sự tham gia là biến độc lập với 4 biến phụ thuộc gồm: (a) hiệu quả của ngân sách, (b) phân bổ và cung cấp dịch vụ, (c) quản trị - tham nhũng và trách nhiệm chính trị đến việc huy động công dân và (d) kết quả phát triển - các kết quả trong các lĩnh vực như y tế và giáo dục. 

Qua đánh giá, sự tham gia hoặc với các cơ chế khác nhau của sự tham gia có mối tương quan với phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ, nó làm tăng tỷ trọng chi tiêu dành riêng cho các lĩnh vực xã hội - nhiều hơn so với những nơi mà các tổ chức có sự tham gia chưa được thành lập - và cải thiện hiệu suất hoàn thành dự án, hoặc sự gia tăng trong các chương trình y tế và giáo dục, dự án phù hợp và đáp ứng nhu cầu địa phương hơn, nhiều nhóm thiệt thòi có nhiều khả năng tham dự hơn những người từ các nhóm khác và những cuộc họp này dường như gắn liền với việc tiếp cận các nguồn lực và dịch vụ, ghi nhận ở mức độ hài lòng của dân làng, cải thiện số lượng và chất lượng của các dịch vụ nông nghiệp. 

Đối với biến phụ thuộc là quản trị - bao gồm tham nhũng và trách nhiệm chính trị có mối tương quan với cả hai biến độc lập là minh bạch ngân sách và sự tham gia của người dân. Sự tham gia có tác động đến hành vi tham nhũng, lập ngân sách có sự tham gia thúc đẩy hành động tập thể, huy động công dân và giám sát hành động của nhà nước. 

Kết quả phát triển - các kết quả trong các lĩnh vực như y tế và giáo dục. Sự tham gia cải thiện chỉ số sức khỏe, cải thiện mục tiêu của các chính sách và chi tiêu. 

Liên quan đến Luận án, nghiên cứu này đã hệ thống và phân tích các bằng chứng gồm các bài nghiên cứu được công bố từ 1991 đến 2015. Kết quả cho thấy có mối tương quan giữa minh bạch và sự tham gia tới chất lượng ngân sách, phân bổ dịch vụ công, quản trị nhà nước và các lĩnh vực phát triển. 

Bài nghiên cứu The Rationalization of Public Budgeting in China: A Reflection on Participatory Budgeting in Wuxi do hai tác giả Y. Wu và K. Wang đăng trên tạp chí Public Finance and Management năm 2011. Các tác giả lựa chọn Vô tích ở tỉnh Tô Giang của Trung Quốc để tiến hành nghiên cứu do địa phương này thuộc quốc gia đang phát triển, Vô Tích đã phát triển một mô hình ngân sách có sự tham gia tương đối ổn định liên tục từ năm 2005, ngoài ra, vấn đề ngân sách có sự tham gia tại đây chưa từng được nghiên cứu đầy đủ. 

Ngân sách có sự tham gia ở Vô tích được thực hiện với quy trình gồm 4 bước: chuẩn bị dự án; lựa chọn dự án; triển khai dự án và đánh giá. Cơ quan nhà nước sẽ phụ trách mục tiêu, cách thức và lên kế hoạch sau đó kêu gọi sự tham gia của công chúng. Lựa chọn dự án nào do người dân quyết định theo kết quả bình chọn. Triển khai dự án dưới sự tư vấn và thẩm định của của cơ quan chuyên môn thuộc chính quyền, việc lựa chọn nhà thầu dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch và người dân giám sát quá trình thực hiện dự án. Giai đoạn cuối cùng là kiểm toán được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn như kiểm toán nhà nước.

Dựa trên khung lý thuyết về (các nhân tố ảnh hưởng) tính liên quan (tác động của sự tham gia) tới 4 nhân tố gồm kinh tế; kỹ thuật; chính trị và pháp lý, nghiên cứu chỉ ra rằng ngân sách có sự tham gia ở Vô Tích có mối liên quan đến nâng cao phát triển kinh tế, kỹ thuật, tính hợp lý xã hội và chính trị nhưng không hợp lý về mặt pháp lý bởi không có một cơ chế pháp lý chính thức nào ghi nhận quá trình này tại Vô Tích. Nghiên cứu chỉ ra rằng, ngân sách có sự tham gia ở Vô Tích gặp những trở ngại bởi các nhân tố gồm: không thể chế hóa sự tham gia; chưa áp dụng các phương tiện và công nghệ hỗ trợ quá trình tham gia; các dự án có sự tham gia thường có quy mô nhỏ và thời gian thực hiện ngắn; đặc biệt, sự tham gia ở đây được thực hiện ở giai đoạn chấp hành ngân sách chứ không phải thời điểm thảo luận về ngân sách. Mặc dù người dân có thể lựa chọn dự án, tham gia thực hiện dự án, đánh giá dự án thông qua nhiều hình thức khác nhau nhưng một nội dung quan trọng thể hiện đúng bản chất của ngân sách có sự tham thì tại Vô Tích không có vì quyền lựa chọn ai là người đại diện cho dân cư đã không được thực hiện theo đúng bản chất của nguyên tắc tham gia. Đây là mấu chốt để xác định tham gia thực sự hay chỉ mang tính hình thức. Do vậy, sự tham gia của người dân tăng lên ở một mức độ nhất định về mặt hình thức nhưng hiệu quả của nó thực sự đã bị hệ thống Đảngnhà nước đương đại của Trung Quốc hạn chế. 

Tóm lại, theo các tác giả, sự tham gia có mối tương quan tới kinh tế, xã hội, chính trị và pháp lý. Cả 4 yếu tố này có mối liên hệ với nhau và tác động trở lại tới sự tham gia, chỉ một nhân tố không được thiết kế phù hợp với sự tham gia cũng có thể ảnh hưởng tới hiệu quả của sự tham gia. Bên cạnh đó, trao quyền lựa chọn đại diện dân cư chính là thể hiện tính dân chủ thực chất hay hình thức. 

Liên quan đến Luận án, nghiên cứu của các tác giả là một trong những gợi ý quan trọng khi tác giả đề xuất áp dụng nguyên tắc này tại Việt Nam bởi  giữa Trung 

Quốc và Việt Nam có những mối tương đồng nhất định. 

Nghiên cứu Transparency, participation, and accountability practices in open government: A comparative study được thực hiện bởi Teresa M. Harrison và 

Djoko Sigit Sayogo, xuất bản trên tạp chí Government Information Quarterly năm 

2014. Liên quan đến sự tham gia của cộng đồng vào ngân sách nhà nước, các tác giả đồng ý rằng hoạt động này là quan trọng nhất. Ngân sách phải được công khai, minh bạch, có sự tham gia và trách nhiệm giải trình vì nguồn gốc ngân sách được hình thành bằng sự đóng góp của cộng đồng và vì thế nó là tài sản công. 

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, mẫu nghiên cứu được lấy từ 98/100 quốc gia đã trả lời Khảo sát Ngân sách Mở năm 2012, với mục tiêu đặt ra gồm hai vấn đề: một là, khám phá các điều kiện văn hóa xã hội, chính trị, kinh tế và chính phủ ở cấp quốc gia (dân chủ; GDP; nguồn lực con người; công khai ngân sách; tham gia điện tử; cam kết chính phủ mở) có thể dự đoán tính minh bạch, tham gia và trách nhiệm giải trình ngân sách nhà nước hay không? Hai là, phân tích và đánh giá về sự khác biệt giữa minh bạch tài khóa, sự tham gia và trách nhiệm giải trình khi chúng liên quan đến chính phủ mở. 

 Liên quan điến Luận án, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, dân chủ là một yếu tố dự đoán tích cực đến minh mạch, sự tham gia và trách nhiệm giải trình ngân sách nhà nước; Sự tham gia của cộng đồng cùng với kiểm toán nhà nước có thể tác động tới công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ngân sách nhà nước. 

Bài viết Citizen Participation in Budgeting: A Trade-Off between Knowledge and Inclusiveness? của tác giả Sounman Hong Yonsei thuộc Trường Đại học South 

Korea trên tạp chí Public Administration Review năm 2015. Nghiên cứu đánh giá những tác động của mức độ hòa nhập/toàn diện được đo lường và khả năng hiểu biết của công dân tham gia trên hai chỉ số hiệu suất: sự tham gia của người dân và hiệu quả của quá trình, nhằm chứng minh và tìm đáp án về cho câu hỏi: liệu chính quyền có cần phải lựa chọn cơ chế đại diện thay vì khuyến khích số lượng lớn người tham gia và liệu số lượng lớn người tham gia có làm giảm hiệu quả của quá trình tham gia hay không? 

Sử dụng dữ liệu từ các quận tự trị của Seoul, đó là Seodaemun-gu, nơi mà chính quyền dành 1% ngân sách quận để người dân tham gia đề xuất các nhu cầu của mình chủ yếu tập trung phân bổ vào cho cơ sở hạ tầng đô thị. Tác giả sử dụng 2 biến độc lập là tính toàn diện (sự đại diện thích hợp của các nhóm khác nhau trong một xã hội) và sự hiểu biết (thể hiện đầy đủ các khía cạnh khác nhau của “kiến thức” cần thiết để ra quyết định, bao gồm kiến thức về chính sách, chuyên môn về ngân sách, kỹ năng kỹ thuật, số năm kinh nghiệm…) Các biến phụ thuộc: nhóm 1: mức độ tham gia và mức độ hiệu. Nhóm 2: liên quan đến môi trường quản lý và xã hội trong khoảng thời gian 2011–2014. Hầu hết dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập thông qua sáng kiến thông tin công khai của Hàn Quốc. 

Kết quả thu được như sau: thứ nhất, khả năng hiểu biết của người tham gia đóng góp một cách tích cực vào hiệu quả của quá trình có sự tham gia. Trung bình, các công dân tham gia càng hiểu biết nhiều hơn thì tỷ lệ các mục đề xuất cuối cùng được cơ quan lập pháp cấp huyện thông qua càng lớn. Thứ hai, mức độ hòa nhập phản ánh mức độ tương tác. Số lượng lớn hơn các công dân tham gia có liên quan tiêu cực với tỷ lệ tham gia trung bình của các công dân tham gia cũng như số lượng các mục được đề xuất trên mỗi công dân. Tuy nhiên, khả năng một đề xuất được cơ quan lập pháp thông qua sẽ cao hơn ở các khu vực có số lượng công dân tham gia nhiều hơn. Thứ ba, mức độ bao hàm có ý nghĩa tích cực trong quá trình thực hiện. Khả năng một mục đề xuất nhất định sẽ được cơ quan lập pháp thông qua sẽ cao hơn ở các quận có số lượng công dân tham gia nhiều hơn. Việc thiết kế quy trình hành chính cũng được cho là quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả của sự tham gia. Các nhà hoạch định chính sách cũng có thể dựa vào khả năng hiểu biết của người tham gia, vì kiến thức đầy đủ rất quan trọng để duy trì một quy trình ngân sách hiệu quả. Tác giả cũng gợi ý rằng công nghệ thông tin và truyền thông mới, chẳng hạn như mạng xã hội, có thể có tiềm năng cải thiện hơn nữa sự tham gia của cộng đồng nếu nó được thiết kế và quản lý phù hợp. 

 Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án khi cung cấp minh chứng thực nghiệm về sự tham gia của người dân với tính toàn diện và sự hiểu biết ngày càng cao có liên quan đến mức độ và chất lượng của các chương trình ngân sách có sự tham gia. 

Bài nghiên cứu Participatory Budgeting: Core Principles and Key Impacts của tác giả Brian Wampler, xuất bản năm 2012 trên tạp chí Journal of Public Deliberation. Tác giả dùng phương pháp phân tích và tổng hợp trên bối cảnh về sự tham gia ngân sách tại thành phố Porto Alegre của Brazil nơi có sự thay đổi lớn về chính trị của các quan chức chính phủ khi đã thiết kế lại cách thức đưa công dân vào các quá trình hoạch định chính sách của nhà nước, đặc biệt đối với lĩnh vực công. Nghiên cứu có hai nhiệm vụ là làm rõ các nguyên tắc của ngân sách có sự tham gia gồm: Tiếng nói; bỏ phiếu; giám sát; công bằng xã hội và phân tích sự tác động của 4 nguyên tắc này tới các yếu tố gồm: dân chủ hợp pháp; phúc lợi xã hội và xã hội dân sự. 

Khi áp dụng ngân sách có sự tham gia với 4 nhân tố như đã trình bày ở trên, tác giả đã chứng minh sự tác động này tới các vấn đề gồm dân chủ hợp pháp, xã hội dân sự và công bằng xã hội. Nguyên tắc sự tham gia trong ngân sách khắc phục được những hạn chế của dân chủ đại diện, tác động của ngân sách có sự tham gia đối với tính hợp pháp của dân chủ có tương quan trực tiếp với mức độ mà mỗi chương trình cụ thể tuân thủ bốn nguyên tắc. Ngân sách có sự tham gia tạo cơ hội phân bổ nguồn lực cho các loại dự án mới hoặc mở rộng các dự án/dịch vụ xã hội hiện có vào các cộng đồng mới. Lý do chính để thúc đẩy và hỗ trợ ngân sách có sự tham gia là người tham gia cung cấp phản hồi và hỗ trợ liên tục cho các cơ quan có thẩm quyền. Đổi lại, cơ quan nhà nước tăng cường hỗ trợ chính trị cho phép họ phân bổ lại các khoản tiền theo những cách mới. Như vậy, ngân sách có sự tham gia đã tác động để phân bổ công bằng hơn các dịch vụ công. Các thể chế có sự tham gia giúp công dân, đặc biệt là những người từ các cộng đồng nghèo, vượt qua các vấn đề cơ bản về hành động tập thể. Ngân sách có sự tham gia phụ thuộc vào việc xây dựng các liên minh tập thể, vì sự thành công của các chương trình phụ thuộc vào việc có một số lượng lớn công dân sẵn sàng tham gia mỗi năm. Theo thời gian, những người tham gia sẽ lớn hơn và có khả năng tổ chức các cuộc tranh luận và giáo dục những người tham gia mới sau này. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án khi tiếp cận tới các cơ chế và nguyên tắc của người dân khi tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước. 

Bài nghiên cứu Citizen Participation in Budgeting: Prospects for Developing 

Countries được thực hiện bởi Donal P. Moynihan, đây là một chương trong cuốn sách Participatory Budgeting được WB xuất bản năm 2007. Đối tượng nghiên cứu là sự tham gia của người dân trong quá trình lập ngân sách tại các quốc gia đang phát triển, với các nội dung chính, gồm: (1) Xem xét lý do tại sao sự tham gia lại quan trọng và đánh giá triển vọng tham gia vào môi trường nước đang phát triển. (2) Xác định các cách thúc đẩy sự tham gia rộng rãi và ý nghĩa vào các nước đang phát triển, cung cấp các ví dụ tham gia trong các giai đoạn khác nhau của quá trình ngân sách. (3) Quan điểm của các chính phủ đối với việc áp dụng nguyên tắc tham gia. 

Đối với nội dung thứ nhất, theo tác giả, cộng đồng nghiên cứu đồng thuận với lập luận rằng sự tham gia có vai trò như một phương tiện cải thiện và thúc đẩy quản trị ở các nước đang phát triển, nơi mà hiệu quả hoạt động và trách nhiệm giải trình của bộ máy hành chính đã lỗi thời, thiếu đại diện và hoạt động kém hiệu quả. 

 Đối với nội dung thứ hai, theo tác giả, quy trình ngân sách nhà nước có ba giai đoạn, gồm: Chuẩn bị và phân bổ nguồn lực; chấp hành ngân sách; đánh giá và đánh giá hiệu suất ngân sách. Và cả ba giai đoạn này đều có thể áp dụng nguyên tắc tham gia. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn, trên thực tế, các quốc gia áp dụng nguyên tắc tham gia dưới những hình thức khác nhau, ở các quốc gia, nơi mà cơ quan hành pháp giữ vị trí quyết định thì khả năng rất cao cơ quan lập pháp sẽ không kiên quyết hoặc bác bỏ hoàn toàn đề xuất của dự thảo dự toán, vì thế, sự tham gia của người dân ở giai đoạn này là rất quan trọng. Thực tế, ở giai đoạn đề xuất này, tại Brazil, người dân tham gia một cách trực tiếp từ khi tập hợp các đề xuất cho đến khi bỏ phiếu lựa chọn các dự án, hoặc áp dụng hội nghị công dân tại Washington, DC của Hoa kỳ hay giám sát ngân sách của NGO tại Nam Phi. Bằng cách này hay cách khác, sự tham gia đã mang lại những hiệu quả có thể đo lường ở nơi áp dụng sự tham gia của người dân. 

Đối với giai đoạn 2 của quy trình ngân sách nhà nước, sự tham gia được sử dụng dưới hình thức theo dõi chi tiêu hoặc khảo sát dân cư, sau đó sử dụng công cụ truyền thông để tác động tới quá trình sử dụng ngân sách, cách này cũng mang lại những kết quả và đã được ghi nhận tại Uganda và Ấn Độ. 

 Đối với giai đoạn cuối cùng, trên thực tế, một số nước đã dùng cách thức khảo sát sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công. Đối với nội dung cuối cùng, liên quan đến tác động của Chính phủ đối với sự tham gia, tác giả cho rằng, chủ thể này có nhân tố tác động rất lớn tới việc áp dụng thành công hay không nguyên tắc tham gia ở các quốc gia xuất phát từ vai trò và chức năng của chính phủ. Nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng cho Luận án, do đối tượng nghiên cứu là các quốc gia đang phát triển và Việt Nam có bối cảnh tương đồng. Đồng thời, các tác giả đã chỉ ra việc thiết kế quy trình và yếu tố thể chế trong đó cam kết và các quyết định của chính phủ ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của sự tham gia. 

Nghiên cứu Participatory Budgeting in Central and Eastern Europecủa Alta 

Fölscher, là một chương trong cuốn sách Participatory Budgeting được WB xuất bản năm 2007, nghiên cứu này lựa chọn các thành phố thuộc khu vực Trung và Đông Âu, gồm các quốc gia Albania, Armenia, Bulgaria, Moldova, Ba Lan, Romania, Liên bang Nga và Ukraine với đặc điểm tương đồng là thể chế xã hội chủ nghĩa nhưng sự tham gia trực tiếp vào ngân sách nhà nước đã được pháp luật ghi nhận nhưng còn yếu vì nhiều nguyên nhân, ví dụ công dân thụ động và không có thói quen tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước và xã hội; các tổ chức xã hội dân sự chưa có nền tảng vững chắc; chính quyền địa phương chưa đủ thẩm quyền tự chủ, chưa rõ ràng về chế độ tài khóa; mối quan hệ giữa chính quyền địa phương lỏng lẻo theo nghĩa người dân không quan tâm tới các vấn đề của chính quyền, ngay cả đối với những lĩnh vực liên quan đến đời sống của họ. Theo tác giả, các cơ quan phát triển và các tổ chức phi chính phủ quốc tế là những người khởi xướng các cơ chế lập ngân sách có sự tham gia ở khu vực này. Nghiên cứu trình bày khá cụ thể về bối cảnh áp dụng và phát triển nguyên tắc tham gia ở khu vực Trung và Đông Âu sau những năm 1980, đồng thời đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, vì thế có giá trị tham khảo cho Luận án khi nghiên cứu về lịch sử phát triển nguyên tắc tham gia. 

 Bài nghiên cứu: Building Local Democracy: Evaluating the Impact of Decentralization in Kerala, India của các tác giả Patrick Heller, K.N Harilal và Shubham Chaudshuri xuất bản năm 2007 bởi tạp chí Elsevier. Nghiên cứu lựa chọn địa phương thực nghiệm là Kerala của Ấn Độ. Năm 1993 Hiến pháp thứ 73 của nước này được thông qua đã khắc phục tình trạng dân chủ xuống cấp bằng cách trao cho các chính quyền địa phương đặc biệt là chính quyền nông thôn một số quyền 

hạn nhất định nhằm tăng tính tự chủ và có trách nhiệm hơn với công dân của họ. 

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng thu thập dữ liệu trực tiếp từ một mẫu gồm 72 

Hội đồng địa phương (Panchayats) và phỏng vấn 858 người trả lời chính. Kết quả cho thấy rằng, quá trình cải cách bằng cách trao quyền tự chủ cho địa phương một cách rõ ràng bằng các quy định của pháp luật đã cho phép chính quyền địa phương áp dụng quản trị có sự tham gia của người dân. Panchayats đã chấp sự tham gia trở thành một yêu cầu cần xem xét khi ban hành chính sách, không phân biệt đó là dự án hay chương trình được đề xuất bởi các chính trị gia, quan chức hay công dân, tất cả đều được áp dụng quyền tham gia, không chỉ dùng hình thức tham vấn mà nhiều hình thức với nhiều cấp độ, đây chính là những nền tảng để thể chế hóa sự tham gia của cộng đồng ở Kerala. Theo các tác giả, để củng cố dân chủ, bước đầu tiên và cần thiết đó là thực hành dân chủ có sự tham gia. Sự tham gia làm tăng đáng kể tính hợp pháp của chính quyền địa phương dân chủ và mở rộng không gian chính trị cho các chính trị gia và người dân địa phương. Ngày nay, người dân mong đợi nhiều hơn vào chính quyền địa phương và những kỳ vọng như vậy là một nguyên nhân áp dụng và thực hành dân chủ. 

Liên quan đến Luận án, nghiên cứu đã cung cấp một minh chứng thực nghiệm thành công về sự tham gia dưới danh nghĩa là một hình thức dân chủ trực tiếp với tác động từ các nhân tố trong đó đặc biệt là thể chế. Tại Kerala, Panchayats đóng vai trò quan trọng trong việc đưa sự tham gia của người dân vào quy trình chính sách. Áp dụng hình thức này sẽ cải thiện và khắc phục được hình thức dân chủ đại diện, mở rộng không gian chính trị cho xã hội dân sự địa phương, tăng sự 

tin cậy của người dân địa phương vào chính quyền của họ. 

Công trình nghiên cứu của Chris Ansell và Alison Gash có tiêu đề Collaborative Governance in Theory and Practice được nhà xuất bản của Đại học 

Oxford công bố năm 2007. Trong khi chứng minh về quản trị hợp tác là cần thiết và các chủ thể tham gia các bên liên quan gồm nhà nước; công dân; các tổ chức dân sự, nhằm cùng đồng thuận phục vụ giải quyết các chính sách công. Theo các tác giả, sự tham gia là nền tảng để giải quyết hiệu quả vấn đề hợp tác quản trị, các điều kiện (các nhân tố ảnh hưởng) quyết định hiệu tới sự tham gia hiệu quả gồm: xác định nguồn lực và quyền lực cần chia sẻ giữa các bên liên quan; tìm kiếm các cơ chế thu hút sự tham gia; trong đó, động cơ, kỳ vọng là những nhân tố ảnh hưởng đến các chủ thể tham gia, ngoài ra, lịch sử/tiền lệ đã có sự tham gia hay chưa cũng là một nhân tố tác động khá lớn đến sự tham gia. Liên quan đến Luận án, các tác giả chứng minh các chính sách công trong đó nguồn lực công là khu vực thu hút sự tham gia và để quá trình này mang lại giá trị cho tất cả các bên cần một sự đồng thuận, tin tưởng giữa nhà nước và người dân. Các điều kiện cho sự tham gia được tham khảo, phục vụ cho tác giả hoàn thiện Chương II của Luận án. 

1.1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến các cơ chế tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước 

Công trình nghiên cứu Participatory Budgeting in Midwestern States: Democratic Connection or Citizen Disconnection?  được thực hiện bởi 3 tác giả, gồm: Aimee L. Franklin, Alfred T. Ho và Carol Ebdon, xuất bản năm 2009 trên tạp chí Public Financial Publications. Nội dung chính của nghiên cứu là đánh giá mức độ và vai trò của nguyên tắc tham gia dưới góc nhìn của các quan chức chính quyền do người dân trực tiếp bầu trong phạm vi ở 12 bang miền Trung Tây nước Mỹ. 

Nghiên cứu đồng thời phân tích các cơ chế tham gia nhằm xác định lý do thúc đẩy hoặc cản trở áp dụng các cơ chế này. Theo các tác giả, quá trình dân chủ được thúc đẩy và phát triển khi chính phủ minh bạch và có các cơ chế giải trình, đồng thời với đó là thu hút được sự tham gia của người dân vào quy trình ra quyết định. Ngân sách nhà nước là một lĩnh vực quan trọng, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, nó cũng hé lộ sự đánh đổi và phác họa lựa chọn lợi ích hay đánh đổi lợi ích của các tầng lớp trong xã hội của chính phủ. 

 Nghiên cứu kiểm tra thực nghiệm cách chính quyền địa phương thu hút người dân và những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế có sự tham gia, các tác giả sử dụng 9 cơ chế tham gia khác nhau gồm: (1) cuộc khảo sát, (2) mô phỏng ngân sách, (3) ủy ban ngân sách công dân, (4) nhóm tập trung, (5) các cuộc họp ngân sách đặc biệt, (6) bao gồm tương tác trực tiếp với công dân và các cuộc họp khu phố/quận, (7) các phiên điều trần công khai thường xuyên và các phiên điều trần công khai trên truyền hình có tính năng gọi điện, (8) các cuộc họp khu vực lân cận, (9) công dân trực tiếp tương tác. Với câu hỏi “Trong hai chu kỳ ngân sách vừa qua (hoặc kinh nghiệm gần đây nhất của bạn nếu bạn không phục vụ trong hai năm), công dân trong cộng đồng của bạn đã tham gia vào quy trình ngân sách như thế nào? kiểm tra tất cả (9 cơ chế được liệt kê) những nội dung phù hợp”, nhằm phân tích từng cơ chế, lý giải vì sao cơ chế đó lại được hoặc không được chính quyền lựa chọn khi áp dụng nguyên tắc tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, đồng thời tìm kiếm sự tác động và các mối tương quan với 6 mục tiêu khác nhau của sự tham gia của cộng đồng gồm: giáo dục, giao tiếp hai chiều, cung cấp thông tin ra quyết định, nhận hỗ trợ ngân sách, xây dựng cộng đồng và nâng cao lòng tin. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, xếp hạng cao nhất trong các hình thức tham gia được các đại biểu dân cử sử dụng là sự tương tác trực tiếp của công dân. Bởi theo nhận thức của các chủ thể được khảo sát (chính quyền) thì hai cơ chế này có ảnh hưởng trực tiếp tới cả 6 mục tiêu của nguyên tắc tham gia gồm: giáo dục, giao tiếp hai chiều, cung cấp thông tin ra quyết định, nhận hỗ trợ ngân sách, xây dựng cộng đồng và nâng cao lòng tin. 

Các cuộc khảo sát và cuộc họp ngân sách đặc biệt tập trung vào toàn cộng đồng ít được các quan chức coi trọng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các cuộc khảo sát không đạt điểm cao cho mục tiêu cung cấp thông tin cho các quyết định khó và nhiều quan chức lại coi nó là giá trị để giao tiếp hai chiều với người dân mặc dù thu hút rất ít người tham gia, nhưng cũng được cho là để nâng cao lòng tin và giáo dục công chúng; các phiên điều trần qua truyền hình có tính năng gọi điện ít được coi trọng hơn từ phía chính quyền vì tính năng gọi chỉ cho phép một người gọi tại một thời điểm có lẽ cũng là một rào cản đối với các quan chức khó nhận dạng tình huống một cách hiệu quả và hiểu liệu nội dung trình bày bởi một người gọi chỉ là mối quan tâm của một cá nhân hay được chia sẻ phổ biến bởi các công dân khác. Tuy nhiên đây lại là kênh yêu thích của người dân khi được yêu cầu tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước. Các phiên điều trần công khai là cơ chế được sử dụng phổ biến nhất và cơ chế được đánh giá cao nhất; cuộc họp ngân sách đặc biệt được coi là tương đối hiệu quả hơn trong việc nâng cao lòng tin so với việc xây dựng cộng đồng hoặc trong giao tiếp hai chiều; các cuộc họp khu phố có mối tương quan cao trong việc nâng cao lòng tin và xây dựng cộng đồng, nhưng ít liên quan hơn trong mục tiêu hỗ trợ ngân sách hoặc đưa ra các quyết định; ủy ban ngân sách công dân và mô phỏng ngân sách không mang lại hiệu quả cao trong mối tương quan với 6 mục tiêu của nguyên tắc tham gia. 

Tóm lại, cơ chế phổ biến nhất để thu hút công chúng vào quá trình ngân sách là các cuộc điều trần công khai, các cuộc họp ngân sách đặc biệt và tương tác trực tiếp với công dân. Các quan chức được lựa chọn khảo sát cho thấy họ đánh giá cao hơn đối với các cơ chế có sự tương tác chặt chẽ hơn với công dân và các cơ quan có hiệu quả hơn trong việc giải quyết các vấn đề cấp vi mô hoặc cá nhân. Các công cụ khoa học hơn, chẳng hạn như khảo sát công dân và các cơ chế xem xét các vấn đề ở cấp độ vĩ mô, toàn cộng đồng, chẳng hạn như ủy ban ngân sách công dân và mô phỏng ngân sách, ít được coi trọng. Do đó phát hiện này có thể là một mối quan tâm vì các cơ chế vi mô ít có khả năng bao gồm đầu vào đại diện, như thế sẽ không phản ánh đúng được bản chất và vai trò tốt đẹp của nguyên tắc tham gia là vì cộng đồng, đại diện cho cộng đồng. Hệ quả là không có được quan điểm cân bằng và toàn diện về các ưu tiên ngân sách và do đó, có thể đưa ra các chính sách tài khóa thiếu thông tin điều đó không phản ánh đúng nhu cầu thực sự của công chúng. 

Liên quan đến Luận án, nghiên cứu phân tích và đánh giá khá rõ về các cơ chế tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, hữu ích cho phần đề xuất kiến nghị tại Việt Nam, vì một số cơ chế có sự tham gia không có khả năng tạo ra kết quả mà các tài liệu hiện hữu lại thường mô tả là có giá trị, trong khi một số cơ chế được các quan chức địa phương đánh giá cao lại không được địa phương sử dụng rộng rãi. Ngoài ra, quan chức địa phương cần lựa chọn các cơ chế có sự tham gia của người dân một cách có cân nhắc hơn khi các kết quả mong muốn từ sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định ngân sách được định dạng rõ. Ngoài ra, tăng cường sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách là không đủ mà cần phải cân nhắc vì nguyên tắc tham gia được tác động bởi một môi trường gồm các yếu tố như môi trường của chính phủ và cộng đồng, cách thức cấu trúc sự tham gia, giá trị nhận thức của các cơ chế khác nhau và các loại kết quả mong muốn và đạt được. Như vậy, dưới góc độ của chủ thể quản lý (người sử dụng phương pháp tham gia và áp dụng kết quả của quá trình này cho việc ra quyết định về ngân sách nhà nước) hầu hết ưa thích và lựa chọn cơ chế tham gia dưới dạng giải quyết các đề xuất mang tính vi mô, cá nhân hơn là các hình thức mang tính toàn thể cộng đồng. Như vậy, những mục tiêu mà nguyên tắc tham gia đạt được như giáo dục và giao tiếp hai chiều là có nhưng lại mang tính ngắn hạn, trong khi xây dựng ý thức cộng đồng và nâng cao lòng tin là những tác động lâu dài lại không đạt được, ngoài ra nó cũng không đảm bảo giải quyết được các mục tiêu và nhu cầu thực sự của cộng đồng, cũng không mang sắc thái dân chủ vì thiếu tính đại diện và trao quyền thực sự. 

Một nghiên cứu của Archon Fung có tên là Varieties of Participation in 

Complex Governance đăng trên Tạp chí Public Administration Review năm 2006. Không gian thể chế cho sự tham gia gồm ba khía cạnh chính. Thứ nhất là chủ thể tham gia, thứ hai là cách thức các chủ thể tham gia giao tiếp với nhau và ra quyết định và thứ ba là phạm vi và quyền hạn hay là cách thức mà các quyết định của quá trình tham gia liên kết với các quyết định của chính sách công. Mục tiêu của nghiên cứu là chỉ ra cách thức hoạt động phù hợp của ba nhân tố này đối với tính hợp pháp, công lý và quản trị hiệu quả. Theo tác giả, có 8 cơ chế để xác định và lựa chọn chủ thể tham gia, bao gồm: (1) quản trị viên chuyên nghiệp; (2) đại diện được bầu; (3) các bên liên quan chuyên nghiệp; (4) bố trí các bên liên quan; (5) chọn ngẫu nhiên; (6) tuyển dụng mở, có mục tiêu; (7) mở, tự chọn; (8) phân tán không gian công cộng. Theo tác giả lựa chọn ngẫu nhiên những người tham gia là đảm bảo tốt nhất cho tính mô tả đại diện. Về cách thức mà các chủ thể tham gia giao tiếp và ra quyết định, nghiên cứu chỉ ra 6 hình thức từ thấp nhất đến cao nhất, bao gồm: (1) lắng nghe như khán giả; (2) bày tỏ nhu cầu; (3) phát triển, xây dựng nhu cầu; (4) tập hợp và thương lượng; (5) cân nhắc và đàm phán; (6) triển khai kỹ thuật và chuyên môn. Ba hình thức đầu tiên dừng lại ở nội dung giao tiếp, về cơ bản không thể hiện quan điểm và nhu cầu của người tham gia, không cố gắng chuyển quan điểm hoặc sở thích của những người tham gia thành quan điểm hoặc quyết định chung. Ba hình thức sau là cách thức ra quyết định của các chủ thể tham gia, các chủ thể tham gia biết họ muốn gì và phương thức ra quyết định tổng hợp nhu cầu của họ - thường được trung gian bởi sức mạnh mà họ mang lại - thành một lựa chọn xã hội. Phổ biến nhất là hình thức tập hợp và thương lượng, với ba hình thức giao tiếp mạnh mẽ này, cân nhắc và đàm phán cho phép người tham gia tìm ra giải pháp thay thế tốt nhất hiện có để thúc đẩy các nhu cầu chung mà họ có. Tóm lại, cách thức mà chủ thể tham gia giao tiếp và ra quyết định bắt đầu bằng một quá trình tương tác, trao đổi, sau đó những người tham gia thảo luận nhằm đạt được thỏa thuận với nhau về một nội dung cụ thể. Cuối cùng, là phương thức mà theo tác giả, nhiều (có lẽ hầu hết) các chính sách và quyết định công được xác định không phải thông qua tổng hợp hoặc cân nhắc mà là thông qua chuyên môn kỹ thuật của các chuyên gia có đào tạo và chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với họ để giải quyết các vấn đề cụ thể. Chế độ này thường không liên quan đến công dân. Đó là lĩnh vực của các nhà lập kế hoạch, nhà quản lý. 

Liên quan đến Luận án, nghiên cứu đã cung cấp kiến thức về các cơ chế để xác định và lựa chọn chủ thể tham gia và đặc biệt là 6 cách thức mà các chủ thể sử dụng để giao tiếp và ra quyết định. 

1.1.1.4. Nhóm công trình nghiên cứu về các mức độ tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. 

Công trình nghiên cứu có tên A ladder of citizen participation của Sherry R. 

Arnstein. Theo đó, tác giả cho rằng sự tham gia của người dân được đặt trong mối quan hệ với nhà nước, quá trình người dân tham gia được coi là hành vi phân phối lại quyền lực nhà nước, từ đó, người dân trực tiếp tham gia và gây ảnh hưởng tới quá trình ra chính sách của nhà nước. Sherry R. Arnstein cho rằng, sự tham gia của người dân vào khu vực công nói chung được chia thành 8 cấp độ tham gia, bao gồm: (1) Vận động, (2) Liệu pháp, (3) Cung cấp thông tin, (4) Tham vấn, (5) Động viên, (6) Hợp tác, (7) Ủy quyền, (8) Công dân kiểm soát. Nắm rõ từng mức độ có thể áp dụng các cơ chế tham gia phù hợp để đạt được những hiệu quả mong muốn của các chủ thể tham gia. Nghiên cứu đóng vai trò là một trong những tài liệu nền tảng cho Luận án, cung cấp lý thuyết cơ bản về sự tham gia, đặc biệt là các mức độ tham gia của người dân vào quy trình ngân sách. 

Trong cùng lĩnh vực quản trị công và xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với 

người dân, dựa trên nền tảng các bậc thang tham gia của Sherry R. Arnstein, năm 1994, David Wilcox công bố một nghiên cứu: A guide to effective participation

Theo đó, sự tham gia cũng được dựa trên nền tảng của sự hợp tác giữa các bên và được chia thành 5 cấp độ. Bao gồm: (1) Cấp độ 1 là thông tin (Information); (2) Cấp độ 2 là tham vấn (consultation); (3) Cấp độ 3 là quyết định cùng nhau (deciding together); (4) Cấp độ thứ 4 là cùng nhau hành động (acting together); (5) Cấp độ thứ 

5 là ủng hộ những hoạt động của địa phương (Supporting local initiatives). 

Năm 2003, một nghiên cứu khác liên quan đến các cấp độ tham gia của người dân đó là tác phẩm The rise of rights do Eyben R công bố. Tác giả cho rằng chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong các quy trình chính trị. Theo tác giả, quyền tham gia đứng ở vị trí cao nhất, cụ thể như sau: thứ nhất là các công cụ của sự tham gia (Instrunental Participate), thứ hai là các Quyền chính trị và dân sự (Civil and Polotical Liberties), thứ ba là các Quyền kinh tế (Economic rights), thứ tư là các quyền xã hội (Social rights), thứ năm là các quyền văn hóa (Cultural rights), thứ sáu và cao nhất là quyền tham gia (Paticipatory right). Theo quan điểm của tác giả, quyền tham gia giữ vị trí quan trọng bậc nhất bởi vì sự tham gia có sự khác biệt đối với các quyền cơ bản khác của con người đó là khả năng ảnh hưởng và tác động tới quy trình. Tất cả các quyền cơ bản khác đều phải sử dụng quyền tham gia như là một công cụ mới có thể hiện thực hóa được trên thực tế. 

Năm 2012, tác giả André Pierre đã phân loại sự tham gia của người dân thành 6 cấp độ trong nghiên cứu có tên là Citizen Participation như sau: 1. Tham gia thụ động (Passive participation); 2.Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as contributors; 3. Tham gia tương tự như nhà tư vấn (Participation as consultants); 4. Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation); 5.Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decision – making); 6. 

Tham gia tự nguyện (Self-mobilization). Các tác giả cũng định nghĩa sự tham gia theo một phạm vi rất rộng, có thể cả trong khu vực công và khu vực tư. 

1.1.1.5. Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước 

Vai trò phân bổ công bằng dịch vụ công 

Bài nghiên cứu “Direct democracy and local public goods: Evidence from a fied experiment in Indonesia.” do tác giả Benjamin A. Olken thực hiện. Sử dụng phương pháp định lượng và nghiên cứu thực địa, với khung thời gian thực hiện từ 

tháng 9 năm 2005 đến tháng 1 năm 2006 với 48 ngôi làng ở Indonesia. 

Mục đích nghiên cứu của tác giả là xem xét và đánh giá về cơ chế tham gia trực tiếp và gián tiếp. Bằng cách thiết kế hai dự án cho một làng. Một dự án chung cho toàn thể dân làng với quy mô lớn và một dự án dành riêng cho phụ nữ trưởng thành. 

Kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng độ hài lòng của người dân trong làng được trực tiếp bỏ phiếu cao hơn đối với các làng áp dụng quy trình cử đại diện tham gia dù nó không tác động nhiều đến kết quả lựa chọn. Đối với các dự án của phụ nữ, bên cạnh sự hài lòng, kết quả cho thấy các dự án được tổ chức và thực hiện tại những vị trí nghèo hơn trong làng. 

Đây là một nghiên cứu thực địa được cộng đồng nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính công đánh giá cao, với các kết quả công bố, có ý nghĩa thống kê, đã cho thấy sự tham gia của cộng đồng vào quy trình ngân sách mang lại hai kết quả quan trọng. Thứ nhất là tăng tính hợp pháp và giúp người dân nhận biết được các lựa chọn tối ưu đối với các dịch vụ công. Thứ hai, sự tham gia làm gia tăng mức độ hài lòng của người dân đặc biệt với hình thức tham gia áp dụng cơ chế như bỏ phiếu trực tiếp và toàn bộ. Nó đồng thời thúc đẩy và thực thi sự công bằng xã hội thu hẹp khoảng cách thụ hưởng dịch vụ công của cộng đồng. 

Liên quan đến Luận án, nghiên cứu này đã chứng minh rằng khi áp dụng cơ chế tham gia trực tiếp đã hạn chế sự can thiệp của các chủ thể có ảnh hưởng trong một cộng đồng, quan trọng hơn nữa đó là khả năng nhận thức và quyết định các dịch vụ công của người dân đồng thời nâng cao tính hợp pháp của các quy trình phân bổ công và mang lại kết quả cung cấp dịch vụ công bằng và minh bạch hơn. 

Bài nghiên cứu Traditional Governance, Citizen Engagement, and Local 

Public Goods: Evidence from Mexico được thực hiện bởi Alberto Di’Az- Cayeros, Beatriz Magaloni và Alexander Ruiz- Euler. Bài viết xuất bản năm 2013 bởi tạp chí Elsevier. Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá tác động của hình thức quản trị truyền thống (tham gia trực tiếp) đối với việc cung cấp hàng hóa công ở cấp địa phương. Nghiên cứu thực hiện tại bang Oaxaca nơi được cho là nghèo nhất ở Mexico. Nghiên cứu đánh giá về mức độ và tần suất cung cấp dịch vụ công trước và sau năm 1995 ở cả hai hình thức quản trị trên. Các tác giả áp dụng phương pháp đối sánh vì Oaxaca áp dụng đồng thời song song hai hình thức quản trị gồm: truyền thống- tham gia trực tiếp và bắt buộc, hiện đại - với hình thức dân chủ đại diện được quy định trong Hiến Pháp của Tiểu Bang năm 1995. Tại đây, các thành phố tự trị ở Oaxaca áp dụng các loại hình quản lý khác nhau, nhưng vẫn giữ nguyên các thể chế chính thức của thành phố. Đó là, cấu trúc của chính quyền thành phố, các quy định pháp lý của chính quyền thành phố, và mối quan hệ tài chính với tiểu bang và liên bang các chính phủ. Đây là một trường hợp mà theo các tác giả là khá đặc biệt bởi vì dù có cùng thể chế chính thức nhưng hình thức quản lý lại có thể lựa chọn cơ chế hoạt động với người dân hoặc là trực tiếp tham gia hoặc là thông qua đại diện. Kiến thức về ngân sách công cũng dễ dàng lan truyền trong các thành viên của hội đồng và tham nhũng dễ kiềm chế hơn. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc cung cấp điện tăng nhanh hơn ở những thành phố áp dụng hình thức quản trị dân chủ trực tiếp (truyền thống) và cải thiện việc cung cấp giáo dục và hệ thống thoát nước, thu hút được nhiều tầng lớp ưu tú hơn so với hình thức quản trị áp dụng cơ chế dân chủ đại diện. Tóm lại, phát hiện của các tác giả cho thấy các hình thức quản trị truyền thống có sự tham gia trực tiếp của người dân không cản trở sự phát triển dân chủ. Hơn nữa, nó còn có nhiều khả năng tổ chức các cuộc họp mở cho phép công dân tham gia vào quá trình ra quyết định. Các tác giả cho rằng mức độ bao phủ của hàng hóa công tốt hơn là do sự khác biệt trong quản trị địa phương và thực tiễn ra quyết định tập thể. Các tác giả đề xuất rằng việc quản trị truyền thống bằng hình thức dân chủ trực tiếp có thể bị ảnh hưởng và dẫn đến việc ảnh hưởng cung cấp dịch vụ công ở địa phương. Một kết luận quan trọng khác được rút ra đó là câu hỏi lớn đối với hình thức dân chủ đại diện ngày nay đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới có thể chứa đựng nguy cơ là mất quyền tự quyết trong việc ra quyết định của cử tri so với hình thức dân chủ trực tiếp có sự tham gia. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu củng cố thêm nhận định rằng dân chủ có sự tham gia trực tiếp đã thực sự tác động tới khả năng cung cấp dịch vụ công, khuyến khích sự tham gia, bên cạnh đó nó cung cấp thêm nhiều gợi mở cho phần đề xuất của Luận án định hướng áp dụng nguyên tắc tham gia trong phân bổ và cung cấp nguồn lực công ở Việt Nam, nơi có truyền thống lâu đời về tính tự quản của cộng đồng làng xã.   

Bài viết Improving Social Well Being Through New Democratic Institutions do hai tác giả là Michael Touchton và Brian Wampler trên tạp chí Comparative Political Studies năm 2013. Hai tác giả sử dụng phương pháp định lượng với biến độc lập là sự tham gia và các biến phụ thuộc gồm: chi tiêu cho sức khỏe và vệ sinh của chính quyền; tỷ lệ các tổ chức dân sự; tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Địa điểm áp dụng nghiên cứu là các thành phố tự trị tại Brazil với số dân ở mỗi địa phương tối thiểu từ 100.000. Nghiên cứu thu thập dữ liệu và phân tích trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến 2008. Với mục đích tìm kiếm đáp số cho những câu hỏi lớn là việc áp dụng quy trình ngân sách có sự tham gia có tác động tới sự gia tăng chi tiêu cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe và vệ sinh, có làm tăng số lượng các tổ chức xã hội dân sự, có giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh? và một thảo luận nhỏ liệu sự ủng hộ của thành viên Đảng cầm quyền mà cụ thể là Thị trưởng ở địa phương có tác động tới quá trình áp dụng nguyên tắc sự tham gia hay không? 

Nghiên cứu dựa trên sự đồng thuận trong quan điểm về những hạn chế của chế độ dân chủ đại diện với những quyết định phần lớn là của tầng lớp tinh hoa và thiếu vắng sự hiện diện của người nghèo. Bài viết cũng dựa trên quan điểm của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, Amartya Sen về việc nâng cao và mở rộng khả năng của con người sẽ thúc đẩy sự phát triển rộng rãi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự tham gia của người dân bằng cách thức dân chủ trực tiếp đối với ngân sách cho dịch vụ công cho thấy chính quyền đã tăng tỷ lệ chi ngân sách dùng cho các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tăng cao hơn, các tổ chức dân sự cũng phát triển nhiều hơn và giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc phân tích và cung cấp minh chứng về vai trò của sự tham gia trong lĩnh vực ngân sách sẽ gây ảnh hưởng tích cực đến cung cấp công bằng dịch vụ công của nhà nước cho người dân.   

Bài nghiên cứu The Effects of Participatory Budgeting on Municipal Expenditures and Infant Mortality in Brazil của Sosnia Gonçalves trên tạp chí 

World Development năm 2014. Nghiên cứu tập trung vào việc cải tiến thể chế trong khuôn khổ quản trị phi tập trung dưới hình thức tăng cường sự tham gia của cộng đồng để cung cấp một thử nghiệm về chế độ phân cấp có sự tham gia nhằm điều chính phù hợp các chính sách đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương tại Brazil. Lấy khung thời gian từ 1990 đến 2004 với một nhóm các thành phố tự trị tại Brazil, tác giả xây dựng bộ dữ liệu gồm thông tin về thành phố áp dụng ngân sách có sự tham gia; chi tiêu công và kết quả y tế. Sử dụng tập dữ liệu này, tác giả xác định các tác động lên chi tiêu công và các kết quả mức sống liên quan đến việc áp dụng ngân sách có sự tham gia bằng cách khai thác sự khác biệt phong phú về thời gian áp dụng giữa các thành phố theo thời gian. Kết quả này cho thấy rằng việc áp dụng ngân sách có sự tham gia ở cấp thành phố có liên quan đến việc tăng chi tiêu cho các dịch vụ vệ sinh và y tế cơ bản và cấp bách (các nhu cầu này được thu thập trong các diễn đàn có sự tham gia). Các dịch vụ này theo đó chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng ngân sách thành phố. Cùng với sự phân bổ lại nguồn lực này ở cấp thành phố, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm đáng kể giữa các thành phố áp dụng ngân sách có sự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định ngân sách cho dịch vụ công đã làm tăng mức chi tiêu công cho các dịch vụ. Nghiên cứu này một lần nữa cung cấp thêm minh chứng thực địa cho Luận án về vai trò và ý nghĩa của việc áp dụng mô hình ngân sách có sự tham gia đã mang lại những kết quả tốt hơn cho các bên liên quan. Với chính quyền nó thúc đẩy sự nhạy bén và minh bạch, đối với người dân nó cung cấp dịch vụ công công bằng hơn. Tuy nhiên, theo tác giả, để mô hình này thành công ngoài vấn đề về tài chính thì cam kết chính trị là một trong những nhân tố quyết định tới sự thành công hay thất bại của chương trình áp dụng ngân sách có sự tham gia. 

Vai trò quản trị nhà nước tốt 

Theo Brian Walmper, trong nghiên cứu có tên là Introduction to Participatory Budgeting xuất bản năm 2007 bởi WB thì sự tham gia của người dân khi được áp dụng như một công cụ quản trị nhà nước sẽ thúc đẩy cải cách hành chính, lý do được đưa ra là dưới áp lực về nhu cầu truy cập thông tin ngân sách, cần có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, quy trình ngân sách cần được minh bạch và đảm bảo tất cả các bên liên quan gồm quan chức chính phủ; doanh nghiệp; người dân; chủ đầu tư…đều có thể dễ dàng truy cập khi có nhu cầu. Sự tham gia của người dân đã đảo ngược và phá vỡ một số hình thức quản trị truyền thống và thúc đẩy chính quyền phải cải cách theo hướng áp dụng công nghệ trong quản trị nhiều hơn, cách thức này đang được Việt Nam nỗ lực để đạt được bằng các chương trình cải cách hành chính mang cấp quốc gia. 

Theo Monyhan Donal trong nghiên cứu Citizen Participation in Budgeting: Prospects for Developing Countries được biên tập bởi Anwar Shah, xuất bản bởi World Bank năm 2007 đã khẳng định, sự tham gia là một nhu cầu thực tế tại các nước đang phát triển, tại đây, sự tham gia đặc biệt quan trọng bởi vì nó thúc đẩy quản trị tốt, thúc đẩy minh bạch, tăng công bằng xã hội bằng cách liên kết đến người nghèo và các đối tượng bị loại trừ, giúp những người xấu trở thành công dân tốt hơn, bởi vì cấu trúc và các cơ chế quản trị truyền thống đã cho thấy những nhược điểm như tham nhũng; phân bổ tài nguyên không rõ ràng; không cung cấp được các dịch vụ cơ bản và cấu trúc quyền lực có tính loại trừ không tạo cơ hội cho 

các tầng lớp yếu thế trong xã hội được đưa ra các quan điểm và nhu cầu của mình. 

Công trình nghiên cứu của Chris Ansell và Alison Gash: Collaborative Governance in Theory and Practice. Các tác giả thực hiện một nghiên cứu phân tích tổng hợp các tài liệu hiện có về quản trị hợp tác với mục tiêu xây dựng một mô hình dự phòng của quản trị hợp tác. Đánh giá 137 trường hợp quản trị hợp tác trên nhiều lĩnh vực chính sách, các tác giả đã xác định và đưa ra dự đoán rõ ràng rằng nhu cầu hợp tác và phối hợp tốt hơn giữa chính phủ và các bên liên quan khó có thể suy yếu trong tương lai gần, theo các tác giả, để quy trình hợp tác này mang lại hiệu quả cần phải xác định các nhân tố quan trọng sau đây: điều kiện bắt đầu; thiết kế thể chế; quy trình hợp tác. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án khi chứng minh rằng quản trị công của hiện tại và tương lai không thể thiếu sự hợp tác với sự đóng góp của khu vực tư nhân tham gia giải quyết các vấn đề công cùng với nhà nước, đây là một hình thức quản trị mang lại các giá trị khi các bên nhận ra sự liên quan và phụ thuộc lẫn nhau của các quá trình chính sách công, mà nền tảng để giải quyết quản trị hợp tác hiệu quả đó chính là sự tham gia trực tiếp của người dân. 

Nghiên cứu của Benjamin A. Olken xuất bản năm 2006 có tên là Direct democracy and local public goods: Evidence from a fied experiment in Indonesia. Đã phát hiện ra rằng sự tham gia của các cơ sở thông qua các hội đồng làng chỉ có tác dụng hạn chế trong việc giảm tham nhũng trong các dự án đường làng ở Indonesia, khi áp dụng sự tham gia của cộng đồng vào quy trình chi tiêu của thành phố không những hạn chế tham nhũng hiệu quả hơn mà đồng thời phân bổ dịch vụ công tốt hơn, chỉ số hài lòng của người dân tăng lên, cung cấp đầu vào cho quá trình sử dụng ngân sách đã giúp chính quyền thành phố đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cử tri.   

Nghiên cứu của Ebdon và cộng sự công bố năm 2006 bởi tạp chí Public Administration Review, có tên là Citizen Participation in Budgeting Theory, đã chứng minh vai trò của sự tham gia trong quản trị đặc biệt là quản trị nhà nước, theo đó, chính quyền các cấp có thể sử dụng để kết nối với người dân, lắng nghe thực sự để hiểu rõ nhu cầu và mong đợi của họ. Trước những quyết định về việc cắt giảm chi tiêu và dịch vụ hoặc tăng thuế và phí thì sự tham gia dường như là phương pháp để công dân đóng vai trò giúp các cơ quan nhà nước xác định các giải pháp tốt nhất cho chính phủ và cộng đồng. 

Vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế 

Trong công trình nghiên cứu có tên là Participation and Development: 

Perspectives from the Comprehensive Development Paradigm của tác giả Joseph E. 

Stiglitz đăng trên tạp chí Review of Development Economics năm 2002. Tác giả đã khẳng định rằng, sự tham gia được nghiên cứu và chứng minh là một trong những công cụ thúc đẩy phát triển, vì sự tham gia có mối liên hệ chặt chẽ với minh bạch và trách nhiệm giải trình, tất cả những nhân tố này khi áp dụng đồng thời sẽ tác động tới kinh tế vĩ mô như nâng cao chỉ số cạnh tranh quốc gia, giảm chi phí đi vay, chỉ số nợ công thấp…Theo tác giả, sự tham gia thúc đẩy tới minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ tạo ra một thị trường cạnh tranh và thu hút đầu tư. 

Nghiên cứu của Bejamin Goldfrank, tại Châu Mỹ La Tinh có tên là Lessons from Latin America’s Experience with Participatory Budgeting do WB xuất bản năm 2007 cũng cho rằng ngân sách có sự tham gia của người dân, tự nó không làm giảm đáng kể đói nghèo (đặc biệt là nghèo về thu nhập). Để giảm nghèo, các nguyên tắc cơ bản về lập ngân sách có sự tham gia cần phải đặt ra các mục tiêu và duy trì kết hợp với minh bạch, tham gia trực tiếp, phân bổ cho người nghèo trong suốt quá trình và cần được áp dụng không chỉ cho các cấp chính quyền quốc gia mà còn cho các cơ quan hoạch định chính sách quốc tế và cân nhắc với tình hình thực tế của địa phương. 

Benjamin A. Olken (2006) trong công trình có tên là Direct democracy and local public goods: Evidence from a fied experiment in Indonesia đã chứng minh rằng, thông tin được cung cấp kết hợp với hình thức tham gia trực tiếp thay vì thông qua đại diện bởi các thành viên của Hội đồng làng trong quá trình lựa chọn các dự án công cộng tại Indonesia đã cho kết quả là các dự án được phát triển tốt hơn, giảm được các chi phí và can thiệp từ các tầng lớp tinh hoa địa phương. 

Như vậy, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước không trực tiếp tác động đến và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều cho thấy chung một kết quả rằng, sự tham gia sẽ tác động và thúc đẩy minh bạch và trách nhiệm giải trình, các gợi ý và các bộ nguyên tắc về quản trị ngân sách nhà nước hiệu quả đều yêu cầu áp dụng đồng thời sự tham gia, minh bạch thông tin và tăng cường trách nhiệm giải trình để đạt được hiệu quả tốt nhất. 

Sách: Democracy and Civil Society in Asia xuất bản năm 2004 bởi Palgrave 

Macmilan. Thực địa nghiên cứu gồm một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines…Nội dung nghiên cứu thảo luận 3 vấn đề. Một là, xem xét xem liệu sự phát triển kinh tế sau khủng hoảng tài chính những năm 1990 có phải là nguyên nhân thúc đẩy phát triển dân chủ ở Châu Á, hai là, xem xét các yếu tố cản trở sự phát triển của dân chủ, ba là, đề xuất và thúc đẩy các hình thức dân chủ phát triển như bình đẳng, công lý, trao quyền và sự tham gia. 

Các tác giả cho rằng, sau khủng hoảng tài chính những năm 1990, hầu hết các nước Châu Á tham gia vào guồng quay của toàn cầu hóa mặc dù không đồng đều, đồng thời với sự xuất hiện của các tổ chức viện trợ quốc tế ở đây hoặc với nội dung tiếp cận thị trường đầu tư hoặc với mục tiêu phát triển bền vững đã khéo léo lồng vào dòng vốn đầu tư cái gọi là quản trị tốt với các nguyên tắc trụ cột là trách nhiệm giải trình, minh bạch, đa nguyên chính trị và sự tham gia chính trị của khu vực tư nhân. Như vậy, dân chủ đã được sáp nhập với vốn đầu tư chảy vào các quôc gia phát triển ở Châu Á trong đó có Việt Nam, cung cấp thêm bằng chứng về sự thúc đẩy và phát triển nguyên tắc tham gia sau Đổi mới được trình bày trong Luận án. 

Tóm lại, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước đã được tiếp cận và nghiên cứu đầy đủ trên nhiều phương diện trong cộng đồng học thuật quốc tế. Thậm chí, nó đã được áp dụng và đạt được những thành công trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề chưa được làm rõ. Đó là:  Phần lớn nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia có chế độ đa nguyên về chính trị chứ chưa có một nghiên cứu thực sự nào về sự tham gia ngân sách tại một quốc gia do một đảng lãnh đạo như ở Việt Nam. Thứ hai, các nghiên cứu đồng thuận rằng, sự tham gia của người dân vào các quy trình chính sách công trong đó có ngân sách nhà nước như là một nguyên tắc quản trị tốt, được thúc đẩy và cấy ghép vào các quốc gia chuyển đổi và đang phát triển bởi các tổ chức quốc tế, nhưng chưa được minh chứng cụ thể, đặc biệt là quốc gia vừa tiến hành chuyển đổi vừa cải cách như Việt Nam. 

Quan điểm và nhận thức về sự tham gia của người dân trong khu vực công và quy trình ngân sách nhà nước, dưới sự dẫn dắt và lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam có tương đồng so với thông lệ quốc tế? Pháp luật Việt Nam quy định về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước như thế nào? Truyền thống quản trị và môi trường pháp lý Việt Nam truyền thống có ảnh hưởng tới sự phát triển của nguyên tắc tham gia? Các tổ chức quốc tế đến với Việt Nam cùng với những khoản viện trợ khổng lồ có phải là tác nhân thúc đẩy pháp luật về sự tham gia của người dân phát triển mạnh mẽ sau Đổi Mới? Đây là những vẫn đề còn bỏ ngỏ cần được nghiên cứu để làm rõ. 

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 

1.1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong lịch sử Việt Nam 

Bài viết Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong các bản hiến pháp Việt Nam của tác giả Hồ Ngọc Chung đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học xã hội năm 2015. Bài viết phân tích và làm rõ sự hình thành và phát triển quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong các bản hiến pháp Việt Nam. Theo đó, tác giả nhận định về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân là một trong những quyền ra đời sớm nhất trong lịch sử lập hiến Việt Nam, hiến định quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân là sự hiện thực hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền làm chủ của nhân dân, về một nền dân chủ đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam,  quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ngày càng được mở rộng, phát triển và hoàn thiện trong các bản Hiến pháp Việt Nam. Tuy nhiên, trong các bản Hiến pháp Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng, cụ thể cách thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước cũng như cơ chế hữu hiệu bảo đảm thực thi quyền hiến định này của công dân trên thực tế. Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án khi dẫn chứng về lịch sử phát triển của nguyên tắc tham gia tại Việt Nam, đồng thời những kết luận đánh giá tính khả thi của nguyên tắc này có giá trị đóng góp cho Luận án khi đánh giá tính hiệu quả của nguyên tắc này trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 

Bài viết Tính tự trị của làng xã Việt Nam qua hương ước của Vũ Duy Mền và Phan Đăng Thuận trên tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, 2016. Theo các tác giả, trước đây, làng xã là nơi cư trú và sinh sống của người dân Việt. Vào những giai đoạn đầu, trật tự xã hội được điều chỉnh bằng chính những quy chuẩn do người dân đặt ra thông qua khả năng tự quản – tự trị. Dựa vào sự hình thành và phát triển của Hương ước của cộng đồng Làng xã của Việt Nam trong lịch sử, các tác giả đã dẫn chứng tính tự quản trong lĩnh vực kinh tế và gián tiếp minh chứng thông qua chức năng thu thuế ở thời kỳ này cho thấy sự thừa nhận từ chính quyền trung ương về những nấc thang đầu tiên của nguyên tắc tham gia của người dân, đơn cử cụ thể trong lĩnh vực ngân sách, đó là cho người dân được biết về mức thuế và thời gian nộp thuế được ghi nhận tại Điều thứ 9 liên quan đến niên kỳ sưu thuế, việc thu thuế có bóng dáng của hình thức công khai và cung cấp thông tin cho người đóng thuế như niêm yết tại các đình làng trong thời gian bảy ngày và biên lai đóng thuế được cung cấp người dân lưu. 

Như vậy, có thể nhận định rằng việc tham gia vào khu vực công mà cụ thể trong khu vực phân bổ nguồn lực của người dân thời kỳ này không chỉ dừng lại ở việc chỉ biết đến thông tin về thời hạn và mức nộp thuế mà còn tham gia vào việc quyết định phân bổ mức thuế phải nộp thông qua đại diện mà họ đã lựa chọn. Bởi vì chính quyền Trung ương chỉ giao tổng số thuế mà các làng xã phải nộp còn việc phân bổ thế nào do hội đồng kỳ mục/tộc biểu họp quyết định. Liên quan đến Luận án, Đề tài nghiên cứu của 2 tác giả Vũ Duy Mền, Phan Đăng Thuận có giá trị tham khảo cho Luận án khi trình bày về lịch sử phát triển của nguyên tắc tham gia tại Việt Nam. 

1.1.2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong lĩnh vực công 

Năm 2013, cuốn sách Sự tham gia của người dân vào quy trình lập hiến gồm 

Đào Trí Úc, Nguyễn Thị Mơ, Nguyễn Văn Thuận, Vũ Công Giao đồng chủ biên nhằm giải thích vì sao người dân có quyền tham gia vào các quy trình chính trị. Các tác giả cho rằng, quyền lực nhà nước được xây dựng trên nền tảng đó là quyền lực của người dân vì vậy mọi hoạt động liên quan đến chính sách công đều vì người dân. Tuy nhiên, sự tham gia của người dân là gì và các mức độ của nó như thế nào đã không được trình bày trong cuốn sách này. Tài liệu có giá trị đối với Luận án khi các tác giả đều thừa nhận rằng, sự tham gia của người dân là một quyền hợp pháp và nó xuất phát từ bản chất nhà nước được xây dựng dựa trên nền tảng quyền lực nhân dân. 

Luận án tiến sĩ chuyên ngành chính trị học của Phan Văn Tuấn tại Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh có tiêu đề Phương thức tham gia của người dân vào quá trình chính sách công ở Việt Nam hiện nay. Nội dung chính nghiên cứu và khảo sát phương thức tham gia của người dân qua các cấp độ gồm: (a) người dân tham gia quá trình lựa chọn vấn đề chính sách; (b) người dân tham gia bàn và tham gia vào quá trình ra quyết định chính sách; (c) người dân tham gia thực hiện chính sách; (d) người dân tham gia giám sát, kiểm tra và đánh giá chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mức độ và hình thức tham gia tại Việt Nam nói chung còn nhiều khiếm khuyết và hạn chế. Các quy định pháp luật về sự tham gia đã được ghi nhận nhưng còn phân mảnh và thiếu hệ thống. Công trình này có tính tham khảo cho Luận án khi cung cấp minh chứng về tính phân tán chưa đồng bộ của các mức và hình thức tham gia được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. 

Nghiên cứu Sự tham gia của người dân vào chính sách công dưới ảnh hưởng của mạng xã hội tại Việt Nam - Nghiên cứu từ tình huống điển hình, tác giả Huỳnh Ngọc Chương, đăng trên tạp chí Phát triển KH và CN, tập 19, số Q4 – 2016. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính cho các tình huống chặt cây xanh tại Việt Nam, từ đó xem xét tác động của Facebook đối với sự tham gia của người dân vào chính sách công. Dựa trên lý thuyết về các bên liên quan trong chính sách công và các bên liên quan trong quản trị công tác giả phân tích bối cảnh thực tế quy trình ban hành và thực hiện các chính sách công của Việt Nam cùng với nhận dạng các bên liên quan hiện nay tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, sử dụng internet thông qua các công cụ mạng xã hội mà điển hình là facebook trở thành một thực tế không thể đảo ngược ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và dân số trẻ. Vì thế, trong thời gian tới, nhà nước cần phải thay đổi các quy trình chính sách công theo hướng thu hút sự tham gia nhiều hơn của người dân, mạng xã hội là nguyên nhân khiến nhà nước phải thay đổi, mạng xã hội cũng trở thành áp lực khiến nhà nước phải công khai, minh bạch và tăng cường giải trình hoặc “biện bạch” cho những hoạt động của mình. 

Công trình nghiên cứu này có giá trị tham khảo cho Luận án khi chứng minh công nghệ, mà đặc biệt là mạng internet là một trong những nguyên nhân thúc đẩy cải cách hành chính, xu hướng tham gia của người dân vào các quy trình chính sách công trong đó có ngân sách nhà nước sẽ tăng lên trong thời gian tới. 

Nghiên cứu Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước và xã hội vì mục tiêu phát triển con người do tác giả Trương Văn Dũng trên Tạp chí Nghiên cứu con người số 5 năm 2008. Bài viết đã thống kê sự ghi nhận sự tham gia của người dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bài viết đề cập tới quan điểm của Đảng về sự tham gia của người dân, giới thiệu một số ví dụ điển hình tại các địa phương như TP.HCM, huyện Nhà Bè, huyện Đô Lương…đã áp dung thành công các quy định về sự tham gia của người dân dựa trên cơ sở đánh giá là Pháp lệnh dân chủ cơ sở 2007. Theo  đó, dựa vào đường lối của Đảng thông qua các quy định của pháp luật, trong đó có Hiến pháp 1946; Hiến pháp 1992. Tác giả cho rằng, sự tham gia đã đạt được một số thành công nhất định. Luật pháp đã  quy định tương đối các hình thức và mức độ tham gia. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng còn tồn tại những thách thức như: phụ thuộc nhiều vào đại biểu dân cử; nguyện vọng của người dân thông qua các tổ chức xã hội chưa được giải quyết thỏa đáng; tham gia trực tiếp bằng việc được lấy ý kiến và quyết định nhiều vấn đề ở cấp cơ sở nhưng đến thời điểm năm 2008 hoạt động lấy ý kiến vẫn chưa được triển khai…Nghiên cứu có giá trị tham khảo khi trình bày về sự tham gia của người dân trong lĩnh vực công, cụ thể tại Chương III của Luận án. 

Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Thị Ngọc Anh đăng trên tạp 

chí Nghiên cứu lập pháp số 1(377)- kỳ 1, tháng 1/2019 có tên Sự tham gia của người dân trong quản lý công. Các tác giả đã trình bày lý thuyết hai nội dung chính: thứ nhất, ý nghĩa của sự tham gia của người dân trong quản lý công. Theo đó, sự tham gia của người dân mang lại nhiều giá trị như sau: (1) là quyền cá nhân và khi tham gia vào quản lý công người dân đã và đang thực hiện quyền công dân của mình; (2) sự tham gia của người dân có mang lại ổn định và phát triển cho xã hôi, thúc đẩy công bằng; (3) sự tham gia có ảnh hưởng tới chính trị; (4) sự tham gia có ảnh hưởng quan trọng tới quản lý công. Thứ hai, các tác giả đã trình bày các hình thức tham gia của người dân trong quản lý công dựa trên mục tiêu của sự tham gia, gồm tham gia nhằm mục đích đối thoại bình đẳng; tham gia để tiếp nhận thông tin cho quá trình ra chính sách công và tham gia ủng hộ chính sách. Tài liệu này có giá trị tham khảo cho Luận án khi cùng đồng thuận rằng, sự tham gia của người dân trong quản lý công là quyền công dân và khi người dân thực hiện quyền này sẽ mang lại các giá trị cũng như ý nghĩa như thúc đẩy công bằng xã hội, nâng cao chất lượng chính sách quản lý công hoặc chất lượng dịch vụ công. 

Một nghiên cứu của Oxfam Việt Nam xuất bản năm 2014 với chủ đề Thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình ra quyết định giáo dục. Tài liệu khẳng định rằng sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình ra quyết định giáo dục là quyền tham gia, và theo quan điểm của Oxfam thì Sự tham gia, trong bối cảnh phát triển, là quá trình mà tất cả các cá nhân trong cộng đồng được tham dự và có ảnh hưởng đến các quyết định về những hành động phát triển có tác động đến họ. Nghiên cứu khẳng định rằng sự tham gia của các bên liên quan có giá trị cải thiện chất lượng giáo dục/quản trị nhà trường, tuy nhiên, hiện nay, sự tham gia của các bên liên quan (không bao gồm nhà trường) chỉ dừng lại ở mức độ thấp do chủ thể tham gia không biết mình có quyền được tham gia vào quá trình ra quyết định hoặc do không tiếp cận được các thông tin. Tài liệu cũng chứng minh cho thấy, pháp luật giáo dục của Việt Nam đã ghi nhận tương đối đầy đủ về quyền tham gia, tuy nhiên trên thực tế hệ thống pháp lý hiện hành chưa thật sự tạo ra cơ hội cho sự tham gia của các bên liên quan. Hiện hướng dẫn thực hiện “dân chủ” tại nhà trường, các cơ sở giáo dục, nơi trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đang có hiệu lực, nhưng lại thiếu các quy định hướng dẫn người học được “bàn; kiểm tra” với các vấn đề ngoài nhà trường liên quan đến các quyết định về phân bổ nguồn lực công ở cấp huyện, cấp tỉnh. Nguyên nhân được cho rằng, hiện nay ở Việt Nam chưa có một định nghĩa chính thức nào về sự tham gia của người dân. Tài liệu đã cung cấp bối cảnh và hiện trạng về sự tham gia nói chung ở Việt Nam hiện nay, câu hỏi chung là: 

Pháp luật đã quy định khá đầy đủ về sự tham gia, tại sao các hiệu quả của nó lại không được tìm thấy trên thực tế? Nội dung này sẽ được trình bày và phân tích tại Chương III của Luận án. 

Bài nghiên cứu Chính sách, pháp luật Việt Nam về sự tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân của  Đỗ Thị Kim Tiên - Học viện Hành chính Quốc gia đăng trên tạp chí Tổ chức nhà nước năm 2018, đã phân tích một cách khá tổng quát về sự tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân. Theo đó, tác giả đã lần lượt thống kê quyền tham gia của người dân theo quy định của pháp luật Việt Nam dưới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp đều khá tương đồng với Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1996 (Điều 25 - ICCPR) và Luật Nhân quyền quốc tế. Theo tác giả, sự tham gia của công dân có phạm vi khá rộng từ xây dựng chính sách, pháp luật, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, ra quyết định, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị…và sự tham gia, mức độ cống hiến của công dân trong quản lý nhà nước và xã hội còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ví dụ, mức độ sẵn sàng của công dân, hình thức tham gia (trực tiếp hay gián tiếp); năng lực và vị trí việc làm; các yếu tố thuộc về cá nhân công dân (vốn con người - các giá trị cá nhân, vốn văn hóa, vốn xã hội, vốn thông tin, vốn kinh tế, vốn chính trị,..), và đặc biệt là yếu tố thể chế, chính sách của nhà nước. Bài viết đã cung cấp một số đóng góp cho Luận án khi tổng hợp và phân tích quyền tham gia của công dân dưới góc độ Hiến Pháp, Luật ban hành văn bản quy  phạm pháp luật, Luật Khiếu nại và tố cáo…đồng thời gián tiếp dẫn chứng sự mâu thuẫn giữa quy định pháp luật và khả năng thực thi trên thực tế  quyền lập đề nghị xây dựng VBQPPL của những công dân là thành viên của tổ chức xã hội không thuộc thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngay cả khi họ là đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản. 

Bài viết Quản lý xã hội dựa vào sự tham gia: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Trung Kiên và Lê Ngọc Hùng đăng trên Tạp chí Xã hội học số 1 (117) năm 2012. Các tác giả tiếp cận nội dung về quyền tham gia quản lý xã hội của người dân dựa trên hai nội dung một là mối quan hệ giữa chủ thể hành động xã hội với các nguồn vốn nhất định và thứ hai là các thiết chế chính thức và phi chính thức đối với cấu trúc xã hội. Từ cách tiếp cận này dựa trên khung lý thuyết về sự tham gia các tác giả cho thấy những yếu tố tác động đến vấn đề quản lý xã hội của người dân dựa trên nguyên tắc tham gia gồm các nguồn vốn: con người, tâm lý, thông tin,  xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế nếu không giống nhau thì sẽ tham gia khác nhau trong hoạt động quản lý nhà nước và xã hội. Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án khi phân tích về vai trò và ý nghĩa của sự tham gia cũng như đánh giá các yếu tố tác động tới sự tham gia của người dân ở Việt Nam. 

Ấn phẩm Sự tham gia của người dân trong công tác lập quy hoạch đô thị và quản lý dự án của Trung tâm Dự báo và Nghiên cứu đô thị - PADDI xuất bản năm 2016, nội dung chính là Tài liệu này tổng hợp các bài thuyết trình trong khóa tập huấn do đại diện của Viện Nghiên cứu phát triển, Viện Quy hoạch xây dựng và Đại đô thị Lyon trình bày, đồng thời ghi lại những nội dung trao đổi giữa các chuyên gia và các đại biểu tham dự khóa học. Nhằm hỗ trợ tổ chức khóa tập huấn về sự tham gia của người dân trong lĩnh vực quy hoạch đô thị. Sau khi trao đổi với Viện NCPT và Viện Quy hoạch xây dựng với nhu cầu được xác định là tìm ra cách làm phù hợp với các quy định hiện nay đối với quyền tham gia của người dân và bổ sung cho cách làm hiện nay: nội dung lấy ý kiến, đối tượng nhắm đến, thời gian, mức độ lấy ý kiến, phương thức, tài chính và nhân lực...Tài liệu có giá trị tham khảo cho Luận án trong phần đánh giá hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật Việt Nam khi cung cấp sơ khảo tổng quan khung pháp lý về sự tham gia của người dân ở Việt Nam nói chung và trong hoạt động lập quy hoạch đô thị nói riêng, đồng thời so sánh khung pháp lý quy định về nguyên tắc sự tham gia trong cùng lĩnh vực tại Pháp và ví dụ cụ thể tại đại đô thị Lyon. 

Bài viết Vai trò của Quốc hội đối với quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân của tác giả Phạm Tuấn Anh đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 – 2018. Theo tác giả, Việt Nam với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có những bước phát triển nổi bật trong hoạt động lập pháp khi ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận về quyền tham gia của người dân như: Luật tổ chức QH năm 2014, Luật tổ chức HĐND & UBND 2003, Luật tổ chức CQĐP năm 2015, Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND 2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012), Luật trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007... tương ứng với các cơ chế thực thi như: cơ chế pháp lí như bầu cử, ứng cử, chất vấn, khiếu nại, tố cáo và quy chế dân chủ ở cơ sở.. với các hình thức cụ thể khi tham gia vào công việc quản lí nhà nước, như: quyền được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra, giám sát …Tuy nhiên, theo tác giả, vai trò của Quốc hội trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lí nhà nước của công dân ở nước ta hiện nay vẫn còn một số hạn chế. Cụ thể là: tổ chức cũng như hoạt động của Quốc Hội (QH) vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội về góc độ dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, pháp luật về quyền tham gia quản lí nhà nước của công dân hiện tại chưa được đồng bộ thậm chí còn mâu thuẫn lẫn nhau, đặc biệt, khi nhà nước xây dựng pháp luật, quyền của người dân tham gia xây dựng pháp luật chưa được nhìn nhận đúng đắn khiến nguyện vọng thực tế của nhân dân chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó, vị thế, vai trò của UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của QH, Đoàn đại biểu QH và cá nhân đại biểu QH trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lí nhà nước của công dân còn hạn chế. Liên quan đến Luận án, bài viết có giá trị tham khảo khi phân tích khá cụ thể về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong các văn bản quy phạm pháp luật đặt trong mối quan hệ tương ứng với vai trò và sứ mệnh của Quốc hội Việt Nam. Kết luận của bài viết góp phần củng cố nhận định và phương hướng nghiên cứu của Luận án, nhất là trong quá trình đánh giá tính hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. 

Bài nghiên cứu Sự tham gia quản lý của người dân trong quản lý đầu tư công xây dựng nông thôn mới ở vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên Huế của tác giả Cao 

Thị Tuyết đăng trên tạp chí Khoa học – Đại học Huế (ISSN 1859-1388) năm 2017. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu và phân tích thực trạng sự tham gia của người dân, cộng đồng trong quản lý đầu tư công xây dựng nông thôn mới và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia này. Nghiên cứu được thực hiện tại 2 xã của Thừa Thiên Huế. Quá trình khảo sát cho ra kết quả thể hiện rằng người dân tham gia họp để lập kế hoạch xây dựng là 63,35%. Tuy nhiên, khảo sát về hoạt động thiết kế, chọn bên thi công và giám sát thì hầu như không có, khoảng trên 90% (95,9; 97,3%; 93,3%). Theo nghiên cứu này, 4 yếu tố chính tác động  đến sự tham gia của người dân trong quản lý đầu tư xây dựng nông thôn mới (NTM) là: pháp lý chưa rõ; người tham gia còn hạn chế về năng lực baoo gồm cả cán bộ công chức của xã và thôn. Nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo cho Chương 4 của Luận án khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyền tham gia ngân sách của người dân. 

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và Trương Thị Thu Hà, xuất bản năm 2019 trên tạp chí Khoa học – Đại học Huế (ISSN 2588–1213), công trình nghiên cứu về Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch tại làng Thanh Thủy Chánh, Huế. Theo các tác giả, sự tham gia ảnh hưởng đến tiến trình hoạch định, thực hiện và chia sẻ kết quả phát triển du lịch, vậy thì những nhân tố nào ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân làm du lịch? Sử dụng phương pháp định lượng với địa điểm nghiên cứu thực địa tại làng Thanh Thủy Chánh, Huế, các tác giả đã điều tra 133 người dân và phỏng vấn sâu 25 đại diện các bên liên quan. Kết quả cho thấy, bên cạnh các đặc điểm nhân khẩu học, quyết định tham gia của người dân vào du lịch địa phương chịu sự chi phối của 6 nhân tố theo mức độ giảm dần là: hiểu biết về du lịch địa phương, thái độ tích cực tham gia, năng lực phục vụ du lịch, khả năng ra quyết định, sự tin tưởng các bên liên quan và năng lực tiếp cận du khách của người dân. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án khi trình bày các mức độ tham gia dưới góc độ khác, bên cạnh bậc thang tham gia của Arnstein thì còn có sự tham gia theo quan điểm của Tosun gồm 3 bậc tham gia là: (1) Sự tham gia chủ động; Sự tham gia thụ động; Sự tham gia giả (Spontaneous participation; Induced participation; Coercive participation). Kết quả cho thấy rằng, dù cùng là một lĩnh vực khoa học – xã hội nhưng khi nghiên cứu sự tham gia dưới góc độ khoa học pháp lý, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia có thể không trùng lặp, cụ thể, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước rộng hơn, bao gồm môi trường thể chế; thiết kế quy trình; mục đích tham gia… 

Bài nghiên cứu Quy hoạch đô thị với sự tham gia của cộng đồng - Những vấn đề cần nghiên cứu cho việc áp dụng phương pháp tại Việt Nam của Tạ Quỳnh Hoa trên tạp chí KHCN Xây dựng- Trường Đại học Xây dựng số 06, tháng 122009. Theo tác giả, quy hoạch đô thị cần thiết có sự tham gia của cộng đồng vì quy hoạch đô thị có sự tham gia cộng đồng đảm bảo cho người dân được tham gia vào việc quyết định trong các dự án quy hoạch đô thị, tăng mức độ cam kết của cộng đồng với dự án và nhờ đó tăng tính bền vững của dự án. Phương pháp quy hoạch đô thị có sự tham gia của cộng đồng đã được thể chế hóa từ Châu Âu và Châu Á – theo tác giả viện dẫn từ những năm 1980 tại Anh sau đó là Pháp, Thụy Điển cho đến Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản…và đều mang lại hiệu quả tốt trong lĩnh vực này. Tại Việt Nam, trong quy hoạch đô thị sự tham gia của cộng đồng chưa được thể chế hóa. Luật xây dựng, Luật Quy hoạch đều mới chỉ đề cập đến sự tham gia của cộng đồng còn ở mức độ thấp nhất, tức là cộng đồng mới chỉ được biết thông tin và hoàn toàn không có các cơ chế cho sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch đô thị. Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc nhận diện và đánh giá tính hiệu quả sự tham gia của người dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 

1.1.2.3. Nhóm nghiên cứu liên quan về sự tham gia của người dân vào quy trình 

ngân sách và thực trạng ngân sách nhà nước 

Viện Khoa học xã hội Việt Nam năm 2006 đã công bố Tài liệu đối thoại chính sách 2006/1 có tên gọi Đẩy mạnh chiều sâu dân chủ và tăng cường sự tham gia của người dân ở Việt Nam. Với mục tiêu là xem xét mức độ tham gia của người dân và mức độ đáp ứng vấn đề này từ chính quyền tại Việt Nam. Nghiên cứu phân tích cả hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Sự tham gia được tiếp cận nghiên cứu trong Báo cáo là sự tham gia với ý nghĩa là một quyền cơ bản của công dân, vì vậy, nó đã được triển khai nghiên cứu ở phạm vi là quyền công dân và dân chủ. 

Báo cáo đồng thời đã đánh giá tổng quát sự tham gia của người dân trong quy trình ngân sách nhà nước, dựa trên các quy định của pháp luật liên quan, đặc biệt là Luật ngân sách nhà nước và Nghị định dân chủ cơ cở (nay là Pháp lệnh dân chủ cở sở 2007) để đo lường sự tham gia ngân sách của người dân trong giai đoạn trước năm 2006. 

  Kết quả nghiên cứu của Báo cáo cho thấy, sự tham gia của người dân nói chung và trong ngân sách nói riêng tại Việt Nam đã được thúc đẩy bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tham gia của người dân được khuyến khích phát triển nhưng theo hướng đồng thuận và đại diện bởi tổ chức của Đảng chứ không phải sự tham gia độc lập của từng cá nhân công dân. Báo cáo là một trong số ít nghiên cứu đánh giá về sự tham gia của người dân vào khu vực ngân sách nhà nước, mặc dù mới dừng lại ở cấp chính quyền thấp nhất và đo lường bằng Nghị định dân chủ cơ sở nhưng đã cung cấp khá rõ về quan điểm và định hướng phát triển quyền công dân này tại 

Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Đây là những đóng góp quan trọng cho tác giả khi hoàn thành Chương III của Luận án. 

Tài liệu Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ do World Bank và Bộ KHĐT xuất bản năm 2016. Tài liệu đã trình bày một cách khá toàn diện và khách quan về Việt Nam trên các lĩnh vực sau Đổi mới. Theo đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích khá nổi bật so với các quốc gia có cùng cơ sở hạ tầng tương đương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thực tế nhiều rủi ro như tham nhũng ngày càng khó dự đoán và nghiêm trọng, hiệu quả và hiệu lực của nhà nước còn chưa cao, trách nhiệm giải trình trước nhân dân của nhà nước còn thấp, năng lực thực thi quyền của công dân vẫn còn hạn chế, nhất là khi tham gia vào công việc của nhà nước…Tài liệu có giá trị đóng góp cho Luận án khi cung cấp và minh chứng các số liệu và các nhận định khách quan về sự tham gia của người dân vào quy trình ra quyết định chính sách của nhà nước. Nội dung này sẽ được phân tích và trình bày tại Chương 3 – Đánh  giá tính hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 

Báo cáo Đánh giá chi tiêu công Việt Nam: Chính sách tài khóa hướng tới bền vững, hiệu quả, công bằng do World Bank xuất bản năm 2017. Theo đó, Việt Nam được đánh giá là đã đạt những thành tựu nhất định sau cải cách bắt đầu từ năm 1986, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, ngân sách nhà nước đang phải đối mặt với những thách thức lớn trong bối cảnh dư địa tài khóa bị thu hẹp do thời gian trả nợ gốc các khoản vay ODA và các khoản vay khác trong quá khứ đã đến hạn đồng thời Việt Nam cũng không còn được nhận những khoản vay với lãi suất ưu đãi như trước kia. Bên cạnh đó, dưới góc độ hiệu quả thì tính kỷ luật tài khóa, hiệu suất phân bổ và sử dụng, chất lượng dự toán ngân sách đầu tư công còn chưa cao. Vốn đầu tư hiện đang bị dàn trải ở quá nhiều dự án nên việc phân bổ hàng năm chỉ đảm bảo một phần tổng mức đầu tư của dự án, gây ra chậm trễ và vượt dự toán. Hàng năm, có hàng vạn dự án được phê duyệt với quy mô bình quân tương đối nhỏ. Việc phê duyệt dự án nhiều khi không phù hợp với khả năng nguồn vốn…Báo cáo có giá trị cung cấp thông tin chính xác và trung lập về tình hình ngân sách nhà nước của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là các số liệu và các đánh giá liên quan đến cung cấp dịch vụ công và đầu tư công. Các kết luận cho thấy khả năng rất lớn, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tích cực thu hút nguồn vốn trong nước cho lĩnh vực đầu tư công và cung cấp các dịch vụ công cộng. Để đảm bảo tính hiệu quả cũng như mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan thì nhu cầu về thiết kế và ghi nhận quyền tham gia của người dân trong quy trình ngân sách là rất cần thiết. Báo cáo tổng quan này vì thế không chỉ cung cấp số liệu và thực trạng ngân sách nhà nước của Việt Nam như đã trình bày ở trên, mà còn cho thấy nhu cầu thật sự và 

cần thiết của sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. 

Báo cáo tổng quan Việt Nam năng động:Tạo nền tảng cho một nền kinh tế 

thu nhập cao do World Bank xuất bản tháng 5 năm 2020 với mục đích đưa ra những định hướng cho Việt Nam đang có khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Dựa trên nền tảng lý thuyết về quản lý tài sản quốc gia, theo đó, sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào cách quản lý các danh mục tài sản gồm: vốn sản xuất, vốn vật chất, vốn nhân lực, vốn tự nhiên trên nền tảng của khung thể chế phù hợp và hiệu quả. Báo cáo đã phân tích và đánh giá đồng thời 4 nhóm tài sản quốc gia với khung thể chế tương ứng, qua đó cho thấy hiệu quả và năng suất của tất cả các lĩnh vực đều cần được cải thiện. Liên quan đến Luận án, bản Báo cáo đã cung cấp các minh chứng cần thiết về tính hiệu quả của việc sử dụng và quản lý vốn vật chất (đầu tư cơ sở hạ tầng) và vốn nhân lực (giáo dục) từ ngân sách nhà nước. Theo đó, mặc dù đã sử dụng nguồn vốn cao hơn so với mặt bằng chung trên thế giới và tổng ngân sách quốc gia nhưng đầu tư cho cơ sở hạ tầng hiện nay chưa mang lại hiệu quả do chất lượng pháp lý liên quan đến đấu thầu và trách nhiệm của chính quyền địa phương. Đối với giáo dục, học phí thay vì được ngân sách hỗ trợ đã dồn lên vai người học đặc biệt là sinh viên đại học khiến cơ hội tiếp cận dịch vụ công trở nên hạn chế đối với những tầng lớp yếu thế. Cùng bối cảnh này, khi so sánh các chỉ số về quản trị Việt Nam đang đứng sau cùng so với các nước khác ở Đông Á khi không có xếp hạng tốt trong hầu hết các khía cạnh quản trị, đặc biệt là về kiểm soát tham nhũng, chất lượng pháp lý, tiếng nói người dân và trách nhiệm giải trình. Mối quan hệ tương quan giữa quản trị kém với hiệu quả và năng suất thấp trong các lĩnh vực công từ lâu đã được chứng minh trong các tài liệu và thực tế và Báo cáo có giá trị tham khảo trong quá trình Luận án thực hiện đánh giá tính hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. 

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên cho thấy, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước vẫn còn tồn tại những vấn đề như: Trong quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam, hiện chưa có định nghĩa cụ thể về sự tham gia của người dân, những nội dung liên quan đến sự tham gia như: hình thức tham gia; mức độ tham gia; phạm vi tham gia…được bao trùm bởi khái niệm về dân chủ cơ sở. Các quy định pháp luật về sự tham gia của người dân đã được quy định trong Hiến pháp các thời kỳ và gần đây, trong một số lĩnh vực nhưng còn phân tán, chưa có sự thống nhất. Trong hệ thống tài liệu, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, phần lớn dừng lại ở các nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong quản lý nhà nước hay các quy trình chính sách công. 

1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 

Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài liên quan đến hướng nghiên cứu của Luận án. NCS đưa ra một số đánh giá sau đây: 

1.1.3.1. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được 

Các công trình nghiên cứu của cộng đồng học giả nước ngoài đã xây dựng nền móng vững chắc về lý luận và thực tiễn liên quan đến sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. Những thành tựu này được kế thừa trong Luận án gồm: 

  • Thứ nhất, khái niệm về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, những đặc trưng của nó so với sự tham gia trong các quy trình chính sách công khác.
  • Thứ hai, lịch sử phát triển và các tác nhân thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách trong những năm gần đây.
  • Thứ ba, mức độ, hình thức, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước.
  • Thứ tư, các giá trị sẽ đạt được khi áp dụng sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước.
  • Thứ năm, một số ưu điểm và hạn chế khi áp dụng nguyên tắc tham gia nếu không dựa vào các nhân tố như: môi trường thể chế; thiết kế quy trình; các cơ chế tham gia; các mục tiêu và kết quả.

Đối với nghiên cứu của của học giả trong nước, các công trình đã cung cấp tài liệu về sự tham gia của người dân trong các lĩnh vực công, đặc biệt là sự tham gia của người dân khi nhà nước cung cấp một số dịch vụ công nhất định. Quan điểm của Đảng về sự tham gia của người dân cũng được nghiên cứu khá sâu sắc dựa trên cơ sở lý thuyết về dân chủ XHCN. 

1.1.3.2. Những vấn đề còn bỏ ngỏ và nhiệm vụ của Luận án 

Qua đánh giá tổng quan tài liệu nghiên cứu, có thể phát hiện thấy một số vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được bàn đến nhưng chưa đầy đủ liên quan đến đề tài Luận án, bao gồm các nhóm vấn đề sau: 

Đối với các nghiên cứu ở nước ngoài: Hiện nay, sự tham gia ngân sách của người dân đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong thực tế, với nhiều kinh nghiệm thành công như các ví dụ tại Hàn Quốc hoặc Brazil. Theo góc nhìn của các tổ chức quốc tế, sự tham gia là nguyên tắc quản trị quốc gia tốt, kỳ vọng trở thành 

“liều thuốc trị bách bệnh” trong quản trị khu vực công. 

Về cơ bản, các giá trị khi áp dụng nguyên tắc tham gia ngân sách của người dân đã được chứng minh và không còn nhiều bàn cãi trên các diễn đàn học thuật như phân bổ công bằng dịch vụ công; tăng cường dân chủ; thúc đẩy kinh tế phát triển... Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, việc áp dụng sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách cần phải tính đến sự ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau, như thể chế; mục tiêu áp dụng; thiết kế quy trình …vì vậy, khi tham khảo hoặc quyết định áp dụng cần cân nhắc và nghiên cứu thận trọng bởi việc đưa ra một công thức chung về sự tham gia của người dân để áp dụng cho tất cả các quốc gia với các bản sắc và đặc thù chính trị, xã hội khác nhau là không chính xác và cũng không mang lại hiệu quả. 

Đối với các công trình nghiên cứu ở Việt Nam: 

  • Thứ nhất, hiện chưa có đề tài nào trùng lặp với đề tài của Luận án. Đã có một số nghiên cứu về sự tham gia ngân sách của người dân nhưng chưa được khái quát

và hệ thống đầy đủ. 

  • Thứ hai, sự tham gia của người dân Việt Nam vào quy trình ngân sách chưa được hệ thống dưới góc độ lịch sử pháp lý.
  • Thứ ba, đánh giá tính hiệu quả các quy định về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam chưa được thực hiện trong cộng đồng nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Thứ tư, chưa có những gợi ý chính sách có tính hệ thống, giải pháp hoàn thiện một cách tổng thể, dự báo xu hướng phát triển về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách trong bối cảnh mới.

Luận án sẽ được thực hiện theo hướng chọn lọc và kế thừa các công trình đã được công bố, bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu những vấn đề hiện đang còn bỏ ngỏ nhằm làm rõ khung lý thuyết và thực tiễn sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. Từ đó, đưa ra những gợi mở chính sách với mục đích hoàn thiện hệ quy định pháp luật về quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. 

1.2. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 

1.2.1. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 

1.2.1.1. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước được quy định và tổ chức thực hiện như thế nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam? 

Để giải quyết câu hỏi trọng tâm đó, Luận án lần lượt làm sáng tỏ những nội dung sau: 

  • Một là, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước là gì và tại sao người dân lại phải tham gia vào quy trình đó?
  • Hai là, từ kinh nghiệm quốc tế có thể xác định cơ chế tham gia trực tiếp của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước hiệu quả như thế nào?
  • Ba là, pháp luật Việt Nam quy định và tổ chức thực hiện như thế nào về quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước?
  • Bốn là, pháp luật Việt Nam có những tồn tại, hạn chế gì cần được cải thiện để thúc đẩy sự tham gia hiệu quả của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam?

1.2.1.2. Giả thuyết nghiên cứu 

Luận án được thực hiện dựa trên các giả thuyết khoa học sau đây: 

  • Thứ nhất, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách là quyền cơ bản của con người, đồng thời là công cụ quản trị ngân sách nhà nước hiệu quả.
  • Thứ hai, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt

Nam chịu sự ảnh hưởng từ sự định hướng và lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam về định dạng và mức độ tham gia. 

  • Thứ ba, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước nhưng ở mức độ thấp, chưa phù hợp giữa nội dung và hình thức tham gia.
  • Thứ tư, hiệu quả tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là vào sự lãnh đạo của Đảng và thể chế pháp lý.

1.2.2. Kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của Luận án 

Luận án có những kết quả và đóng góp cơ bản sau đây cho khoa học pháp lý: 

  • Thứ nhất, Luận án là một công trình khoa học độc lập, đánh giá được các nghiên cứu của các tác giả trong với phạm vi trong nước và quốc tế liên quan đến quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. 
  • Thứ hai, Luận án xác định được sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các quy định pháp luật của Việt Nam về quyền tham gia cả người dân vào quy trình ngân sách nhà nước từ định hướng của ĐCSVN.
  • Thứ ba, Luận án xác định được đặc trưng quyền tham gia ngân sách nhà nước ở Việt Nam được định danh là là hình thức dân chủ xã hội chủ nghĩa, đề cao tính

tập thể, người dân được khuyến khích tham gia trong một tổ chức của nhà nước. 

  • Thứ ba, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam ngày càng có sự tương thích với thông lệ quốc tế về hình thức, tuy nhiên, về bản chất, mức độ tham gia của người dân vào lĩnh vực này còn thấp vì quy định pháp luật bị phân mảng, chưa được thiết kế phù hợp.
  • Thứ tư, Luận án xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân và từ cơ sở này, Luận án đưa ra một số khuyến nghị cải thiện và thúc đẩy sự phát triển quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 

1.2.3. Lý thuyết nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở của các lý thuyết, học thuyết pháp lý sau đây: 

1.2.3.1. Lý thuyết cấy ghép pháp luật

Lý thuyết này đi từ thuật ngữ “legal transplant” và được hiểu là sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài của một quốc gia một cách chủ động hoặc thụ động trong quá trình xây dựng pháp luật. Việc dịch chuyển hay khuếch tán pháp luật được phát triển và chịu sự ảnh hưởng của các nhà nghiên cứu pháp lý phương tây như Alan Watson với các tác phẩm như Legal Transplants: An Approach to Comparative Law xuất bản năm 1974; Society and Legal Change 1977 và Legal Transplants and Legal Reform xuất bản năm 1991; và nhà nghiên cứu Otto Kahn-Freund với tác phẩm On use and misuse of comparative Law và The modern law review xuất bản năm 1974. 

Theo đó, các tác giả cho rằng, pháp luật của một quốc gia có thể dễ dàng được tiếp nhận bởi một quốc gia khác mặc dù không có nhiều sự tương đồng. Tuy nhiên, việc tiếp nhận pháp lý này là một hoạt động mang tính thận trọng và cần cân nhắc bởi các nền tảng truyền thống văn hóa, lịch sử, kinh tế khi cấy ghép pháp luật. 

Tại Việt Nam, lý thuyết về cấy ghép pháp luật được sử dụng bằng thuật ngữ 

“tiếp nhận pháp luật nước ngoài[1]” (Đào Trí Úc và Lê Minh Thông, 1999); (Phạm Duy Nghĩa, 2002). Theo đó, các học giả đồng thuận rằng, Việt Nam là một quốc gia chuyển đổi và hệ thống pháp luật được xây dựng trên nhiều lớp luật (Bùi Ngọc Sơn)[2], việc tiếp nhận pháp luật lúc mang tính cưỡng chế như ở thời kỳ nhà nước phong kiến và thực dân đô hộ nhưng cũng có những thời điểm, việc tiếp nhận pháp luật mang tính chủ động như Việt Nam sau thời kỳ Đổi Mới, bắt đầu từ 1986 cho đến nay. Ban đầu là để khuyến khích khu vực tư nhân phát triển và để thúc đẩy mục tiêu này đạt đích, hàng loạt các quy định pháp luật ghi nhận quyền sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, bình đẳng của các thành phần kinh tế tư nhân …của nước ngoài đã được Việt Nam tiếp nhận. 

Bên cạnh những thành tựu này, một kết quả gián tiếp cũng được thấy xuất hiện ở Việt Nam, đó là sự chuyển đổi khá nhanh ở khu vực công. Từ những quy định pháp luật nước ngoài được tiếp nhận phục vụ phát triển kinh tế tư nhân, dần dà, đã tác động và chuyển đổi thể chế pháp lý khu vực công, theo đó, việc tiếp nhận các tư tưởng về nhà nước trong mối quan hệ với người dân được nhìn nhận và đánh giá lại, Việt Nam đã tiếp nhận cấu trúc pháp lý nhà nước pháp quyền trên nền tảng thể chế xã hội chủ nghĩa thể hiện bắt đầu trong Hiến pháp (2001), động thái này bắt đầu cho việc tiếp nhận các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước và người dân ngày càng rộng hơn về phạm vi và nội hàm. Đó là, trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch là nghĩa vụ của nhà nước và trở thành các nguyên tắc trong xây dựng và hoạt động của bộ máy nhà nước. Người dân với các quyền con người và quyền công dân lần đầu được ghi nhận riêng biệt, đặc biệt là Hiến pháp 2013 được coi là bản Hiến pháp với các quyền con người và quyền công dân được quy định ở phạm vi rộng nhất trong lịch sử lập hiến của Việt Nam. 

Từ Hiến pháp, các quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân Việt Nam bắt đầu được thể chế vào các ngành luật độc lập, ngay cả với Luật ngân sách nhà nước, khu vực vốn được coi là không gian riêng của nhà nước, năm 2015, Luật Ngân sách Nhà nước cũng đã bắt đầu mở lối, mặc dù còn là khung cửa hẹp nhưng việc cho rằng ngân sách nhà nước được giám sát bởi cộng đồng (Điều 16 Luật Ngân sách 2015) cũng đã cho thấy sự chuyển biến và tiếp nhận pháp luật nước ngoài thực sự đã hiện diện ở Việt Nam. 

1.2.3.2. Lý thuyết về sở hữu và điều hành

Lý thuyết về sở hữu và điều được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính công truyền thống và hiện đại. Theo đó, giữa nhà nước và người dân có mối quan hệ đặc biệt, trong đó, nhà nước tồn tại và vận hành dựa trên nguồn lực được đóng góp và nuôi dưỡng thông qua các khoản thuế, phí và lệ phí..của người dân. Vì thế, người dân chính là chủ sở hữu thực thụ của ngân sách nhà nước và các nguồn lực công khác. 

Tuy nhiên, do đặc trưng xuất phát từ vai trò và chức năng của nhà nước, mà người dân sẽ không trực tiếp quản lý và sử dụng nguồn lực công, quá trình này được ủy quyền cho nhà nước. Chủ sở hữu thực sự nhưng không sử dụng, quản lý và vận hành tài sản của mình, đây chính là đặc trưng và cũng là cách thức vận hành phổ biến nhất trên thế giới đối với nguồn ngân sách của các nhà nước. 

Để đảm bảo rằng tài sản công được sử dụng hiệu quả, các cơ chế quản lý được thiết kế nhưng hiệu quả nhất vẫn là các quy định pháp luật. Ở đó, nhà nước sử dụng và quản lý ngân sách, người dân, với tư cách là chủ sở hữu có quyền giám sát, theo dõi và tham gia nhằm đảm bảo rằng nguồn lực được sử dụng đúng đắn. 

Lý thuyết về sở hữu điều hành là cơ sở để khẳng định rằng, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước không chỉ là quyền con người cơ bản, nó còn xuất phát từ mối quan hệ chủ sở hữu với người điều hành, vì thế, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách không còn là vấn đề cần tranh biện, thậm chí, khi các cơ chế đại diện không phản ánh đúng nguyện vọng và nhu cầu thực sự của cử tri, người dân có quyền tự mình tham gia trực tiếp vào quy trình ngân sách nhà nước, đặc biệt là với các hoạt động phân bổ ngân sách cho các mục đích cung cấp dịch vụ để gây ảnh hưởng và ra quyết định phân bổ nguồn lực công này cho phù hợp với những nhu cầu thiết thực mà người dân/chủ sở hữu thực thụ đang thực sự cần thiết. 

1.2.3.3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng. 

Lý thuyết này được Akerlof (1970) giới thiệu, theo đó, thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ và tốt hơn so với (các) bên còn lại. Bất cân xứng thông tin là tình trạng phổ biến trong xã hội và có thể diễn ra trong mối quan hệ giữa nhà nước với người dân. Theo đó, nhà nước được người dân ủy quyền quản lý, ví dụ như quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước. Mối quan hệ giữa chủ sở hữu ngân sách nhà nước (người dân) với người thừa hành (nhà nước) mang tính đặc biệt như đã trình bày ở trên nên nhà nước có nhiều lợi thế về thông tin hơn có thể dẫn đến hậu quả là người được ủy quyền (nhà nước) vượt quá thẩm quyền hoặc vi phạm các các cam kết (quy định pháp luật ngân sách nhà nước). Vì vây, để hạn chế và loại trừ các rủi do này lựa chọn ủng hộ và ghi nhận quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước vì người dân là chủ sở hữu nên tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước là quyền của người dân, hơn nữa, kiểm soát tham nhũng, tăng cường ủng hộ nhà nước, phân bổ công bằng dịch vụ công đã được kiểm chứng bằng các nghiên cứu lý và các nghiên cứu thực địa trên thế giới. 

1.2.4. Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên khung khổ lý thuyết ở trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả lựa chọn và kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: 

Phương pháp lịch sử: nghiên cứu lịch sử phát triển quyền tham gia ngân sách nhà nước trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt từ thời điểm Đổi Mới cho đến nay. 

Phương pháp thống kê, mô tả: để tập hợp các tài liệu nghiên cứu về quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước nhằm xác định tình hình nghiên cứu quốc tế và Việt Nam. 

Sử dụng phương pháp phân tích luật viết trong toàn bộ Luận án làm sáng tỏ các nội dung từ các quy định pháp luật về sự tham gia của người dân, từ đó, Luận án cho thấy các hình thức và mức độ tham gia ngân sách của người dân theo quy định của pháp luật Việt Nam. 

Phương pháp tổng hợp: với mục đích tập hợp văn bản và quy phạm pháp luật liên quan đến quyền tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước của người dân ở Chương III nhằm đánh giá tính hiệu quả của các quy phạm pháp luật. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 

Qua khảo cứu tổng quan lý thuyết tại Chương 1, có thể thấy rằng, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước là một chủ đề được nghiên cứu có hệ thống và tương đối đầy đủ trong cộng đồng nghiên cứu trên thế giới. Những vấn đề lý luận như khái niệm, bản chất, đặc điểm; các mức độ và hình thức tham gia; vai trò và các giá trị mà sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước đã được chứng minh và nhận được sự đồng thuận rộng rãi. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam một cách đầy đủ dựa trên bối cảnh chính trị đặc thù của Việt Nam. 

Tại Việt Nam, nghiên cứu của các học giả trong nước, chủ yếu tập trung vào sự tham gia của người dân trong lĩnh vực công. Sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước hầu như không có nghiên cứu nào đầy đủ và hệ thống. Một giả thiết được đặt ra là, gần đây, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách mới được quy định trong pháp luật chuyên ngành, không cởi mở đón nhận vai trò của người dân trong lĩnh vực này là quan điểm trước đây của nhà nước, việc cố gắng tiếp cận đối với những thông tin ngân sách chưa được công bố, người dân có thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý trước nhà nước đã từng là một quy định bắt buộc. Có thể đây cũng là lý do, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống tại Việt Nam. Từ những vấn đề còn bỏ ngỏ ở trên, Luận án xác định các nhiệm vụ trọng tâm gồm: 

  • Thứ nhất, Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý thuyết về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách, đó là: khái niệm và bản chất, các đặc trưng và vai trò, các hình thức và mức độ, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước.
  • Thứ hai, Luận án góp phần xây dựng các quan niệm đầy đủ về sự tham gia của người dân nói chung và vào quy trình ngân sách nói riêng, và thể chế hóa chúng trong quy định của pháp luật. Các hình thức, mức độ và phạm vi tham gia theo quy định hiện hành được xem như một hình thức thực hiện dân chủ cơ sở. Luận

án có nhiệm vụ làm rõ các đặc thù của sự tham gia của người dân tùy theo ở Việt Nam. 

  • Thứ ba, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước được cho là đã có dấu hiệu manh nha từ khá sớm trong lịch sử pháp luật Việt Nam và được thúc đẩy mạnh mẽ từ thời kỳ Đổi Mới. Luận án sẽ góp phần phân tích quy định của pháp luật và đánh giá việc tổ chức thực hiện quá trình này.
  • Thứ tư, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào cả trong và ngoài nước nghiên cứu có hệ thống về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, do đó, đánh giá tính hiệu quả, các giá trị mà sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước mang lại, cũng như các gợi ý về chính sách, các dự báo phát triển sự tham gia của người dân vào quy trình nghiên cứu cũng  là một nội dung mà Luận án hướng tới để giải quyết.


 

[1] Các nhà nghiên cứu ở VN nghiên cứu về cấy ghép pháp luật gồm có: (1) Đào Trí Úc, Lê Minh Thông. Sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương Đông và phương Tây đối với sự phát triển các tư tưởng pháp lý Việt Nam, xuất bản trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tháng 5/1999, tr. 3-16; (2)  Phạm Duy Nghĩa với bài viết: Tiếp nhận pháp luật nước ngoài-Thời cơ và thách thức mới cho nghiên cứu lập pháp, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2002, tr. 50-57; (3) Trần Ngọc Đường, Nhu cầu và thực tiễn tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam hiện nay và (4) Bùi Xuân Hải, Tiếp nhận pháp luật nước ngoài, lý thuyết và thực tiễn trong pháp luật công ty của Việt Nam 

(https://phapluatdansu.edu.vn/2007/09/17/10/50/12423/ ( truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2021). 

[2] Bui Ngoc Son, 2017, The Law of China and Vietnam in Comparative Law, Fordham International Law 

Journal 

avatar
Vương Diệu Hồng
1085 ngày trước
Tổng quan tình hình nghiên cứu nghiên cứu về khái niệm sự tham gia của người dân và sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước
 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về khái niệm sự tham gia của người dân và sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu quốc tế tiêu biểu, có giá trị liên quan đến sự tham gia của người dân trong quy trình ngân sách. Năm 2008, Liên Hiệp Quốc (LHQ) xuất bản cuốn sách Participatory Governance and the Millennium Development Goal (MDGs). Nội dung chính đề cập tới vấn đề quản trị tốt trong đó có sự tham gia của người dân. Xuất phát từ nhu cầu xác định lại mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân như là một nhân tố thành công của quá trình phát triển bền vững và cung cấp một nền tảng với các vấn đề thích hợp liên quan giữa quản trị và sự tham gia. Phạm vi nghiên cứu là mối quan hệ giữa chính quyền với khu vực tư nhân trong quá trình phân bổ các nguồn lực công. Các tác giả cho rằng sự tham gia có hai giá trị, thứ nhất, sự tham gia của người dân là quyền con người cơ bản, thứ hai, quyền tham gia được sử dụng như là một công cụ quản trị nhà nước hiệu quả. Theo góc độ thứ nhất, bản chất cốt lõi của sự tham gia xuất phát từ quyền tự do tham gia vào các lĩnh vực công là một trong những quyền cơ bản của con người, tương tự như quyền được tự do chính trị, kinh tế. Dưới góc độ coi sự tham gia như là một phương thức quản trị, quyền tham gia được coi là một phương tiện để các chủ thể tham gia gây ảnh hưởng, tác động đến quy trình nhằm đạt được các kết quả có giá trị. Khi phân bổ nguồn lực công, lĩnh vực có đặc tính là tính sở hữu chung nên các hoạt động như phân bổ, sử dụng, giám sát…phải thông qua cơ chế đại diện, do đó, sự tham gia trở thành một công cụ hữu hiệu để tránh các quyết định quan liêu, không hiệu quả. Nội dung của cuốn sách có ý nghĩa rất lớn trong quá trình định hướng và phát triển của Luận án, đặc biệt khi khai thác để hoàn thiện Chương 2 của Luận án. Sách Accountability, Transparency, Participation and Inclusuon. A New Development Consensus? được viết bởi Thomas Carothers và Saskia Brechenmacher, xuất bản bởi tổ chức Carnegie Endowment For International Peace năm 2014. Nội dung chính của cuốn sách trình bày các nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và hòa nhập, được phát triển và áp dụng bởi các tổ chức viện trợ phát triển quốc tế như UNDP, IMF, OECD, USAID. Cuốn sách này chỉ ra rằng, về mặt lý thuyết, nội dung của các nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và hòa nhập có những giá trị logic và tốt đẹp. Đó là những cách thức cơ bản để tôn trọng phẩm giá con người và quyền tự chủ của cá nhân. Đây là phương thức gần như duy nhất để bất kỳ ai cũng có thể đưa ra phản đối hoặc ủng hộ đối với các hoạt động của nhà nước nhằm đạt được trách nhiệm giải trình cao hơn. Đây cũng là phương thức để các cơ quan nhà nước minh bạch hơn trong việc xử lý tài chính công, sự tham gia tích cực của người dân vào các quá trình phát triển có ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ trong đó có cả việc trao quyền cho các nhóm yếu thế về đời sống kinh tế và xã hội. Theo các tác giả, các nguyên tắc trong đó có sự tham gia đã vượt lên trên những tranh luận ngày càng gay gắt trên khắp thế giới về giá trị của nền dân chủ tự do và liệu nó có phải là hệ thống chính trị hiệu quả nhất và đáng mơ ước cho mọi quốc gia hay không? Các tác giả cũng thừa nhận sự tham gia có giá trị nội tại là quyền cơ bản của con người nhưng đồng thời nó cũng là công cụ và phương tiện trong quản trị khi nhận định “Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình quản trị ở cấp địa phương và quốc gia sẽ cung cấp cho các cơ quan này thông tin đầu vào trực tiếp về cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân và đưa thêm thông tin về những bất cập, kém hiệu quả vào các quá trình ra quyết định”. Sách này có giá trị tham khảo cho Luận án khi cung cấp các minh chứng về bối cảnh phát triển của nguyên tắc tham gia cũng như vai trò tích cực của nó dưới góc độ quản trị, thúc đẩy dân chủ, nội dung này sẽ được trình bày tại Chương 2, ngoài ra, với các kết luận trong bài nguyên cứu đã một lần nữa khẳng định áp dụng nguyên tắc tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam là cần thiết và sẽ được trình bày trong phần khuyến nghị của Luận án. Bài nghiên cứu Participation and Development: Perspectives from the Comprehensive Development Paradigm của tác giả Joseph E. Stiglitz đăng trên tạp chí Review of Development Economics năm 2002. Theo Stiglitz, trong bối cảnh sụp đổ của hệ thống XHCN, khoa học công nghệ phát triển và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ. Các quốc gia chuyển đổi thay thế mô hình phát triển tập trung bằng mô hình phát triển toàn diện. Theo đó, công dân tham gia vào quá trình lên ý tưởng và quyết định tới các chính sách phát triển. Sự tham gia được ví như chìa khóa thành công cho các chính sách phát triển toàn diện, theo tác giả, sự tham gia không chỉ đơn giản là bỏ phiếu. Các quy trình có sự tham gia phải đòi hỏi đối thoại cởi mở và sự tham gia tích cực của người dân và nó yêu cầu các cá nhân có tiếng nói trong các quyết định ảnh hưởng đến họ. Bài viết đã trình bày về bối cảnh phát triển nguyên tắc tham gia của các quốc gia chuyển đổi và chứng minh tác động của nguyên tắc này mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, các dự án, quản trị xã hội và bền vững chính trị. Các nội dung này có giá trị tham khảo cho Luận án khi trình bày về vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc tham gia trong Chương 1 của Luận án. Công trình nghiên cứu của World Bank (WB) Participatory Budgeting xuất bản năm 2007. Theo quan điểm của WB, lập ngân sách có sự tham gia đã được sử dụng như một công cụ quả trị trên toàn cầu. Khi tham gia lập ngân sách, người dân sẽ hiểu biết hơn tới các hoạt động vốn thuộc chức năng của chính phủ, đồng thời, tiếng nói của họ có thể ảnh hưởng tới các chính sách của chính phủ, ngoài ra, sự tham gia cũng là sợi dây liên kết nhằm giúp các chính phủ phải chịu trách nhiệm với những cam kết và trách nhiệm của mình. Cuốn sách với các công trình nghiên cứu đã phân tích các giá trị cũng như những nhược điểm khi áp dụng thực hành ngân sách có sự tham gia trên khắp thế giới nhằm cung cấp những chỉ dẫn và gợi ý tốt nhất cho các nhà quản lý. Tài liệu quan trọng này có giá trị tham khảo hữu ích cho Luận án, các nghiên cứu thực hành về ngân sách có sự tham gia trên toàn cầu đã góp phần khẳng định về sự cần thiết phải áp dụng sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước là hoàn toàn đúng đắn với yêu cầu của thực tiễn tại Việt Nam. Nghiên cứu Introduction to Participatory Budgeting của tác giả Brian Walmper, đây là một chương trong cuốn sách Participatory Budgeting được WB xuất bản năm 2007. Theo Walmper, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước được định nghĩa là một quá trình ra quyết định, qua đó công dân cân nhắc và thương lượng về việc phân bổ các nguồn lực công. Cơ sở nền tảng cho sự phát triển của nguyên tắc tham gia là hỗ trợ của nhánh hành pháp; sự sẵn có của các tổ chức dân sự; môi trường chính trị sẵn sàng và ủng hộ; nguồn lực tài chính để người tham gia lựa chọn dự án. Mặc dù với các địa phương khác nhau và với các chương trình tham gia ngân sách khác nhau nhưng tác giả đã đưa ra những nguyên lý chung khi áp dụng nguyên tắc tham gia trong quy trình ngân sách nhà nước. Liên quan đến Luận án, công trình này đã cung cấp những hướng dẫn cụ thể khi áp dụng nguyên tắc tham gia trên thực tế. Các minh chứng thực nghiệm trong bài viết đã cho thấy sự tham gia vào ngân sách nhà nước đã được áp dụng từ rất lâu trên thế giới và đạt được những thành tựu quan trọng như giáo dục và trao quyền cho công dân, thúc đẩy công bằng xã hội…Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả, sự tham gia cũng có những hạn chế và việc áp dụng chúng cần phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường chính trị, lịch sử quản trị, cấu trúc dân cư … 1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước Sách The Impacts of Fiscal Openness do Paolo de Renzio và Joachim Wehner nghiên cứu, xuất bản bởi NXB Đại học Oxford năm 2017. Bài nghiên cứu tổng hợp 38 nghiên cứu thực nghiệm được xuất bản từ năm 1991 đến đầu năm 2015, gồm các tài liệu làm việc của IMF, WB và một số tác giả, tổ chức khác đã đóng góp đáng kể vào cuộc tranh luận lớn liên quan hoặc thường xuyên được trích dẫn trong các nghiên cứu nhằm hệ thống và đánh giá các bằng chứng đã được công bố về tác động của tính minh bạch và sự tham gia tới ngân sách nhà nước. Mục đích làm rõ tác động của 2 yếu tố này có mối quan hệ nhân quả với giảm thiểu tham nhũng, nâng cao trách nhiệm giải trình trong bầu cử và cải thiện phân bổ nguồn lực hay không? Theo đó, sự tham gia được nghiên cứu và đánh giá dưới hai góc độ. Thứ nhất, sự tham gia là công cụ chính, tức là người dân trực tiếp tham gia. Thứ hai là sự tham gia dưới các hình thức khác như khảo sát công dân; công dân bỏ phiếu về các ưu tiên ngân sách. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, lấy sự minh bạch và sự tham gia là biến độc lập với 4 biến phụ thuộc gồm: (a) hiệu quả của ngân sách, (b) phân bổ và cung cấp dịch vụ, (c) quản trị - tham nhũng và trách nhiệm chính trị đến việc huy động công dân và (d) kết quả phát triển - các kết quả trong các lĩnh vực như y tế và giáo dục. Qua đánh giá, sự tham gia hoặc với các cơ chế khác nhau của sự tham gia có mối tương quan với phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ, nó làm tăng tỷ trọng chi tiêu dành riêng cho các lĩnh vực xã hội - nhiều hơn so với những nơi mà các tổ chức có sự tham gia chưa được thành lập - và cải thiện hiệu suất hoàn thành dự án, hoặc sự gia tăng trong các chương trình y tế và giáo dục, dự án phù hợp và đáp ứng nhu cầu địa phương hơn, nhiều nhóm thiệt thòi có nhiều khả năng tham dự hơn những người từ các nhóm khác và những cuộc họp này dường như gắn liền với việc tiếp cận các nguồn lực và dịch vụ, ghi nhận ở mức độ hài lòng của dân làng, cải thiện số lượng và chất lượng của các dịch vụ nông nghiệp. Đối với biến phụ thuộc là quản trị - bao gồm tham nhũng và trách nhiệm chính trị có mối tương quan với cả hai biến độc lập là minh bạch ngân sách và sự tham gia của người dân. Sự tham gia có tác động đến hành vi tham nhũng, lập ngân sách có sự tham gia thúc đẩy hành động tập thể, huy động công dân và giám sát hành động của nhà nước. Kết quả phát triển - các kết quả trong các lĩnh vực như y tế và giáo dục. Sự tham gia cải thiện chỉ số sức khỏe, cải thiện mục tiêu của các chính sách và chi tiêu. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu này đã hệ thống và phân tích các bằng chứng gồm các bài nghiên cứu được công bố từ 1991 đến 2015. Kết quả cho thấy có mối tương quan giữa minh bạch và sự tham gia tới chất lượng ngân sách, phân bổ dịch vụ công, quản trị nhà nước và các lĩnh vực phát triển. Bài nghiên cứu The Rationalization of Public Budgeting in China: A Reflection on Participatory Budgeting in Wuxi do hai tác giả Y. Wu và K. Wang đăng trên tạp chí Public Finance and Management năm 2011. Các tác giả lựa chọn Vô tích ở tỉnh Tô Giang của Trung Quốc để tiến hành nghiên cứu do địa phương này thuộc quốc gia đang phát triển, Vô Tích đã phát triển một mô hình ngân sách có sự tham gia tương đối ổn định liên tục từ năm 2005, ngoài ra, vấn đề ngân sách có sự tham gia tại đây chưa từng được nghiên cứu đầy đủ. Ngân sách có sự tham gia ở Vô tích được thực hiện với quy trình gồm 4 bước: chuẩn bị dự án; lựa chọn dự án; triển khai dự án và đánh giá. Cơ quan nhà nước sẽ phụ trách mục tiêu, cách thức và lên kế hoạch sau đó kêu gọi sự tham gia của công chúng. Lựa chọn dự án nào do người dân quyết định theo kết quả bình chọn. Triển khai dự án dưới sự tư vấn và thẩm định của của cơ quan chuyên môn thuộc chính quyền, việc lựa chọn nhà thầu dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch và người dân giám sát quá trình thực hiện dự án. Giai đoạn cuối cùng là kiểm toán được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn như kiểm toán nhà nước.Dựa trên khung lý thuyết về (các nhân tố ảnh hưởng) tính liên quan (tác động của sự tham gia) tới 4 nhân tố gồm kinh tế; kỹ thuật; chính trị và pháp lý, nghiên cứu chỉ ra rằng ngân sách có sự tham gia ở Vô Tích có mối liên quan đến nâng cao phát triển kinh tế, kỹ thuật, tính hợp lý xã hội và chính trị nhưng không hợp lý về mặt pháp lý bởi không có một cơ chế pháp lý chính thức nào ghi nhận quá trình này tại Vô Tích. Nghiên cứu chỉ ra rằng, ngân sách có sự tham gia ở Vô Tích gặp những trở ngại bởi các nhân tố gồm: không thể chế hóa sự tham gia; chưa áp dụng các phương tiện và công nghệ hỗ trợ quá trình tham gia; các dự án có sự tham gia thường có quy mô nhỏ và thời gian thực hiện ngắn; đặc biệt, sự tham gia ở đây được thực hiện ở giai đoạn chấp hành ngân sách chứ không phải thời điểm thảo luận về ngân sách. Mặc dù người dân có thể lựa chọn dự án, tham gia thực hiện dự án, đánh giá dự án thông qua nhiều hình thức khác nhau nhưng một nội dung quan trọng thể hiện đúng bản chất của ngân sách có sự tham thì tại Vô Tích không có vì quyền lựa chọn ai là người đại diện cho dân cư đã không được thực hiện theo đúng bản chất của nguyên tắc tham gia. Đây là mấu chốt để xác định tham gia thực sự hay chỉ mang tính hình thức. Do vậy, sự tham gia của người dân tăng lên ở một mức độ nhất định về mặt hình thức nhưng hiệu quả của nó thực sự đã bị hệ thống Đảngnhà nước đương đại của Trung Quốc hạn chế. Tóm lại, theo các tác giả, sự tham gia có mối tương quan tới kinh tế, xã hội, chính trị và pháp lý. Cả 4 yếu tố này có mối liên hệ với nhau và tác động trở lại tới sự tham gia, chỉ một nhân tố không được thiết kế phù hợp với sự tham gia cũng có thể ảnh hưởng tới hiệu quả của sự tham gia. Bên cạnh đó, trao quyền lựa chọn đại diện dân cư chính là thể hiện tính dân chủ thực chất hay hình thức. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu của các tác giả là một trong những gợi ý quan trọng khi tác giả đề xuất áp dụng nguyên tắc này tại Việt Nam bởi  giữa Trung Quốc và Việt Nam có những mối tương đồng nhất định. Nghiên cứu Transparency, participation, and accountability practices in open government: A comparative study được thực hiện bởi Teresa M. Harrison và Djoko Sigit Sayogo, xuất bản trên tạp chí Government Information Quarterly năm 2014. Liên quan đến sự tham gia của cộng đồng vào ngân sách nhà nước, các tác giả đồng ý rằng hoạt động này là quan trọng nhất. Ngân sách phải được công khai, minh bạch, có sự tham gia và trách nhiệm giải trình vì nguồn gốc ngân sách được hình thành bằng sự đóng góp của cộng đồng và vì thế nó là tài sản công. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, mẫu nghiên cứu được lấy từ 98/100 quốc gia đã trả lời Khảo sát Ngân sách Mở năm 2012, với mục tiêu đặt ra gồm hai vấn đề: một là, khám phá các điều kiện văn hóa xã hội, chính trị, kinh tế và chính phủ ở cấp quốc gia (dân chủ; GDP; nguồn lực con người; công khai ngân sách; tham gia điện tử; cam kết chính phủ mở) có thể dự đoán tính minh bạch, tham gia và trách nhiệm giải trình ngân sách nhà nước hay không? Hai là, phân tích và đánh giá về sự khác biệt giữa minh bạch tài khóa, sự tham gia và trách nhiệm giải trình khi chúng liên quan đến chính phủ mở.  Liên quan điến Luận án, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, dân chủ là một yếu tố dự đoán tích cực đến minh mạch, sự tham gia và trách nhiệm giải trình ngân sách nhà nước; Sự tham gia của cộng đồng cùng với kiểm toán nhà nước có thể tác động tới công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ngân sách nhà nước. Bài viết Citizen Participation in Budgeting: A Trade-Off between Knowledge and Inclusiveness? của tác giả Sounman Hong Yonsei thuộc Trường Đại học South Korea trên tạp chí Public Administration Review năm 2015. Nghiên cứu đánh giá những tác động của mức độ hòa nhập/toàn diện được đo lường và khả năng hiểu biết của công dân tham gia trên hai chỉ số hiệu suất: sự tham gia của người dân và hiệu quả của quá trình, nhằm chứng minh và tìm đáp án về cho câu hỏi: liệu chính quyền có cần phải lựa chọn cơ chế đại diện thay vì khuyến khích số lượng lớn người tham gia và liệu số lượng lớn người tham gia có làm giảm hiệu quả của quá trình tham gia hay không? Sử dụng dữ liệu từ các quận tự trị của Seoul, đó là Seodaemun-gu, nơi mà chính quyền dành 1% ngân sách quận để người dân tham gia đề xuất các nhu cầu của mình chủ yếu tập trung phân bổ vào cho cơ sở hạ tầng đô thị. Tác giả sử dụng 2 biến độc lập là tính toàn diện (sự đại diện thích hợp của các nhóm khác nhau trong một xã hội) và sự hiểu biết (thể hiện đầy đủ các khía cạnh khác nhau của “kiến thức” cần thiết để ra quyết định, bao gồm kiến thức về chính sách, chuyên môn về ngân sách, kỹ năng kỹ thuật, số năm kinh nghiệm…) Các biến phụ thuộc: nhóm 1: mức độ tham gia và mức độ hiệu. Nhóm 2: liên quan đến môi trường quản lý và xã hội trong khoảng thời gian 2011–2014. Hầu hết dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập thông qua sáng kiến thông tin công khai của Hàn Quốc. Kết quả thu được như sau: thứ nhất, khả năng hiểu biết của người tham gia đóng góp một cách tích cực vào hiệu quả của quá trình có sự tham gia. Trung bình, các công dân tham gia càng hiểu biết nhiều hơn thì tỷ lệ các mục đề xuất cuối cùng được cơ quan lập pháp cấp huyện thông qua càng lớn. Thứ hai, mức độ hòa nhập phản ánh mức độ tương tác. Số lượng lớn hơn các công dân tham gia có liên quan tiêu cực với tỷ lệ tham gia trung bình của các công dân tham gia cũng như số lượng các mục được đề xuất trên mỗi công dân. Tuy nhiên, khả năng một đề xuất được cơ quan lập pháp thông qua sẽ cao hơn ở các khu vực có số lượng công dân tham gia nhiều hơn. Thứ ba, mức độ bao hàm có ý nghĩa tích cực trong quá trình thực hiện. Khả năng một mục đề xuất nhất định sẽ được cơ quan lập pháp thông qua sẽ cao hơn ở các quận có số lượng công dân tham gia nhiều hơn. Việc thiết kế quy trình hành chính cũng được cho là quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả của sự tham gia. Các nhà hoạch định chính sách cũng có thể dựa vào khả năng hiểu biết của người tham gia, vì kiến thức đầy đủ rất quan trọng để duy trì một quy trình ngân sách hiệu quả. Tác giả cũng gợi ý rằng công nghệ thông tin và truyền thông mới, chẳng hạn như mạng xã hội, có thể có tiềm năng cải thiện hơn nữa sự tham gia của cộng đồng nếu nó được thiết kế và quản lý phù hợp.  Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án khi cung cấp minh chứng thực nghiệm về sự tham gia của người dân với tính toàn diện và sự hiểu biết ngày càng cao có liên quan đến mức độ và chất lượng của các chương trình ngân sách có sự tham gia. Bài nghiên cứu Participatory Budgeting: Core Principles and Key Impacts của tác giả Brian Wampler, xuất bản năm 2012 trên tạp chí Journal of Public Deliberation. Tác giả dùng phương pháp phân tích và tổng hợp trên bối cảnh về sự tham gia ngân sách tại thành phố Porto Alegre của Brazil nơi có sự thay đổi lớn về chính trị của các quan chức chính phủ khi đã thiết kế lại cách thức đưa công dân vào các quá trình hoạch định chính sách của nhà nước, đặc biệt đối với lĩnh vực công. Nghiên cứu có hai nhiệm vụ là làm rõ các nguyên tắc của ngân sách có sự tham gia gồm: Tiếng nói; bỏ phiếu; giám sát; công bằng xã hội và phân tích sự tác động của 4 nguyên tắc này tới các yếu tố gồm: dân chủ hợp pháp; phúc lợi xã hội và xã hội dân sự. Khi áp dụng ngân sách có sự tham gia với 4 nhân tố như đã trình bày ở trên, tác giả đã chứng minh sự tác động này tới các vấn đề gồm dân chủ hợp pháp, xã hội dân sự và công bằng xã hội. Nguyên tắc sự tham gia trong ngân sách khắc phục được những hạn chế của dân chủ đại diện, tác động của ngân sách có sự tham gia đối với tính hợp pháp của dân chủ có tương quan trực tiếp với mức độ mà mỗi chương trình cụ thể tuân thủ bốn nguyên tắc. Ngân sách có sự tham gia tạo cơ hội phân bổ nguồn lực cho các loại dự án mới hoặc mở rộng các dự án/dịch vụ xã hội hiện có vào các cộng đồng mới. Lý do chính để thúc đẩy và hỗ trợ ngân sách có sự tham gia là người tham gia cung cấp phản hồi và hỗ trợ liên tục cho các cơ quan có thẩm quyền. Đổi lại, cơ quan nhà nước tăng cường hỗ trợ chính trị cho phép họ phân bổ lại các khoản tiền theo những cách mới. Như vậy, ngân sách có sự tham gia đã tác động để phân bổ công bằng hơn các dịch vụ công. Các thể chế có sự tham gia giúp công dân, đặc biệt là những người từ các cộng đồng nghèo, vượt qua các vấn đề cơ bản về hành động tập thể. Ngân sách có sự tham gia phụ thuộc vào việc xây dựng các liên minh tập thể, vì sự thành công của các chương trình phụ thuộc vào việc có một số lượng lớn công dân sẵn sàng tham gia mỗi năm. Theo thời gian, những người tham gia sẽ lớn hơn và có khả năng tổ chức các cuộc tranh luận và giáo dục những người tham gia mới sau này. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án khi tiếp cận tới các cơ chế và nguyên tắc của người dân khi tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước. Bài nghiên cứu Citizen Participation in Budgeting: Prospects for Developing Countries được thực hiện bởi Donal P. Moynihan, đây là một chương trong cuốn sách Participatory Budgeting được WB xuất bản năm 2007. Đối tượng nghiên cứu là sự tham gia của người dân trong quá trình lập ngân sách tại các quốc gia đang phát triển, với các nội dung chính, gồm: (1) Xem xét lý do tại sao sự tham gia lại quan trọng và đánh giá triển vọng tham gia vào môi trường nước đang phát triển. (2) Xác định các cách thúc đẩy sự tham gia rộng rãi và ý nghĩa vào các nước đang phát triển, cung cấp các ví dụ tham gia trong các giai đoạn khác nhau của quá trình ngân sách. (3) Quan điểm của các chính phủ đối với việc áp dụng nguyên tắc tham gia. Đối với nội dung thứ nhất, theo tác giả, cộng đồng nghiên cứu đồng thuận với lập luận rằng sự tham gia có vai trò như một phương tiện cải thiện và thúc đẩy quản trị ở các nước đang phát triển, nơi mà hiệu quả hoạt động và trách nhiệm giải trình của bộ máy hành chính đã lỗi thời, thiếu đại diện và hoạt động kém hiệu quả.  Đối với nội dung thứ hai, theo tác giả, quy trình ngân sách nhà nước có ba giai đoạn, gồm: Chuẩn bị và phân bổ nguồn lực; chấp hành ngân sách; đánh giá và đánh giá hiệu suất ngân sách. Và cả ba giai đoạn này đều có thể áp dụng nguyên tắc tham gia. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn, trên thực tế, các quốc gia áp dụng nguyên tắc tham gia dưới những hình thức khác nhau, ở các quốc gia, nơi mà cơ quan hành pháp giữ vị trí quyết định thì khả năng rất cao cơ quan lập pháp sẽ không kiên quyết hoặc bác bỏ hoàn toàn đề xuất của dự thảo dự toán, vì thế, sự tham gia của người dân ở giai đoạn này là rất quan trọng. Thực tế, ở giai đoạn đề xuất này, tại Brazil, người dân tham gia một cách trực tiếp từ khi tập hợp các đề xuất cho đến khi bỏ phiếu lựa chọn các dự án, hoặc áp dụng hội nghị công dân tại Washington, DC của Hoa kỳ hay giám sát ngân sách của NGO tại Nam Phi. Bằng cách này hay cách khác, sự tham gia đã mang lại những hiệu quả có thể đo lường ở nơi áp dụng sự tham gia của người dân. Đối với giai đoạn 2 của quy trình ngân sách nhà nước, sự tham gia được sử dụng dưới hình thức theo dõi chi tiêu hoặc khảo sát dân cư, sau đó sử dụng công cụ truyền thông để tác động tới quá trình sử dụng ngân sách, cách này cũng mang lại những kết quả và đã được ghi nhận tại Uganda và Ấn Độ.  Đối với giai đoạn cuối cùng, trên thực tế, một số nước đã dùng cách thức khảo sát sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công. Đối với nội dung cuối cùng, liên quan đến tác động của Chính phủ đối với sự tham gia, tác giả cho rằng, chủ thể này có nhân tố tác động rất lớn tới việc áp dụng thành công hay không nguyên tắc tham gia ở các quốc gia xuất phát từ vai trò và chức năng của chính phủ. Nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng cho Luận án, do đối tượng nghiên cứu là các quốc gia đang phát triển và Việt Nam có bối cảnh tương đồng. Đồng thời, các tác giả đã chỉ ra việc thiết kế quy trình và yếu tố thể chế trong đó cam kết và các quyết định của chính phủ ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của sự tham gia. Nghiên cứu Participatory Budgeting in Central and Eastern Europecủa Alta Fölscher, là một chương trong cuốn sách Participatory Budgeting được WB xuất bản năm 2007, nghiên cứu này lựa chọn các thành phố thuộc khu vực Trung và Đông Âu, gồm các quốc gia Albania, Armenia, Bulgaria, Moldova, Ba Lan, Romania, Liên bang Nga và Ukraine với đặc điểm tương đồng là thể chế xã hội chủ nghĩa nhưng sự tham gia trực tiếp vào ngân sách nhà nước đã được pháp luật ghi nhận nhưng còn yếu vì nhiều nguyên nhân, ví dụ công dân thụ động và không có thói quen tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước và xã hội; các tổ chức xã hội dân sự chưa có nền tảng vững chắc; chính quyền địa phương chưa đủ thẩm quyền tự chủ, chưa rõ ràng về chế độ tài khóa; mối quan hệ giữa chính quyền địa phương lỏng lẻo theo nghĩa người dân không quan tâm tới các vấn đề của chính quyền, ngay cả đối với những lĩnh vực liên quan đến đời sống của họ. Theo tác giả, các cơ quan phát triển và các tổ chức phi chính phủ quốc tế là những người khởi xướng các cơ chế lập ngân sách có sự tham gia ở khu vực này. Nghiên cứu trình bày khá cụ thể về bối cảnh áp dụng và phát triển nguyên tắc tham gia ở khu vực Trung và Đông Âu sau những năm 1980, đồng thời đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, vì thế có giá trị tham khảo cho Luận án khi nghiên cứu về lịch sử phát triển nguyên tắc tham gia.  Bài nghiên cứu: Building Local Democracy: Evaluating the Impact of Decentralization in Kerala, India của các tác giả Patrick Heller, K.N Harilal và Shubham Chaudshuri xuất bản năm 2007 bởi tạp chí Elsevier. Nghiên cứu lựa chọn địa phương thực nghiệm là Kerala của Ấn Độ. Năm 1993 Hiến pháp thứ 73 của nước này được thông qua đã khắc phục tình trạng dân chủ xuống cấp bằng cách trao cho các chính quyền địa phương đặc biệt là chính quyền nông thôn một số quyền hạn nhất định nhằm tăng tính tự chủ và có trách nhiệm hơn với công dân của họ. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng thu thập dữ liệu trực tiếp từ một mẫu gồm 72 Hội đồng địa phương (Panchayats) và phỏng vấn 858 người trả lời chính. Kết quả cho thấy rằng, quá trình cải cách bằng cách trao quyền tự chủ cho địa phương một cách rõ ràng bằng các quy định của pháp luật đã cho phép chính quyền địa phương áp dụng quản trị có sự tham gia của người dân. Panchayats đã chấp sự tham gia trở thành một yêu cầu cần xem xét khi ban hành chính sách, không phân biệt đó là dự án hay chương trình được đề xuất bởi các chính trị gia, quan chức hay công dân, tất cả đều được áp dụng quyền tham gia, không chỉ dùng hình thức tham vấn mà nhiều hình thức với nhiều cấp độ, đây chính là những nền tảng để thể chế hóa sự tham gia của cộng đồng ở Kerala. Theo các tác giả, để củng cố dân chủ, bước đầu tiên và cần thiết đó là thực hành dân chủ có sự tham gia. Sự tham gia làm tăng đáng kể tính hợp pháp của chính quyền địa phương dân chủ và mở rộng không gian chính trị cho các chính trị gia và người dân địa phương. Ngày nay, người dân mong đợi nhiều hơn vào chính quyền địa phương và những kỳ vọng như vậy là một nguyên nhân áp dụng và thực hành dân chủ. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu đã cung cấp một minh chứng thực nghiệm thành công về sự tham gia dưới danh nghĩa là một hình thức dân chủ trực tiếp với tác động từ các nhân tố trong đó đặc biệt là thể chế. Tại Kerala, Panchayats đóng vai trò quan trọng trong việc đưa sự tham gia của người dân vào quy trình chính sách. Áp dụng hình thức này sẽ cải thiện và khắc phục được hình thức dân chủ đại diện, mở rộng không gian chính trị cho xã hội dân sự địa phương, tăng sự tin cậy của người dân địa phương vào chính quyền của họ. Công trình nghiên cứu của Chris Ansell và Alison Gash có tiêu đề Collaborative Governance in Theory and Practice được nhà xuất bản của Đại học Oxford công bố năm 2007. Trong khi chứng minh về quản trị hợp tác là cần thiết và các chủ thể tham gia các bên liên quan gồm nhà nước; công dân; các tổ chức dân sự, nhằm cùng đồng thuận phục vụ giải quyết các chính sách công. Theo các tác giả, sự tham gia là nền tảng để giải quyết hiệu quả vấn đề hợp tác quản trị, các điều kiện (các nhân tố ảnh hưởng) quyết định hiệu tới sự tham gia hiệu quả gồm: xác định nguồn lực và quyền lực cần chia sẻ giữa các bên liên quan; tìm kiếm các cơ chế thu hút sự tham gia; trong đó, động cơ, kỳ vọng là những nhân tố ảnh hưởng đến các chủ thể tham gia, ngoài ra, lịch sử/tiền lệ đã có sự tham gia hay chưa cũng là một nhân tố tác động khá lớn đến sự tham gia. Liên quan đến Luận án, các tác giả chứng minh các chính sách công trong đó nguồn lực công là khu vực thu hút sự tham gia và để quá trình này mang lại giá trị cho tất cả các bên cần một sự đồng thuận, tin tưởng giữa nhà nước và người dân. Các điều kiện cho sự tham gia được tham khảo, phục vụ cho tác giả hoàn thiện Chương II của Luận án. 1.1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến các cơ chế tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước Công trình nghiên cứu Participatory Budgeting in Midwestern States: Democratic Connection or Citizen Disconnection?  được thực hiện bởi 3 tác giả, gồm: Aimee L. Franklin, Alfred T. Ho và Carol Ebdon, xuất bản năm 2009 trên tạp chí Public Financial Publications. Nội dung chính của nghiên cứu là đánh giá mức độ và vai trò của nguyên tắc tham gia dưới góc nhìn của các quan chức chính quyền do người dân trực tiếp bầu trong phạm vi ở 12 bang miền Trung Tây nước Mỹ. Nghiên cứu đồng thời phân tích các cơ chế tham gia nhằm xác định lý do thúc đẩy hoặc cản trở áp dụng các cơ chế này. Theo các tác giả, quá trình dân chủ được thúc đẩy và phát triển khi chính phủ minh bạch và có các cơ chế giải trình, đồng thời với đó là thu hút được sự tham gia của người dân vào quy trình ra quyết định. Ngân sách nhà nước là một lĩnh vực quan trọng, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, nó cũng hé lộ sự đánh đổi và phác họa lựa chọn lợi ích hay đánh đổi lợi ích của các tầng lớp trong xã hội của chính phủ.  Nghiên cứu kiểm tra thực nghiệm cách chính quyền địa phương thu hút người dân và những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế có sự tham gia, các tác giả sử dụng 9 cơ chế tham gia khác nhau gồm: (1) cuộc khảo sát, (2) mô phỏng ngân sách, (3) ủy ban ngân sách công dân, (4) nhóm tập trung, (5) các cuộc họp ngân sách đặc biệt, (6) bao gồm tương tác trực tiếp với công dân và các cuộc họp khu phố/quận, (7) các phiên điều trần công khai thường xuyên và các phiên điều trần công khai trên truyền hình có tính năng gọi điện, (8) các cuộc họp khu vực lân cận, (9) công dân trực tiếp tương tác. Với câu hỏi “Trong hai chu kỳ ngân sách vừa qua (hoặc kinh nghiệm gần đây nhất của bạn nếu bạn không phục vụ trong hai năm), công dân trong cộng đồng của bạn đã tham gia vào quy trình ngân sách như thế nào? kiểm tra tất cả (9 cơ chế được liệt kê) những nội dung phù hợp”, nhằm phân tích từng cơ chế, lý giải vì sao cơ chế đó lại được hoặc không được chính quyền lựa chọn khi áp dụng nguyên tắc tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, đồng thời tìm kiếm sự tác động và các mối tương quan với 6 mục tiêu khác nhau của sự tham gia của cộng đồng gồm: giáo dục, giao tiếp hai chiều, cung cấp thông tin ra quyết định, nhận hỗ trợ ngân sách, xây dựng cộng đồng và nâng cao lòng tin. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, xếp hạng cao nhất trong các hình thức tham gia được các đại biểu dân cử sử dụng là sự tương tác trực tiếp của công dân. Bởi theo nhận thức của các chủ thể được khảo sát (chính quyền) thì hai cơ chế này có ảnh hưởng trực tiếp tới cả 6 mục tiêu của nguyên tắc tham gia gồm: giáo dục, giao tiếp hai chiều, cung cấp thông tin ra quyết định, nhận hỗ trợ ngân sách, xây dựng cộng đồng và nâng cao lòng tin. Các cuộc khảo sát và cuộc họp ngân sách đặc biệt tập trung vào toàn cộng đồng ít được các quan chức coi trọng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các cuộc khảo sát không đạt điểm cao cho mục tiêu cung cấp thông tin cho các quyết định khó và nhiều quan chức lại coi nó là giá trị để giao tiếp hai chiều với người dân mặc dù thu hút rất ít người tham gia, nhưng cũng được cho là để nâng cao lòng tin và giáo dục công chúng; các phiên điều trần qua truyền hình có tính năng gọi điện ít được coi trọng hơn từ phía chính quyền vì tính năng gọi chỉ cho phép một người gọi tại một thời điểm có lẽ cũng là một rào cản đối với các quan chức khó nhận dạng tình huống một cách hiệu quả và hiểu liệu nội dung trình bày bởi một người gọi chỉ là mối quan tâm của một cá nhân hay được chia sẻ phổ biến bởi các công dân khác. Tuy nhiên đây lại là kênh yêu thích của người dân khi được yêu cầu tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước. Các phiên điều trần công khai là cơ chế được sử dụng phổ biến nhất và cơ chế được đánh giá cao nhất; cuộc họp ngân sách đặc biệt được coi là tương đối hiệu quả hơn trong việc nâng cao lòng tin so với việc xây dựng cộng đồng hoặc trong giao tiếp hai chiều; các cuộc họp khu phố có mối tương quan cao trong việc nâng cao lòng tin và xây dựng cộng đồng, nhưng ít liên quan hơn trong mục tiêu hỗ trợ ngân sách hoặc đưa ra các quyết định; ủy ban ngân sách công dân và mô phỏng ngân sách không mang lại hiệu quả cao trong mối tương quan với 6 mục tiêu của nguyên tắc tham gia. Tóm lại, cơ chế phổ biến nhất để thu hút công chúng vào quá trình ngân sách là các cuộc điều trần công khai, các cuộc họp ngân sách đặc biệt và tương tác trực tiếp với công dân. Các quan chức được lựa chọn khảo sát cho thấy họ đánh giá cao hơn đối với các cơ chế có sự tương tác chặt chẽ hơn với công dân và các cơ quan có hiệu quả hơn trong việc giải quyết các vấn đề cấp vi mô hoặc cá nhân. Các công cụ khoa học hơn, chẳng hạn như khảo sát công dân và các cơ chế xem xét các vấn đề ở cấp độ vĩ mô, toàn cộng đồng, chẳng hạn như ủy ban ngân sách công dân và mô phỏng ngân sách, ít được coi trọng. Do đó phát hiện này có thể là một mối quan tâm vì các cơ chế vi mô ít có khả năng bao gồm đầu vào đại diện, như thế sẽ không phản ánh đúng được bản chất và vai trò tốt đẹp của nguyên tắc tham gia là vì cộng đồng, đại diện cho cộng đồng. Hệ quả là không có được quan điểm cân bằng và toàn diện về các ưu tiên ngân sách và do đó, có thể đưa ra các chính sách tài khóa thiếu thông tin điều đó không phản ánh đúng nhu cầu thực sự của công chúng. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu phân tích và đánh giá khá rõ về các cơ chế tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, hữu ích cho phần đề xuất kiến nghị tại Việt Nam, vì một số cơ chế có sự tham gia không có khả năng tạo ra kết quả mà các tài liệu hiện hữu lại thường mô tả là có giá trị, trong khi một số cơ chế được các quan chức địa phương đánh giá cao lại không được địa phương sử dụng rộng rãi. Ngoài ra, quan chức địa phương cần lựa chọn các cơ chế có sự tham gia của người dân một cách có cân nhắc hơn khi các kết quả mong muốn từ sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định ngân sách được định dạng rõ. Ngoài ra, tăng cường sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách là không đủ mà cần phải cân nhắc vì nguyên tắc tham gia được tác động bởi một môi trường gồm các yếu tố như môi trường của chính phủ và cộng đồng, cách thức cấu trúc sự tham gia, giá trị nhận thức của các cơ chế khác nhau và các loại kết quả mong muốn và đạt được. Như vậy, dưới góc độ của chủ thể quản lý (người sử dụng phương pháp tham gia và áp dụng kết quả của quá trình này cho việc ra quyết định về ngân sách nhà nước) hầu hết ưa thích và lựa chọn cơ chế tham gia dưới dạng giải quyết các đề xuất mang tính vi mô, cá nhân hơn là các hình thức mang tính toàn thể cộng đồng. Như vậy, những mục tiêu mà nguyên tắc tham gia đạt được như giáo dục và giao tiếp hai chiều là có nhưng lại mang tính ngắn hạn, trong khi xây dựng ý thức cộng đồng và nâng cao lòng tin là những tác động lâu dài lại không đạt được, ngoài ra nó cũng không đảm bảo giải quyết được các mục tiêu và nhu cầu thực sự của cộng đồng, cũng không mang sắc thái dân chủ vì thiếu tính đại diện và trao quyền thực sự. Một nghiên cứu của Archon Fung có tên là Varieties of Participation in Complex Governance đăng trên Tạp chí Public Administration Review năm 2006. Không gian thể chế cho sự tham gia gồm ba khía cạnh chính. Thứ nhất là chủ thể tham gia, thứ hai là cách thức các chủ thể tham gia giao tiếp với nhau và ra quyết định và thứ ba là phạm vi và quyền hạn hay là cách thức mà các quyết định của quá trình tham gia liên kết với các quyết định của chính sách công. Mục tiêu của nghiên cứu là chỉ ra cách thức hoạt động phù hợp của ba nhân tố này đối với tính hợp pháp, công lý và quản trị hiệu quả. Theo tác giả, có 8 cơ chế để xác định và lựa chọn chủ thể tham gia, bao gồm: (1) quản trị viên chuyên nghiệp; (2) đại diện được bầu; (3) các bên liên quan chuyên nghiệp; (4) bố trí các bên liên quan; (5) chọn ngẫu nhiên; (6) tuyển dụng mở, có mục tiêu; (7) mở, tự chọn; (8) phân tán không gian công cộng. Theo tác giả lựa chọn ngẫu nhiên những người tham gia là đảm bảo tốt nhất cho tính mô tả đại diện. Về cách thức mà các chủ thể tham gia giao tiếp và ra quyết định, nghiên cứu chỉ ra 6 hình thức từ thấp nhất đến cao nhất, bao gồm: (1) lắng nghe như khán giả; (2) bày tỏ nhu cầu; (3) phát triển, xây dựng nhu cầu; (4) tập hợp và thương lượng; (5) cân nhắc và đàm phán; (6) triển khai kỹ thuật và chuyên môn. Ba hình thức đầu tiên dừng lại ở nội dung giao tiếp, về cơ bản không thể hiện quan điểm và nhu cầu của người tham gia, không cố gắng chuyển quan điểm hoặc sở thích của những người tham gia thành quan điểm hoặc quyết định chung. Ba hình thức sau là cách thức ra quyết định của các chủ thể tham gia, các chủ thể tham gia biết họ muốn gì và phương thức ra quyết định tổng hợp nhu cầu của họ - thường được trung gian bởi sức mạnh mà họ mang lại - thành một lựa chọn xã hội. Phổ biến nhất là hình thức tập hợp và thương lượng, với ba hình thức giao tiếp mạnh mẽ này, cân nhắc và đàm phán cho phép người tham gia tìm ra giải pháp thay thế tốt nhất hiện có để thúc đẩy các nhu cầu chung mà họ có. Tóm lại, cách thức mà chủ thể tham gia giao tiếp và ra quyết định bắt đầu bằng một quá trình tương tác, trao đổi, sau đó những người tham gia thảo luận nhằm đạt được thỏa thuận với nhau về một nội dung cụ thể. Cuối cùng, là phương thức mà theo tác giả, nhiều (có lẽ hầu hết) các chính sách và quyết định công được xác định không phải thông qua tổng hợp hoặc cân nhắc mà là thông qua chuyên môn kỹ thuật của các chuyên gia có đào tạo và chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với họ để giải quyết các vấn đề cụ thể. Chế độ này thường không liên quan đến công dân. Đó là lĩnh vực của các nhà lập kế hoạch, nhà quản lý. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu đã cung cấp kiến thức về các cơ chế để xác định và lựa chọn chủ thể tham gia và đặc biệt là 6 cách thức mà các chủ thể sử dụng để giao tiếp và ra quyết định. 1.1.1.4. Nhóm công trình nghiên cứu về các mức độ tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. Công trình nghiên cứu có tên A ladder of citizen participation của Sherry R. Arnstein. Theo đó, tác giả cho rằng sự tham gia của người dân được đặt trong mối quan hệ với nhà nước, quá trình người dân tham gia được coi là hành vi phân phối lại quyền lực nhà nước, từ đó, người dân trực tiếp tham gia và gây ảnh hưởng tới quá trình ra chính sách của nhà nước. Sherry R. Arnstein cho rằng, sự tham gia của người dân vào khu vực công nói chung được chia thành 8 cấp độ tham gia, bao gồm: (1) Vận động, (2) Liệu pháp, (3) Cung cấp thông tin, (4) Tham vấn, (5) Động viên, (6) Hợp tác, (7) Ủy quyền, (8) Công dân kiểm soát. Nắm rõ từng mức độ có thể áp dụng các cơ chế tham gia phù hợp để đạt được những hiệu quả mong muốn của các chủ thể tham gia. Nghiên cứu đóng vai trò là một trong những tài liệu nền tảng cho Luận án, cung cấp lý thuyết cơ bản về sự tham gia, đặc biệt là các mức độ tham gia của người dân vào quy trình ngân sách. Trong cùng lĩnh vực quản trị công và xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với người dân, dựa trên nền tảng các bậc thang tham gia của Sherry R. Arnstein, năm 1994, David Wilcox công bố một nghiên cứu: A guide to effective participation. Theo đó, sự tham gia cũng được dựa trên nền tảng của sự hợp tác giữa các bên và được chia thành 5 cấp độ. Bao gồm: (1) Cấp độ 1 là thông tin (Information); (2) Cấp độ 2 là tham vấn (consultation); (3) Cấp độ 3 là quyết định cùng nhau (deciding together); (4) Cấp độ thứ 4 là cùng nhau hành động (acting together); (5) Cấp độ thứ 5 là ủng hộ những hoạt động của địa phương (Supporting local initiatives). Năm 2003, một nghiên cứu khác liên quan đến các cấp độ tham gia của người dân đó là tác phẩm The rise of rights do Eyben R công bố. Tác giả cho rằng chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong các quy trình chính trị. Theo tác giả, quyền tham gia đứng ở vị trí cao nhất, cụ thể như sau: thứ nhất là các công cụ của sự tham gia (Instrunental Participate), thứ hai là các Quyền chính trị và dân sự (Civil and Polotical Liberties), thứ ba là các Quyền kinh tế (Economic rights), thứ tư là các quyền xã hội (Social rights), thứ năm là các quyền văn hóa (Cultural rights), thứ sáu và cao nhất là quyền tham gia (Paticipatory right). Theo quan điểm của tác giả, quyền tham gia giữ vị trí quan trọng bậc nhất bởi vì sự tham gia có sự khác biệt đối với các quyền cơ bản khác của con người đó là khả năng ảnh hưởng và tác động tới quy trình. Tất cả các quyền cơ bản khác đều phải sử dụng quyền tham gia như là một công cụ mới có thể hiện thực hóa được trên thực tế. Năm 2012, tác giả André Pierre đã phân loại sự tham gia của người dân thành 6 cấp độ trong nghiên cứu có tên là Citizen Participation như sau: 1. Tham gia thụ động (Passive participation); 2.Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as contributors; 3. Tham gia tương tự như nhà tư vấn (Participation as consultants); 4. Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation); 5.Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decision – making); 6. Tham gia tự nguyện (Self-mobilization). Các tác giả cũng định nghĩa sự tham gia theo một phạm vi rất rộng, có thể cả trong khu vực công và khu vực tư. 1.1.1.5. Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước Vai trò phân bổ công bằng dịch vụ công Bài nghiên cứu “Direct democracy and local public goods: Evidence from a fied experiment in Indonesia.” do tác giả Benjamin A. Olken thực hiện. Sử dụng phương pháp định lượng và nghiên cứu thực địa, với khung thời gian thực hiện từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 1 năm 2006 với 48 ngôi làng ở Indonesia. Mục đích nghiên cứu của tác giả là xem xét và đánh giá về cơ chế tham gia trực tiếp và gián tiếp. Bằng cách thiết kế hai dự án cho một làng. Một dự án chung cho toàn thể dân làng với quy mô lớn và một dự án dành riêng cho phụ nữ trưởng thành. Kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng độ hài lòng của người dân trong làng được trực tiếp bỏ phiếu cao hơn đối với các làng áp dụng quy trình cử đại diện tham gia dù nó không tác động nhiều đến kết quả lựa chọn. Đối với các dự án của phụ nữ, bên cạnh sự hài lòng, kết quả cho thấy các dự án được tổ chức và thực hiện tại những vị trí nghèo hơn trong làng. Đây là một nghiên cứu thực địa được cộng đồng nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính công đánh giá cao, với các kết quả công bố, có ý nghĩa thống kê, đã cho thấy sự tham gia của cộng đồng vào quy trình ngân sách mang lại hai kết quả quan trọng. Thứ nhất là tăng tính hợp pháp và giúp người dân nhận biết được các lựa chọn tối ưu đối với các dịch vụ công. Thứ hai, sự tham gia làm gia tăng mức độ hài lòng của người dân đặc biệt với hình thức tham gia áp dụng cơ chế như bỏ phiếu trực tiếp và toàn bộ. Nó đồng thời thúc đẩy và thực thi sự công bằng xã hội thu hẹp khoảng cách thụ hưởng dịch vụ công của cộng đồng. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu này đã chứng minh rằng khi áp dụng cơ chế tham gia trực tiếp đã hạn chế sự can thiệp của các chủ thể có ảnh hưởng trong một cộng đồng, quan trọng hơn nữa đó là khả năng nhận thức và quyết định các dịch vụ công của người dân đồng thời nâng cao tính hợp pháp của các quy trình phân bổ công và mang lại kết quả cung cấp dịch vụ công bằng và minh bạch hơn. Bài nghiên cứu Traditional Governance, Citizen Engagement, and Local Public Goods: Evidence from Mexico được thực hiện bởi Alberto Di’Az- Cayeros, Beatriz Magaloni và Alexander Ruiz- Euler. Bài viết xuất bản năm 2013 bởi tạp chí Elsevier. Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá tác động của hình thức quản trị truyền thống (tham gia trực tiếp) đối với việc cung cấp hàng hóa công ở cấp địa phương. Nghiên cứu thực hiện tại bang Oaxaca nơi được cho là nghèo nhất ở Mexico. Nghiên cứu đánh giá về mức độ và tần suất cung cấp dịch vụ công trước và sau năm 1995 ở cả hai hình thức quản trị trên. Các tác giả áp dụng phương pháp đối sánh vì Oaxaca áp dụng đồng thời song song hai hình thức quản trị gồm: truyền thống- tham gia trực tiếp và bắt buộc, hiện đại - với hình thức dân chủ đại diện được quy định trong Hiến Pháp của Tiểu Bang năm 1995. Tại đây, các thành phố tự trị ở Oaxaca áp dụng các loại hình quản lý khác nhau, nhưng vẫn giữ nguyên các thể chế chính thức của thành phố. Đó là, cấu trúc của chính quyền thành phố, các quy định pháp lý của chính quyền thành phố, và mối quan hệ tài chính với tiểu bang và liên bang các chính phủ. Đây là một trường hợp mà theo các tác giả là khá đặc biệt bởi vì dù có cùng thể chế chính thức nhưng hình thức quản lý lại có thể lựa chọn cơ chế hoạt động với người dân hoặc là trực tiếp tham gia hoặc là thông qua đại diện. Kiến thức về ngân sách công cũng dễ dàng lan truyền trong các thành viên của hội đồng và tham nhũng dễ kiềm chế hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc cung cấp điện tăng nhanh hơn ở những thành phố áp dụng hình thức quản trị dân chủ trực tiếp (truyền thống) và cải thiện việc cung cấp giáo dục và hệ thống thoát nước, thu hút được nhiều tầng lớp ưu tú hơn so với hình thức quản trị áp dụng cơ chế dân chủ đại diện. Tóm lại, phát hiện của các tác giả cho thấy các hình thức quản trị truyền thống có sự tham gia trực tiếp của người dân không cản trở sự phát triển dân chủ. Hơn nữa, nó còn có nhiều khả năng tổ chức các cuộc họp mở cho phép công dân tham gia vào quá trình ra quyết định. Các tác giả cho rằng mức độ bao phủ của hàng hóa công tốt hơn là do sự khác biệt trong quản trị địa phương và thực tiễn ra quyết định tập thể. Các tác giả đề xuất rằng việc quản trị truyền thống bằng hình thức dân chủ trực tiếp có thể bị ảnh hưởng và dẫn đến việc ảnh hưởng cung cấp dịch vụ công ở địa phương. Một kết luận quan trọng khác được rút ra đó là câu hỏi lớn đối với hình thức dân chủ đại diện ngày nay đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới có thể chứa đựng nguy cơ là mất quyền tự quyết trong việc ra quyết định của cử tri so với hình thức dân chủ trực tiếp có sự tham gia. Liên quan đến Luận án, nghiên cứu củng cố thêm nhận định rằng dân chủ có sự tham gia trực tiếp đã thực sự tác động tới khả năng cung cấp dịch vụ công, khuyến khích sự tham gia, bên cạnh đó nó cung cấp thêm nhiều gợi mở cho phần đề xuất của Luận án định hướng áp dụng nguyên tắc tham gia trong phân bổ và cung cấp nguồn lực công ở Việt Nam, nơi có truyền thống lâu đời về tính tự quản của cộng đồng làng xã.   Bài viết Improving Social Well Being Through New Democratic Institutions do hai tác giả là Michael Touchton và Brian Wampler trên tạp chí Comparative Political Studies năm 2013. Hai tác giả sử dụng phương pháp định lượng với biến độc lập là sự tham gia và các biến phụ thuộc gồm: chi tiêu cho sức khỏe và vệ sinh của chính quyền; tỷ lệ các tổ chức dân sự; tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Địa điểm áp dụng nghiên cứu là các thành phố tự trị tại Brazil với số dân ở mỗi địa phương tối thiểu từ 100.000. Nghiên cứu thu thập dữ liệu và phân tích trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến 2008. Với mục đích tìm kiếm đáp số cho những câu hỏi lớn là việc áp dụng quy trình ngân sách có sự tham gia có tác động tới sự gia tăng chi tiêu cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe và vệ sinh, có làm tăng số lượng các tổ chức xã hội dân sự, có giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh? và một thảo luận nhỏ liệu sự ủng hộ của thành viên Đảng cầm quyền mà cụ thể là Thị trưởng ở địa phương có tác động tới quá trình áp dụng nguyên tắc sự tham gia hay không? Nghiên cứu dựa trên sự đồng thuận trong quan điểm về những hạn chế của chế độ dân chủ đại diện với những quyết định phần lớn là của tầng lớp tinh hoa và thiếu vắng sự hiện diện của người nghèo. Bài viết cũng dựa trên quan điểm của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, Amartya Sen về việc nâng cao và mở rộng khả năng của con người sẽ thúc đẩy sự phát triển rộng rãi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự tham gia của người dân bằng cách thức dân chủ trực tiếp đối với ngân sách cho dịch vụ công cho thấy chính quyền đã tăng tỷ lệ chi ngân sách dùng cho các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tăng cao hơn, các tổ chức dân sự cũng phát triển nhiều hơn và giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc phân tích và cung cấp minh chứng về vai trò của sự tham gia trong lĩnh vực ngân sách sẽ gây ảnh hưởng tích cực đến cung cấp công bằng dịch vụ công của nhà nước cho người dân.   Bài nghiên cứu The Effects of Participatory Budgeting on Municipal Expenditures and Infant Mortality in Brazil của Sosnia Gonçalves trên tạp chí World Development năm 2014. Nghiên cứu tập trung vào việc cải tiến thể chế trong khuôn khổ quản trị phi tập trung dưới hình thức tăng cường sự tham gia của cộng đồng để cung cấp một thử nghiệm về chế độ phân cấp có sự tham gia nhằm điều chính phù hợp các chính sách đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương tại Brazil. Lấy khung thời gian từ 1990 đến 2004 với một nhóm các thành phố tự trị tại Brazil, tác giả xây dựng bộ dữ liệu gồm thông tin về thành phố áp dụng ngân sách có sự tham gia; chi tiêu công và kết quả y tế. Sử dụng tập dữ liệu này, tác giả xác định các tác động lên chi tiêu công và các kết quả mức sống liên quan đến việc áp dụng ngân sách có sự tham gia bằng cách khai thác sự khác biệt phong phú về thời gian áp dụng giữa các thành phố theo thời gian. Kết quả này cho thấy rằng việc áp dụng ngân sách có sự tham gia ở cấp thành phố có liên quan đến việc tăng chi tiêu cho các dịch vụ vệ sinh và y tế cơ bản và cấp bách (các nhu cầu này được thu thập trong các diễn đàn có sự tham gia). Các dịch vụ này theo đó chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng ngân sách thành phố. Cùng với sự phân bổ lại nguồn lực này ở cấp thành phố, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm đáng kể giữa các thành phố áp dụng ngân sách có sự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định ngân sách cho dịch vụ công đã làm tăng mức chi tiêu công cho các dịch vụ. Nghiên cứu này một lần nữa cung cấp thêm minh chứng thực địa cho Luận án về vai trò và ý nghĩa của việc áp dụng mô hình ngân sách có sự tham gia đã mang lại những kết quả tốt hơn cho các bên liên quan. Với chính quyền nó thúc đẩy sự nhạy bén và minh bạch, đối với người dân nó cung cấp dịch vụ công công bằng hơn. Tuy nhiên, theo tác giả, để mô hình này thành công ngoài vấn đề về tài chính thì cam kết chính trị là một trong những nhân tố quyết định tới sự thành công hay thất bại của chương trình áp dụng ngân sách có sự tham gia. Vai trò quản trị nhà nước tốt Theo Brian Walmper, trong nghiên cứu có tên là Introduction to Participatory Budgeting xuất bản năm 2007 bởi WB thì sự tham gia của người dân khi được áp dụng như một công cụ quản trị nhà nước sẽ thúc đẩy cải cách hành chính, lý do được đưa ra là dưới áp lực về nhu cầu truy cập thông tin ngân sách, cần có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, quy trình ngân sách cần được minh bạch và đảm bảo tất cả các bên liên quan gồm quan chức chính phủ; doanh nghiệp; người dân; chủ đầu tư…đều có thể dễ dàng truy cập khi có nhu cầu. Sự tham gia của người dân đã đảo ngược và phá vỡ một số hình thức quản trị truyền thống và thúc đẩy chính quyền phải cải cách theo hướng áp dụng công nghệ trong quản trị nhiều hơn, cách thức này đang được Việt Nam nỗ lực để đạt được bằng các chương trình cải cách hành chính mang cấp quốc gia. Theo Monyhan Donal trong nghiên cứu Citizen Participation in Budgeting: Prospects for Developing Countries được biên tập bởi Anwar Shah, xuất bản bởi World Bank năm 2007 đã khẳng định, sự tham gia là một nhu cầu thực tế tại các nước đang phát triển, tại đây, sự tham gia đặc biệt quan trọng bởi vì nó thúc đẩy quản trị tốt, thúc đẩy minh bạch, tăng công bằng xã hội bằng cách liên kết đến người nghèo và các đối tượng bị loại trừ, giúp những người xấu trở thành công dân tốt hơn, bởi vì cấu trúc và các cơ chế quản trị truyền thống đã cho thấy những nhược điểm như tham nhũng; phân bổ tài nguyên không rõ ràng; không cung cấp được các dịch vụ cơ bản và cấu trúc quyền lực có tính loại trừ không tạo cơ hội cho các tầng lớp yếu thế trong xã hội được đưa ra các quan điểm và nhu cầu của mình. Công trình nghiên cứu của Chris Ansell và Alison Gash: Collaborative Governance in Theory and Practice. Các tác giả thực hiện một nghiên cứu phân tích tổng hợp các tài liệu hiện có về quản trị hợp tác với mục tiêu xây dựng một mô hình dự phòng của quản trị hợp tác. Đánh giá 137 trường hợp quản trị hợp tác trên nhiều lĩnh vực chính sách, các tác giả đã xác định và đưa ra dự đoán rõ ràng rằng nhu cầu hợp tác và phối hợp tốt hơn giữa chính phủ và các bên liên quan khó có thể suy yếu trong tương lai gần, theo các tác giả, để quy trình hợp tác này mang lại hiệu quả cần phải xác định các nhân tố quan trọng sau đây: điều kiện bắt đầu; thiết kế thể chế; quy trình hợp tác. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án khi chứng minh rằng quản trị công của hiện tại và tương lai không thể thiếu sự hợp tác với sự đóng góp của khu vực tư nhân tham gia giải quyết các vấn đề công cùng với nhà nước, đây là một hình thức quản trị mang lại các giá trị khi các bên nhận ra sự liên quan và phụ thuộc lẫn nhau của các quá trình chính sách công, mà nền tảng để giải quyết quản trị hợp tác hiệu quả đó chính là sự tham gia trực tiếp của người dân. Nghiên cứu của Benjamin A. Olken xuất bản năm 2006 có tên là Direct democracy and local public goods: Evidence from a fied experiment in Indonesia. Đã phát hiện ra rằng sự tham gia của các cơ sở thông qua các hội đồng làng chỉ có tác dụng hạn chế trong việc giảm tham nhũng trong các dự án đường làng ở Indonesia, khi áp dụng sự tham gia của cộng đồng vào quy trình chi tiêu của thành phố không những hạn chế tham nhũng hiệu quả hơn mà đồng thời phân bổ dịch vụ công tốt hơn, chỉ số hài lòng của người dân tăng lên, cung cấp đầu vào cho quá trình sử dụng ngân sách đã giúp chính quyền thành phố đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cử tri.   Nghiên cứu của Ebdon và cộng sự công bố năm 2006 bởi tạp chí Public Administration Review, có tên là Citizen Participation in Budgeting Theory, đã chứng minh vai trò của sự tham gia trong quản trị đặc biệt là quản trị nhà nước, theo đó, chính quyền các cấp có thể sử dụng để kết nối với người dân, lắng nghe thực sự để hiểu rõ nhu cầu và mong đợi của họ. Trước những quyết định về việc cắt giảm chi tiêu và dịch vụ hoặc tăng thuế và phí thì sự tham gia dường như là phương pháp để công dân đóng vai trò giúp các cơ quan nhà nước xác định các giải pháp tốt nhất cho chính phủ và cộng đồng. Vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế Trong công trình nghiên cứu có tên là Participation and Development: Perspectives from the Comprehensive Development Paradigm của tác giả Joseph E. Stiglitz đăng trên tạp chí Review of Development Economics năm 2002. Tác giả đã khẳng định rằng, sự tham gia được nghiên cứu và chứng minh là một trong những công cụ thúc đẩy phát triển, vì sự tham gia có mối liên hệ chặt chẽ với minh bạch và trách nhiệm giải trình, tất cả những nhân tố này khi áp dụng đồng thời sẽ tác động tới kinh tế vĩ mô như nâng cao chỉ số cạnh tranh quốc gia, giảm chi phí đi vay, chỉ số nợ công thấp…Theo tác giả, sự tham gia thúc đẩy tới minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ tạo ra một thị trường cạnh tranh và thu hút đầu tư. Nghiên cứu của Bejamin Goldfrank, tại Châu Mỹ La Tinh có tên là Lessons from Latin America’s Experience with Participatory Budgeting do WB xuất bản năm 2007 cũng cho rằng ngân sách có sự tham gia của người dân, tự nó không làm giảm đáng kể đói nghèo (đặc biệt là nghèo về thu nhập). Để giảm nghèo, các nguyên tắc cơ bản về lập ngân sách có sự tham gia cần phải đặt ra các mục tiêu và duy trì kết hợp với minh bạch, tham gia trực tiếp, phân bổ cho người nghèo trong suốt quá trình và cần được áp dụng không chỉ cho các cấp chính quyền quốc gia mà còn cho các cơ quan hoạch định chính sách quốc tế và cân nhắc với tình hình thực tế của địa phương. Benjamin A. Olken (2006) trong công trình có tên là Direct democracy and local public goods: Evidence from a fied experiment in Indonesia đã chứng minh rằng, thông tin được cung cấp kết hợp với hình thức tham gia trực tiếp thay vì thông qua đại diện bởi các thành viên của Hội đồng làng trong quá trình lựa chọn các dự án công cộng tại Indonesia đã cho kết quả là các dự án được phát triển tốt hơn, giảm được các chi phí và can thiệp từ các tầng lớp tinh hoa địa phương. Như vậy, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước không trực tiếp tác động đến và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều cho thấy chung một kết quả rằng, sự tham gia sẽ tác động và thúc đẩy minh bạch và trách nhiệm giải trình, các gợi ý và các bộ nguyên tắc về quản trị ngân sách nhà nước hiệu quả đều yêu cầu áp dụng đồng thời sự tham gia, minh bạch thông tin và tăng cường trách nhiệm giải trình để đạt được hiệu quả tốt nhất. Sách: Democracy and Civil Society in Asia xuất bản năm 2004 bởi Palgrave Macmilan. Thực địa nghiên cứu gồm một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines…Nội dung nghiên cứu thảo luận 3 vấn đề. Một là, xem xét xem liệu sự phát triển kinh tế sau khủng hoảng tài chính những năm 1990 có phải là nguyên nhân thúc đẩy phát triển dân chủ ở Châu Á, hai là, xem xét các yếu tố cản trở sự phát triển của dân chủ, ba là, đề xuất và thúc đẩy các hình thức dân chủ phát triển như bình đẳng, công lý, trao quyền và sự tham gia. Các tác giả cho rằng, sau khủng hoảng tài chính những năm 1990, hầu hết các nước Châu Á tham gia vào guồng quay của toàn cầu hóa mặc dù không đồng đều, đồng thời với sự xuất hiện của các tổ chức viện trợ quốc tế ở đây hoặc với nội dung tiếp cận thị trường đầu tư hoặc với mục tiêu phát triển bền vững đã khéo léo lồng vào dòng vốn đầu tư cái gọi là quản trị tốt với các nguyên tắc trụ cột là trách nhiệm giải trình, minh bạch, đa nguyên chính trị và sự tham gia chính trị của khu vực tư nhân. Như vậy, dân chủ đã được sáp nhập với vốn đầu tư chảy vào các quôc gia phát triển ở Châu Á trong đó có Việt Nam, cung cấp thêm bằng chứng về sự thúc đẩy và phát triển nguyên tắc tham gia sau Đổi mới được trình bày trong Luận án. Tóm lại, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước đã được tiếp cận và nghiên cứu đầy đủ trên nhiều phương diện trong cộng đồng học thuật quốc tế. Thậm chí, nó đã được áp dụng và đạt được những thành công trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề chưa được làm rõ. Đó là:  Phần lớn nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia có chế độ đa nguyên về chính trị chứ chưa có một nghiên cứu thực sự nào về sự tham gia ngân sách tại một quốc gia do một đảng lãnh đạo như ở Việt Nam. Thứ hai, các nghiên cứu đồng thuận rằng, sự tham gia của người dân vào các quy trình chính sách công trong đó có ngân sách nhà nước như là một nguyên tắc quản trị tốt, được thúc đẩy và cấy ghép vào các quốc gia chuyển đổi và đang phát triển bởi các tổ chức quốc tế, nhưng chưa được minh chứng cụ thể, đặc biệt là quốc gia vừa tiến hành chuyển đổi vừa cải cách như Việt Nam. Quan điểm và nhận thức về sự tham gia của người dân trong khu vực công và quy trình ngân sách nhà nước, dưới sự dẫn dắt và lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam có tương đồng so với thông lệ quốc tế? Pháp luật Việt Nam quy định về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước như thế nào? Truyền thống quản trị và môi trường pháp lý Việt Nam truyền thống có ảnh hưởng tới sự phát triển của nguyên tắc tham gia? Các tổ chức quốc tế đến với Việt Nam cùng với những khoản viện trợ khổng lồ có phải là tác nhân thúc đẩy pháp luật về sự tham gia của người dân phát triển mạnh mẽ sau Đổi Mới? Đây là những vẫn đề còn bỏ ngỏ cần được nghiên cứu để làm rõ. 1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong lịch sử Việt Nam Bài viết Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong các bản hiến pháp Việt Nam của tác giả Hồ Ngọc Chung đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học xã hội năm 2015. Bài viết phân tích và làm rõ sự hình thành và phát triển quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong các bản hiến pháp Việt Nam. Theo đó, tác giả nhận định về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân là một trong những quyền ra đời sớm nhất trong lịch sử lập hiến Việt Nam, hiến định quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân là sự hiện thực hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền làm chủ của nhân dân, về một nền dân chủ đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam,  quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ngày càng được mở rộng, phát triển và hoàn thiện trong các bản Hiến pháp Việt Nam. Tuy nhiên, trong các bản Hiến pháp Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng, cụ thể cách thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước cũng như cơ chế hữu hiệu bảo đảm thực thi quyền hiến định này của công dân trên thực tế. Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án khi dẫn chứng về lịch sử phát triển của nguyên tắc tham gia tại Việt Nam, đồng thời những kết luận đánh giá tính khả thi của nguyên tắc này có giá trị đóng góp cho Luận án khi đánh giá tính hiệu quả của nguyên tắc này trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bài viết Tính tự trị của làng xã Việt Nam qua hương ước của Vũ Duy Mền và Phan Đăng Thuận trên tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, 2016. Theo các tác giả, trước đây, làng xã là nơi cư trú và sinh sống của người dân Việt. Vào những giai đoạn đầu, trật tự xã hội được điều chỉnh bằng chính những quy chuẩn do người dân đặt ra thông qua khả năng tự quản – tự trị. Dựa vào sự hình thành và phát triển của Hương ước của cộng đồng Làng xã của Việt Nam trong lịch sử, các tác giả đã dẫn chứng tính tự quản trong lĩnh vực kinh tế và gián tiếp minh chứng thông qua chức năng thu thuế ở thời kỳ này cho thấy sự thừa nhận từ chính quyền trung ương về những nấc thang đầu tiên của nguyên tắc tham gia của người dân, đơn cử cụ thể trong lĩnh vực ngân sách, đó là cho người dân được biết về mức thuế và thời gian nộp thuế được ghi nhận tại Điều thứ 9 liên quan đến niên kỳ sưu thuế, việc thu thuế có bóng dáng của hình thức công khai và cung cấp thông tin cho người đóng thuế như niêm yết tại các đình làng trong thời gian bảy ngày và biên lai đóng thuế được cung cấp người dân lưu. Như vậy, có thể nhận định rằng việc tham gia vào khu vực công mà cụ thể trong khu vực phân bổ nguồn lực của người dân thời kỳ này không chỉ dừng lại ở việc chỉ biết đến thông tin về thời hạn và mức nộp thuế mà còn tham gia vào việc quyết định phân bổ mức thuế phải nộp thông qua đại diện mà họ đã lựa chọn. Bởi vì chính quyền Trung ương chỉ giao tổng số thuế mà các làng xã phải nộp còn việc phân bổ thế nào do hội đồng kỳ mục/tộc biểu họp quyết định. Liên quan đến Luận án, Đề tài nghiên cứu của 2 tác giả Vũ Duy Mền, Phan Đăng Thuận có giá trị tham khảo cho Luận án khi trình bày về lịch sử phát triển của nguyên tắc tham gia tại Việt Nam. 1.1.2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong lĩnh vực công Năm 2013, cuốn sách Sự tham gia của người dân vào quy trình lập hiến gồm Đào Trí Úc, Nguyễn Thị Mơ, Nguyễn Văn Thuận, Vũ Công Giao đồng chủ biên nhằm giải thích vì sao người dân có quyền tham gia vào các quy trình chính trị. Các tác giả cho rằng, quyền lực nhà nước được xây dựng trên nền tảng đó là quyền lực của người dân vì vậy mọi hoạt động liên quan đến chính sách công đều vì người dân. Tuy nhiên, sự tham gia của người dân là gì và các mức độ của nó như thế nào đã không được trình bày trong cuốn sách này. Tài liệu có giá trị đối với Luận án khi các tác giả đều thừa nhận rằng, sự tham gia của người dân là một quyền hợp pháp và nó xuất phát từ bản chất nhà nước được xây dựng dựa trên nền tảng quyền lực nhân dân. Luận án tiến sĩ chuyên ngành chính trị học của Phan Văn Tuấn tại Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh có tiêu đề Phương thức tham gia của người dân vào quá trình chính sách công ở Việt Nam hiện nay. Nội dung chính nghiên cứu và khảo sát phương thức tham gia của người dân qua các cấp độ gồm: (a) người dân tham gia quá trình lựa chọn vấn đề chính sách; (b) người dân tham gia bàn và tham gia vào quá trình ra quyết định chính sách; (c) người dân tham gia thực hiện chính sách; (d) người dân tham gia giám sát, kiểm tra và đánh giá chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mức độ và hình thức tham gia tại Việt Nam nói chung còn nhiều khiếm khuyết và hạn chế. Các quy định pháp luật về sự tham gia đã được ghi nhận nhưng còn phân mảnh và thiếu hệ thống. Công trình này có tính tham khảo cho Luận án khi cung cấp minh chứng về tính phân tán chưa đồng bộ của các mức và hình thức tham gia được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Nghiên cứu Sự tham gia của người dân vào chính sách công dưới ảnh hưởng của mạng xã hội tại Việt Nam - Nghiên cứu từ tình huống điển hình, tác giả Huỳnh Ngọc Chương, đăng trên tạp chí Phát triển KH và CN, tập 19, số Q4 – 2016. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính cho các tình huống chặt cây xanh tại Việt Nam, từ đó xem xét tác động của Facebook đối với sự tham gia của người dân vào chính sách công. Dựa trên lý thuyết về các bên liên quan trong chính sách công và các bên liên quan trong quản trị công tác giả phân tích bối cảnh thực tế quy trình ban hành và thực hiện các chính sách công của Việt Nam cùng với nhận dạng các bên liên quan hiện nay tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, sử dụng internet thông qua các công cụ mạng xã hội mà điển hình là facebook trở thành một thực tế không thể đảo ngược ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và dân số trẻ. Vì thế, trong thời gian tới, nhà nước cần phải thay đổi các quy trình chính sách công theo hướng thu hút sự tham gia nhiều hơn của người dân, mạng xã hội là nguyên nhân khiến nhà nước phải thay đổi, mạng xã hội cũng trở thành áp lực khiến nhà nước phải công khai, minh bạch và tăng cường giải trình hoặc “biện bạch” cho những hoạt động của mình. Công trình nghiên cứu này có giá trị tham khảo cho Luận án khi chứng minh công nghệ, mà đặc biệt là mạng internet là một trong những nguyên nhân thúc đẩy cải cách hành chính, xu hướng tham gia của người dân vào các quy trình chính sách công trong đó có ngân sách nhà nước sẽ tăng lên trong thời gian tới. Nghiên cứu Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước và xã hội vì mục tiêu phát triển con người do tác giả Trương Văn Dũng trên Tạp chí Nghiên cứu con người số 5 năm 2008. Bài viết đã thống kê sự ghi nhận sự tham gia của người dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bài viết đề cập tới quan điểm của Đảng về sự tham gia của người dân, giới thiệu một số ví dụ điển hình tại các địa phương như TP.HCM, huyện Nhà Bè, huyện Đô Lương…đã áp dung thành công các quy định về sự tham gia của người dân dựa trên cơ sở đánh giá là Pháp lệnh dân chủ cơ sở 2007. Theo  đó, dựa vào đường lối của Đảng thông qua các quy định của pháp luật, trong đó có Hiến pháp 1946; Hiến pháp 1992. Tác giả cho rằng, sự tham gia đã đạt được một số thành công nhất định. Luật pháp đã  quy định tương đối các hình thức và mức độ tham gia. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng còn tồn tại những thách thức như: phụ thuộc nhiều vào đại biểu dân cử; nguyện vọng của người dân thông qua các tổ chức xã hội chưa được giải quyết thỏa đáng; tham gia trực tiếp bằng việc được lấy ý kiến và quyết định nhiều vấn đề ở cấp cơ sở nhưng đến thời điểm năm 2008 hoạt động lấy ý kiến vẫn chưa được triển khai…Nghiên cứu có giá trị tham khảo khi trình bày về sự tham gia của người dân trong lĩnh vực công, cụ thể tại Chương III của Luận án. Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Thị Ngọc Anh đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1(377)- kỳ 1, tháng 1/2019 có tên Sự tham gia của người dân trong quản lý công. Các tác giả đã trình bày lý thuyết hai nội dung chính: thứ nhất, ý nghĩa của sự tham gia của người dân trong quản lý công. Theo đó, sự tham gia của người dân mang lại nhiều giá trị như sau: (1) là quyền cá nhân và khi tham gia vào quản lý công người dân đã và đang thực hiện quyền công dân của mình; (2) sự tham gia của người dân có mang lại ổn định và phát triển cho xã hôi, thúc đẩy công bằng; (3) sự tham gia có ảnh hưởng tới chính trị; (4) sự tham gia có ảnh hưởng quan trọng tới quản lý công. Thứ hai, các tác giả đã trình bày các hình thức tham gia của người dân trong quản lý công dựa trên mục tiêu của sự tham gia, gồm tham gia nhằm mục đích đối thoại bình đẳng; tham gia để tiếp nhận thông tin cho quá trình ra chính sách công và tham gia ủng hộ chính sách. Tài liệu này có giá trị tham khảo cho Luận án khi cùng đồng thuận rằng, sự tham gia của người dân trong quản lý công là quyền công dân và khi người dân thực hiện quyền này sẽ mang lại các giá trị cũng như ý nghĩa như thúc đẩy công bằng xã hội, nâng cao chất lượng chính sách quản lý công hoặc chất lượng dịch vụ công. Một nghiên cứu của Oxfam Việt Nam xuất bản năm 2014 với chủ đề Thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình ra quyết định giáo dục. Tài liệu khẳng định rằng sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình ra quyết định giáo dục là quyền tham gia, và theo quan điểm của Oxfam thì Sự tham gia, trong bối cảnh phát triển, là quá trình mà tất cả các cá nhân trong cộng đồng được tham dự và có ảnh hưởng đến các quyết định về những hành động phát triển có tác động đến họ. Nghiên cứu khẳng định rằng sự tham gia của các bên liên quan có giá trị cải thiện chất lượng giáo dục/quản trị nhà trường, tuy nhiên, hiện nay, sự tham gia của các bên liên quan (không bao gồm nhà trường) chỉ dừng lại ở mức độ thấp do chủ thể tham gia không biết mình có quyền được tham gia vào quá trình ra quyết định hoặc do không tiếp cận được các thông tin. Tài liệu cũng chứng minh cho thấy, pháp luật giáo dục của Việt Nam đã ghi nhận tương đối đầy đủ về quyền tham gia, tuy nhiên trên thực tế hệ thống pháp lý hiện hành chưa thật sự tạo ra cơ hội cho sự tham gia của các bên liên quan. Hiện hướng dẫn thực hiện “dân chủ” tại nhà trường, các cơ sở giáo dục, nơi trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đang có hiệu lực, nhưng lại thiếu các quy định hướng dẫn người học được “bàn; kiểm tra” với các vấn đề ngoài nhà trường liên quan đến các quyết định về phân bổ nguồn lực công ở cấp huyện, cấp tỉnh. Nguyên nhân được cho rằng, hiện nay ở Việt Nam chưa có một định nghĩa chính thức nào về sự tham gia của người dân. Tài liệu đã cung cấp bối cảnh và hiện trạng về sự tham gia nói chung ở Việt Nam hiện nay, câu hỏi chung là: Pháp luật đã quy định khá đầy đủ về sự tham gia, tại sao các hiệu quả của nó lại không được tìm thấy trên thực tế? Nội dung này sẽ được trình bày và phân tích tại Chương III của Luận án. Bài nghiên cứu Chính sách, pháp luật Việt Nam về sự tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân của  Đỗ Thị Kim Tiên - Học viện Hành chính Quốc gia đăng trên tạp chí Tổ chức nhà nước năm 2018, đã phân tích một cách khá tổng quát về sự tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân. Theo đó, tác giả đã lần lượt thống kê quyền tham gia của người dân theo quy định của pháp luật Việt Nam dưới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp đều khá tương đồng với Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1996 (Điều 25 - ICCPR) và Luật Nhân quyền quốc tế. Theo tác giả, sự tham gia của công dân có phạm vi khá rộng từ xây dựng chính sách, pháp luật, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, ra quyết định, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị…và sự tham gia, mức độ cống hiến của công dân trong quản lý nhà nước và xã hội còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ví dụ, mức độ sẵn sàng của công dân, hình thức tham gia (trực tiếp hay gián tiếp); năng lực và vị trí việc làm; các yếu tố thuộc về cá nhân công dân (vốn con người - các giá trị cá nhân, vốn văn hóa, vốn xã hội, vốn thông tin, vốn kinh tế, vốn chính trị,..), và đặc biệt là yếu tố thể chế, chính sách của nhà nước. Bài viết đã cung cấp một số đóng góp cho Luận án khi tổng hợp và phân tích quyền tham gia của công dân dưới góc độ Hiến Pháp, Luật ban hành văn bản quy  phạm pháp luật, Luật Khiếu nại và tố cáo…đồng thời gián tiếp dẫn chứng sự mâu thuẫn giữa quy định pháp luật và khả năng thực thi trên thực tế  quyền lập đề nghị xây dựng VBQPPL của những công dân là thành viên của tổ chức xã hội không thuộc thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngay cả khi họ là đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản. Bài viết Quản lý xã hội dựa vào sự tham gia: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Trung Kiên và Lê Ngọc Hùng đăng trên Tạp chí Xã hội học số 1 (117) năm 2012. Các tác giả tiếp cận nội dung về quyền tham gia quản lý xã hội của người dân dựa trên hai nội dung một là mối quan hệ giữa chủ thể hành động xã hội với các nguồn vốn nhất định và thứ hai là các thiết chế chính thức và phi chính thức đối với cấu trúc xã hội. Từ cách tiếp cận này dựa trên khung lý thuyết về sự tham gia các tác giả cho thấy những yếu tố tác động đến vấn đề quản lý xã hội của người dân dựa trên nguyên tắc tham gia gồm các nguồn vốn: con người, tâm lý, thông tin,  xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế nếu không giống nhau thì sẽ tham gia khác nhau trong hoạt động quản lý nhà nước và xã hội. Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án khi phân tích về vai trò và ý nghĩa của sự tham gia cũng như đánh giá các yếu tố tác động tới sự tham gia của người dân ở Việt Nam. Ấn phẩm Sự tham gia của người dân trong công tác lập quy hoạch đô thị và quản lý dự án của Trung tâm Dự báo và Nghiên cứu đô thị - PADDI xuất bản năm 2016, nội dung chính là Tài liệu này tổng hợp các bài thuyết trình trong khóa tập huấn do đại diện của Viện Nghiên cứu phát triển, Viện Quy hoạch xây dựng và Đại đô thị Lyon trình bày, đồng thời ghi lại những nội dung trao đổi giữa các chuyên gia và các đại biểu tham dự khóa học. Nhằm hỗ trợ tổ chức khóa tập huấn về sự tham gia của người dân trong lĩnh vực quy hoạch đô thị. Sau khi trao đổi với Viện NCPT và Viện Quy hoạch xây dựng với nhu cầu được xác định là tìm ra cách làm phù hợp với các quy định hiện nay đối với quyền tham gia của người dân và bổ sung cho cách làm hiện nay: nội dung lấy ý kiến, đối tượng nhắm đến, thời gian, mức độ lấy ý kiến, phương thức, tài chính và nhân lực...Tài liệu có giá trị tham khảo cho Luận án trong phần đánh giá hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật Việt Nam khi cung cấp sơ khảo tổng quan khung pháp lý về sự tham gia của người dân ở Việt Nam nói chung và trong hoạt động lập quy hoạch đô thị nói riêng, đồng thời so sánh khung pháp lý quy định về nguyên tắc sự tham gia trong cùng lĩnh vực tại Pháp và ví dụ cụ thể tại đại đô thị Lyon. Bài viết Vai trò của Quốc hội đối với quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân của tác giả Phạm Tuấn Anh đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 – 2018. Theo tác giả, Việt Nam với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có những bước phát triển nổi bật trong hoạt động lập pháp khi ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận về quyền tham gia của người dân như: Luật tổ chức QH năm 2014, Luật tổ chức HĐND & UBND 2003, Luật tổ chức CQĐP năm 2015, Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND 2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012), Luật trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007... tương ứng với các cơ chế thực thi như: cơ chế pháp lí như bầu cử, ứng cử, chất vấn, khiếu nại, tố cáo và quy chế dân chủ ở cơ sở.. với các hình thức cụ thể khi tham gia vào công việc quản lí nhà nước, như: quyền được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra, giám sát …Tuy nhiên, theo tác giả, vai trò của Quốc hội trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lí nhà nước của công dân ở nước ta hiện nay vẫn còn một số hạn chế. Cụ thể là: tổ chức cũng như hoạt động của Quốc Hội (QH) vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội về góc độ dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, pháp luật về quyền tham gia quản lí nhà nước của công dân hiện tại chưa được đồng bộ thậm chí còn mâu thuẫn lẫn nhau, đặc biệt, khi nhà nước xây dựng pháp luật, quyền của người dân tham gia xây dựng pháp luật chưa được nhìn nhận đúng đắn khiến nguyện vọng thực tế của nhân dân chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó, vị thế, vai trò của UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của QH, Đoàn đại biểu QH và cá nhân đại biểu QH trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lí nhà nước của công dân còn hạn chế. Liên quan đến Luận án, bài viết có giá trị tham khảo khi phân tích khá cụ thể về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong các văn bản quy phạm pháp luật đặt trong mối quan hệ tương ứng với vai trò và sứ mệnh của Quốc hội Việt Nam. Kết luận của bài viết góp phần củng cố nhận định và phương hướng nghiên cứu của Luận án, nhất là trong quá trình đánh giá tính hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Bài nghiên cứu Sự tham gia quản lý của người dân trong quản lý đầu tư công xây dựng nông thôn mới ở vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên Huế của tác giả Cao Thị Tuyết đăng trên tạp chí Khoa học – Đại học Huế (ISSN 1859-1388) năm 2017. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu và phân tích thực trạng sự tham gia của người dân, cộng đồng trong quản lý đầu tư công xây dựng nông thôn mới và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia này. Nghiên cứu được thực hiện tại 2 xã của Thừa Thiên Huế. Quá trình khảo sát cho ra kết quả thể hiện rằng người dân tham gia họp để lập kế hoạch xây dựng là 63,35%. Tuy nhiên, khảo sát về hoạt động thiết kế, chọn bên thi công và giám sát thì hầu như không có, khoảng trên 90% (95,9; 97,3%; 93,3%). Theo nghiên cứu này, 4 yếu tố chính tác động  đến sự tham gia của người dân trong quản lý đầu tư xây dựng nông thôn mới (NTM) là: pháp lý chưa rõ; người tham gia còn hạn chế về năng lực baoo gồm cả cán bộ công chức của xã và thôn. Nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo cho Chương 4 của Luận án khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyền tham gia ngân sách của người dân. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và Trương Thị Thu Hà, xuất bản năm 2019 trên tạp chí Khoa học – Đại học Huế (ISSN 2588–1213), công trình nghiên cứu về Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch tại làng Thanh Thủy Chánh, Huế. Theo các tác giả, sự tham gia ảnh hưởng đến tiến trình hoạch định, thực hiện và chia sẻ kết quả phát triển du lịch, vậy thì những nhân tố nào ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân làm du lịch? Sử dụng phương pháp định lượng với địa điểm nghiên cứu thực địa tại làng Thanh Thủy Chánh, Huế, các tác giả đã điều tra 133 người dân và phỏng vấn sâu 25 đại diện các bên liên quan. Kết quả cho thấy, bên cạnh các đặc điểm nhân khẩu học, quyết định tham gia của người dân vào du lịch địa phương chịu sự chi phối của 6 nhân tố theo mức độ giảm dần là: hiểu biết về du lịch địa phương, thái độ tích cực tham gia, năng lực phục vụ du lịch, khả năng ra quyết định, sự tin tưởng các bên liên quan và năng lực tiếp cận du khách của người dân. Nghiên cứu có giá trị tham khảo cho Luận án khi trình bày các mức độ tham gia dưới góc độ khác, bên cạnh bậc thang tham gia của Arnstein thì còn có sự tham gia theo quan điểm của Tosun gồm 3 bậc tham gia là: (1) Sự tham gia chủ động; Sự tham gia thụ động; Sự tham gia giả (Spontaneous participation; Induced participation; Coercive participation). Kết quả cho thấy rằng, dù cùng là một lĩnh vực khoa học – xã hội nhưng khi nghiên cứu sự tham gia dưới góc độ khoa học pháp lý, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia có thể không trùng lặp, cụ thể, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước rộng hơn, bao gồm môi trường thể chế; thiết kế quy trình; mục đích tham gia… Bài nghiên cứu Quy hoạch đô thị với sự tham gia của cộng đồng - Những vấn đề cần nghiên cứu cho việc áp dụng phương pháp tại Việt Nam của Tạ Quỳnh Hoa trên tạp chí KHCN Xây dựng- Trường Đại học Xây dựng số 06, tháng 122009. Theo tác giả, quy hoạch đô thị cần thiết có sự tham gia của cộng đồng vì quy hoạch đô thị có sự tham gia cộng đồng đảm bảo cho người dân được tham gia vào việc quyết định trong các dự án quy hoạch đô thị, tăng mức độ cam kết của cộng đồng với dự án và nhờ đó tăng tính bền vững của dự án. Phương pháp quy hoạch đô thị có sự tham gia của cộng đồng đã được thể chế hóa từ Châu Âu và Châu Á – theo tác giả viện dẫn từ những năm 1980 tại Anh sau đó là Pháp, Thụy Điển cho đến Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản…và đều mang lại hiệu quả tốt trong lĩnh vực này. Tại Việt Nam, trong quy hoạch đô thị sự tham gia của cộng đồng chưa được thể chế hóa. Luật xây dựng, Luật Quy hoạch đều mới chỉ đề cập đến sự tham gia của cộng đồng còn ở mức độ thấp nhất, tức là cộng đồng mới chỉ được biết thông tin và hoàn toàn không có các cơ chế cho sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch đô thị. Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc nhận diện và đánh giá tính hiệu quả sự tham gia của người dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 1.1.2.3. Nhóm nghiên cứu liên quan về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách và thực trạng ngân sách nhà nước Viện Khoa học xã hội Việt Nam năm 2006 đã công bố Tài liệu đối thoại chính sách 2006/1 có tên gọi Đẩy mạnh chiều sâu dân chủ và tăng cường sự tham gia của người dân ở Việt Nam. Với mục tiêu là xem xét mức độ tham gia của người dân và mức độ đáp ứng vấn đề này từ chính quyền tại Việt Nam. Nghiên cứu phân tích cả hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Sự tham gia được tiếp cận nghiên cứu trong Báo cáo là sự tham gia với ý nghĩa là một quyền cơ bản của công dân, vì vậy, nó đã được triển khai nghiên cứu ở phạm vi là quyền công dân và dân chủ. Báo cáo đồng thời đã đánh giá tổng quát sự tham gia của người dân trong quy trình ngân sách nhà nước, dựa trên các quy định của pháp luật liên quan, đặc biệt là Luật ngân sách nhà nước và Nghị định dân chủ cơ cở (nay là Pháp lệnh dân chủ cở sở 2007) để đo lường sự tham gia ngân sách của người dân trong giai đoạn trước năm 2006.   Kết quả nghiên cứu của Báo cáo cho thấy, sự tham gia của người dân nói chung và trong ngân sách nói riêng tại Việt Nam đã được thúc đẩy bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tham gia của người dân được khuyến khích phát triển nhưng theo hướng đồng thuận và đại diện bởi tổ chức của Đảng chứ không phải sự tham gia độc lập của từng cá nhân công dân. Báo cáo là một trong số ít nghiên cứu đánh giá về sự tham gia của người dân vào khu vực ngân sách nhà nước, mặc dù mới dừng lại ở cấp chính quyền thấp nhất và đo lường bằng Nghị định dân chủ cơ sở nhưng đã cung cấp khá rõ về quan điểm và định hướng phát triển quyền công dân này tại Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Đây là những đóng góp quan trọng cho tác giả khi hoàn thành Chương III của Luận án. Tài liệu Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ do World Bank và Bộ KHĐT xuất bản năm 2016. Tài liệu đã trình bày một cách khá toàn diện và khách quan về Việt Nam trên các lĩnh vực sau Đổi mới. Theo đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích khá nổi bật so với các quốc gia có cùng cơ sở hạ tầng tương đương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thực tế nhiều rủi ro như tham nhũng ngày càng khó dự đoán và nghiêm trọng, hiệu quả và hiệu lực của nhà nước còn chưa cao, trách nhiệm giải trình trước nhân dân của nhà nước còn thấp, năng lực thực thi quyền của công dân vẫn còn hạn chế, nhất là khi tham gia vào công việc của nhà nước…Tài liệu có giá trị đóng góp cho Luận án khi cung cấp và minh chứng các số liệu và các nhận định khách quan về sự tham gia của người dân vào quy trình ra quyết định chính sách của nhà nước. Nội dung này sẽ được phân tích và trình bày tại Chương 3 – Đánh  giá tính hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Báo cáo Đánh giá chi tiêu công Việt Nam: Chính sách tài khóa hướng tới bền vững, hiệu quả, công bằng do World Bank xuất bản năm 2017. Theo đó, Việt Nam được đánh giá là đã đạt những thành tựu nhất định sau cải cách bắt đầu từ năm 1986, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, ngân sách nhà nước đang phải đối mặt với những thách thức lớn trong bối cảnh dư địa tài khóa bị thu hẹp do thời gian trả nợ gốc các khoản vay ODA và các khoản vay khác trong quá khứ đã đến hạn đồng thời Việt Nam cũng không còn được nhận những khoản vay với lãi suất ưu đãi như trước kia. Bên cạnh đó, dưới góc độ hiệu quả thì tính kỷ luật tài khóa, hiệu suất phân bổ và sử dụng, chất lượng dự toán ngân sách đầu tư công còn chưa cao. Vốn đầu tư hiện đang bị dàn trải ở quá nhiều dự án nên việc phân bổ hàng năm chỉ đảm bảo một phần tổng mức đầu tư của dự án, gây ra chậm trễ và vượt dự toán. Hàng năm, có hàng vạn dự án được phê duyệt với quy mô bình quân tương đối nhỏ. Việc phê duyệt dự án nhiều khi không phù hợp với khả năng nguồn vốn…Báo cáo có giá trị cung cấp thông tin chính xác và trung lập về tình hình ngân sách nhà nước của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là các số liệu và các đánh giá liên quan đến cung cấp dịch vụ công và đầu tư công. Các kết luận cho thấy khả năng rất lớn, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tích cực thu hút nguồn vốn trong nước cho lĩnh vực đầu tư công và cung cấp các dịch vụ công cộng. Để đảm bảo tính hiệu quả cũng như mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan thì nhu cầu về thiết kế và ghi nhận quyền tham gia của người dân trong quy trình ngân sách là rất cần thiết. Báo cáo tổng quan này vì thế không chỉ cung cấp số liệu và thực trạng ngân sách nhà nước của Việt Nam như đã trình bày ở trên, mà còn cho thấy nhu cầu thật sự và cần thiết của sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. Báo cáo tổng quan Việt Nam năng động:Tạo nền tảng cho một nền kinh tế thu nhập cao do World Bank xuất bản tháng 5 năm 2020 với mục đích đưa ra những định hướng cho Việt Nam đang có khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Dựa trên nền tảng lý thuyết về quản lý tài sản quốc gia, theo đó, sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào cách quản lý các danh mục tài sản gồm: vốn sản xuất, vốn vật chất, vốn nhân lực, vốn tự nhiên trên nền tảng của khung thể chế phù hợp và hiệu quả. Báo cáo đã phân tích và đánh giá đồng thời 4 nhóm tài sản quốc gia với khung thể chế tương ứng, qua đó cho thấy hiệu quả và năng suất của tất cả các lĩnh vực đều cần được cải thiện. Liên quan đến Luận án, bản Báo cáo đã cung cấp các minh chứng cần thiết về tính hiệu quả của việc sử dụng và quản lý vốn vật chất (đầu tư cơ sở hạ tầng) và vốn nhân lực (giáo dục) từ ngân sách nhà nước. Theo đó, mặc dù đã sử dụng nguồn vốn cao hơn so với mặt bằng chung trên thế giới và tổng ngân sách quốc gia nhưng đầu tư cho cơ sở hạ tầng hiện nay chưa mang lại hiệu quả do chất lượng pháp lý liên quan đến đấu thầu và trách nhiệm của chính quyền địa phương. Đối với giáo dục, học phí thay vì được ngân sách hỗ trợ đã dồn lên vai người học đặc biệt là sinh viên đại học khiến cơ hội tiếp cận dịch vụ công trở nên hạn chế đối với những tầng lớp yếu thế. Cùng bối cảnh này, khi so sánh các chỉ số về quản trị Việt Nam đang đứng sau cùng so với các nước khác ở Đông Á khi không có xếp hạng tốt trong hầu hết các khía cạnh quản trị, đặc biệt là về kiểm soát tham nhũng, chất lượng pháp lý, tiếng nói người dân và trách nhiệm giải trình. Mối quan hệ tương quan giữa quản trị kém với hiệu quả và năng suất thấp trong các lĩnh vực công từ lâu đã được chứng minh trong các tài liệu và thực tế và Báo cáo có giá trị tham khảo trong quá trình Luận án thực hiện đánh giá tính hiệu quả của nguyên tắc tham gia trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên cho thấy, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước vẫn còn tồn tại những vấn đề như: Trong quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam, hiện chưa có định nghĩa cụ thể về sự tham gia của người dân, những nội dung liên quan đến sự tham gia như: hình thức tham gia; mức độ tham gia; phạm vi tham gia…được bao trùm bởi khái niệm về dân chủ cơ sở. Các quy định pháp luật về sự tham gia của người dân đã được quy định trong Hiến pháp các thời kỳ và gần đây, trong một số lĩnh vực nhưng còn phân tán, chưa có sự thống nhất. Trong hệ thống tài liệu, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, phần lớn dừng lại ở các nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong quản lý nhà nước hay các quy trình chính sách công. 1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài liên quan đến hướng nghiên cứu của Luận án. NCS đưa ra một số đánh giá sau đây: 1.1.3.1. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được Các công trình nghiên cứu của cộng đồng học giả nước ngoài đã xây dựng nền móng vững chắc về lý luận và thực tiễn liên quan đến sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. Những thành tựu này được kế thừa trong Luận án gồm: Thứ nhất, khái niệm về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, những đặc trưng của nó so với sự tham gia trong các quy trình chính sách công khác.Thứ hai, lịch sử phát triển và các tác nhân thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách trong những năm gần đây.Thứ ba, mức độ, hình thức, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước.Thứ tư, các giá trị sẽ đạt được khi áp dụng sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước.Thứ năm, một số ưu điểm và hạn chế khi áp dụng nguyên tắc tham gia nếu không dựa vào các nhân tố như: môi trường thể chế; thiết kế quy trình; các cơ chế tham gia; các mục tiêu và kết quả.Đối với nghiên cứu của của học giả trong nước, các công trình đã cung cấp tài liệu về sự tham gia của người dân trong các lĩnh vực công, đặc biệt là sự tham gia của người dân khi nhà nước cung cấp một số dịch vụ công nhất định. Quan điểm của Đảng về sự tham gia của người dân cũng được nghiên cứu khá sâu sắc dựa trên cơ sở lý thuyết về dân chủ XHCN. 1.1.3.2. Những vấn đề còn bỏ ngỏ và nhiệm vụ của Luận án Qua đánh giá tổng quan tài liệu nghiên cứu, có thể phát hiện thấy một số vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được bàn đến nhưng chưa đầy đủ liên quan đến đề tài Luận án, bao gồm các nhóm vấn đề sau: Đối với các nghiên cứu ở nước ngoài: Hiện nay, sự tham gia ngân sách của người dân đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong thực tế, với nhiều kinh nghiệm thành công như các ví dụ tại Hàn Quốc hoặc Brazil. Theo góc nhìn của các tổ chức quốc tế, sự tham gia là nguyên tắc quản trị quốc gia tốt, kỳ vọng trở thành “liều thuốc trị bách bệnh” trong quản trị khu vực công. Về cơ bản, các giá trị khi áp dụng nguyên tắc tham gia ngân sách của người dân đã được chứng minh và không còn nhiều bàn cãi trên các diễn đàn học thuật như phân bổ công bằng dịch vụ công; tăng cường dân chủ; thúc đẩy kinh tế phát triển... Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, việc áp dụng sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách cần phải tính đến sự ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau, như thể chế; mục tiêu áp dụng; thiết kế quy trình …vì vậy, khi tham khảo hoặc quyết định áp dụng cần cân nhắc và nghiên cứu thận trọng bởi việc đưa ra một công thức chung về sự tham gia của người dân để áp dụng cho tất cả các quốc gia với các bản sắc và đặc thù chính trị, xã hội khác nhau là không chính xác và cũng không mang lại hiệu quả. Đối với các công trình nghiên cứu ở Việt Nam: Thứ nhất, hiện chưa có đề tài nào trùng lặp với đề tài của Luận án. Đã có một số nghiên cứu về sự tham gia ngân sách của người dân nhưng chưa được khái quátvà hệ thống đầy đủ. Thứ hai, sự tham gia của người dân Việt Nam vào quy trình ngân sách chưa được hệ thống dưới góc độ lịch sử pháp lý.Thứ ba, đánh giá tính hiệu quả các quy định về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam chưa được thực hiện trong cộng đồng nghiên cứu trong và ngoài nước.Thứ tư, chưa có những gợi ý chính sách có tính hệ thống, giải pháp hoàn thiện một cách tổng thể, dự báo xu hướng phát triển về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách trong bối cảnh mới.Luận án sẽ được thực hiện theo hướng chọn lọc và kế thừa các công trình đã được công bố, bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu những vấn đề hiện đang còn bỏ ngỏ nhằm làm rõ khung lý thuyết và thực tiễn sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. Từ đó, đưa ra những gợi mở chính sách với mục đích hoàn thiện hệ quy định pháp luật về quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. 1.2. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 1.2.1. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 1.2.1.1. Câu hỏi nghiên cứuLuận án tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước được quy định và tổ chức thực hiện như thế nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam? Để giải quyết câu hỏi trọng tâm đó, Luận án lần lượt làm sáng tỏ những nội dung sau: Một là, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước là gì và tại sao người dân lại phải tham gia vào quy trình đó?Hai là, từ kinh nghiệm quốc tế có thể xác định cơ chế tham gia trực tiếp của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước hiệu quả như thế nào?Ba là, pháp luật Việt Nam quy định và tổ chức thực hiện như thế nào về quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước?Bốn là, pháp luật Việt Nam có những tồn tại, hạn chế gì cần được cải thiện để thúc đẩy sự tham gia hiệu quả của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam?1.2.1.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận án được thực hiện dựa trên các giả thuyết khoa học sau đây: Thứ nhất, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách là quyền cơ bản của con người, đồng thời là công cụ quản trị ngân sách nhà nước hiệu quả.Thứ hai, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại ViệtNam chịu sự ảnh hưởng từ sự định hướng và lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam về định dạng và mức độ tham gia. Thứ ba, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước nhưng ở mức độ thấp, chưa phù hợp giữa nội dung và hình thức tham gia.Thứ tư, hiệu quả tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là vào sự lãnh đạo của Đảng và thể chế pháp lý.1.2.2. Kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của Luận án Luận án có những kết quả và đóng góp cơ bản sau đây cho khoa học pháp lý: Thứ nhất, Luận án là một công trình khoa học độc lập, đánh giá được các nghiên cứu của các tác giả trong với phạm vi trong nước và quốc tế liên quan đến quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước. Thứ hai, Luận án xác định được sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các quy định pháp luật của Việt Nam về quyền tham gia cả người dân vào quy trình ngân sách nhà nước từ định hướng của ĐCSVN.Thứ ba, Luận án xác định được đặc trưng quyền tham gia ngân sách nhà nước ở Việt Nam được định danh là là hình thức dân chủ xã hội chủ nghĩa, đề cao tínhtập thể, người dân được khuyến khích tham gia trong một tổ chức của nhà nước. Thứ ba, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam ngày càng có sự tương thích với thông lệ quốc tế về hình thức, tuy nhiên, về bản chất, mức độ tham gia của người dân vào lĩnh vực này còn thấp vì quy định pháp luật bị phân mảng, chưa được thiết kế phù hợp.Thứ tư, Luận án xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân và từ cơ sở này, Luận án đưa ra một số khuyến nghị cải thiện và thúc đẩy sự phát triển quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 1.2.3. Lý thuyết nghiên cứuLuận án được thực hiện dựa trên cơ sở của các lý thuyết, học thuyết pháp lý sau đây: 1.2.3.1. Lý thuyết cấy ghép pháp luật. Lý thuyết này đi từ thuật ngữ “legal transplant” và được hiểu là sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài của một quốc gia một cách chủ động hoặc thụ động trong quá trình xây dựng pháp luật. Việc dịch chuyển hay khuếch tán pháp luật được phát triển và chịu sự ảnh hưởng của các nhà nghiên cứu pháp lý phương tây như Alan Watson với các tác phẩm như Legal Transplants: An Approach to Comparative Law xuất bản năm 1974; Society and Legal Change 1977 và Legal Transplants and Legal Reform xuất bản năm 1991; và nhà nghiên cứu Otto Kahn-Freund với tác phẩm On use and misuse of comparative Law và The modern law review xuất bản năm 1974. Theo đó, các tác giả cho rằng, pháp luật của một quốc gia có thể dễ dàng được tiếp nhận bởi một quốc gia khác mặc dù không có nhiều sự tương đồng. Tuy nhiên, việc tiếp nhận pháp lý này là một hoạt động mang tính thận trọng và cần cân nhắc bởi các nền tảng truyền thống văn hóa, lịch sử, kinh tế khi cấy ghép pháp luật. Tại Việt Nam, lý thuyết về cấy ghép pháp luật được sử dụng bằng thuật ngữ “tiếp nhận pháp luật nước ngoài[1]” (Đào Trí Úc và Lê Minh Thông, 1999); (Phạm Duy Nghĩa, 2002). Theo đó, các học giả đồng thuận rằng, Việt Nam là một quốc gia chuyển đổi và hệ thống pháp luật được xây dựng trên nhiều lớp luật (Bùi Ngọc Sơn)[2], việc tiếp nhận pháp luật lúc mang tính cưỡng chế như ở thời kỳ nhà nước phong kiến và thực dân đô hộ nhưng cũng có những thời điểm, việc tiếp nhận pháp luật mang tính chủ động như Việt Nam sau thời kỳ Đổi Mới, bắt đầu từ 1986 cho đến nay. Ban đầu là để khuyến khích khu vực tư nhân phát triển và để thúc đẩy mục tiêu này đạt đích, hàng loạt các quy định pháp luật ghi nhận quyền sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, bình đẳng của các thành phần kinh tế tư nhân …của nước ngoài đã được Việt Nam tiếp nhận. Bên cạnh những thành tựu này, một kết quả gián tiếp cũng được thấy xuất hiện ở Việt Nam, đó là sự chuyển đổi khá nhanh ở khu vực công. Từ những quy định pháp luật nước ngoài được tiếp nhận phục vụ phát triển kinh tế tư nhân, dần dà, đã tác động và chuyển đổi thể chế pháp lý khu vực công, theo đó, việc tiếp nhận các tư tưởng về nhà nước trong mối quan hệ với người dân được nhìn nhận và đánh giá lại, Việt Nam đã tiếp nhận cấu trúc pháp lý nhà nước pháp quyền trên nền tảng thể chế xã hội chủ nghĩa thể hiện bắt đầu trong Hiến pháp (2001), động thái này bắt đầu cho việc tiếp nhận các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước và người dân ngày càng rộng hơn về phạm vi và nội hàm. Đó là, trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch là nghĩa vụ của nhà nước và trở thành các nguyên tắc trong xây dựng và hoạt động của bộ máy nhà nước. Người dân với các quyền con người và quyền công dân lần đầu được ghi nhận riêng biệt, đặc biệt là Hiến pháp 2013 được coi là bản Hiến pháp với các quyền con người và quyền công dân được quy định ở phạm vi rộng nhất trong lịch sử lập hiến của Việt Nam. Từ Hiến pháp, các quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân Việt Nam bắt đầu được thể chế vào các ngành luật độc lập, ngay cả với Luật ngân sách nhà nước, khu vực vốn được coi là không gian riêng của nhà nước, năm 2015, Luật Ngân sách Nhà nước cũng đã bắt đầu mở lối, mặc dù còn là khung cửa hẹp nhưng việc cho rằng ngân sách nhà nước được giám sát bởi cộng đồng (Điều 16 Luật Ngân sách 2015) cũng đã cho thấy sự chuyển biến và tiếp nhận pháp luật nước ngoài thực sự đã hiện diện ở Việt Nam. 1.2.3.2. Lý thuyết về sở hữu và điều hành. Lý thuyết về sở hữu và điều được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính công truyền thống và hiện đại. Theo đó, giữa nhà nước và người dân có mối quan hệ đặc biệt, trong đó, nhà nước tồn tại và vận hành dựa trên nguồn lực được đóng góp và nuôi dưỡng thông qua các khoản thuế, phí và lệ phí..của người dân. Vì thế, người dân chính là chủ sở hữu thực thụ của ngân sách nhà nước và các nguồn lực công khác. Tuy nhiên, do đặc trưng xuất phát từ vai trò và chức năng của nhà nước, mà người dân sẽ không trực tiếp quản lý và sử dụng nguồn lực công, quá trình này được ủy quyền cho nhà nước. Chủ sở hữu thực sự nhưng không sử dụng, quản lý và vận hành tài sản của mình, đây chính là đặc trưng và cũng là cách thức vận hành phổ biến nhất trên thế giới đối với nguồn ngân sách của các nhà nước. Để đảm bảo rằng tài sản công được sử dụng hiệu quả, các cơ chế quản lý được thiết kế nhưng hiệu quả nhất vẫn là các quy định pháp luật. Ở đó, nhà nước sử dụng và quản lý ngân sách, người dân, với tư cách là chủ sở hữu có quyền giám sát, theo dõi và tham gia nhằm đảm bảo rằng nguồn lực được sử dụng đúng đắn. Lý thuyết về sở hữu điều hành là cơ sở để khẳng định rằng, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước không chỉ là quyền con người cơ bản, nó còn xuất phát từ mối quan hệ chủ sở hữu với người điều hành, vì thế, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách không còn là vấn đề cần tranh biện, thậm chí, khi các cơ chế đại diện không phản ánh đúng nguyện vọng và nhu cầu thực sự của cử tri, người dân có quyền tự mình tham gia trực tiếp vào quy trình ngân sách nhà nước, đặc biệt là với các hoạt động phân bổ ngân sách cho các mục đích cung cấp dịch vụ để gây ảnh hưởng và ra quyết định phân bổ nguồn lực công này cho phù hợp với những nhu cầu thiết thực mà người dân/chủ sở hữu thực thụ đang thực sự cần thiết. 1.2.3.3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng. Lý thuyết này được Akerlof (1970) giới thiệu, theo đó, thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ và tốt hơn so với (các) bên còn lại. Bất cân xứng thông tin là tình trạng phổ biến trong xã hội và có thể diễn ra trong mối quan hệ giữa nhà nước với người dân. Theo đó, nhà nước được người dân ủy quyền quản lý, ví dụ như quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước. Mối quan hệ giữa chủ sở hữu ngân sách nhà nước (người dân) với người thừa hành (nhà nước) mang tính đặc biệt như đã trình bày ở trên nên nhà nước có nhiều lợi thế về thông tin hơn có thể dẫn đến hậu quả là người được ủy quyền (nhà nước) vượt quá thẩm quyền hoặc vi phạm các các cam kết (quy định pháp luật ngân sách nhà nước). Vì vây, để hạn chế và loại trừ các rủi do này lựa chọn ủng hộ và ghi nhận quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước vì người dân là chủ sở hữu nên tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước là quyền của người dân, hơn nữa, kiểm soát tham nhũng, tăng cường ủng hộ nhà nước, phân bổ công bằng dịch vụ công đã được kiểm chứng bằng các nghiên cứu lý và các nghiên cứu thực địa trên thế giới. 1.2.4. Phương pháp nghiên cứuDựa trên khung khổ lý thuyết ở trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả lựa chọn và kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: Phương pháp lịch sử: nghiên cứu lịch sử phát triển quyền tham gia ngân sách nhà nước trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt từ thời điểm Đổi Mới cho đến nay. Phương pháp thống kê, mô tả: để tập hợp các tài liệu nghiên cứu về quyền tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước nhằm xác định tình hình nghiên cứu quốc tế và Việt Nam. Sử dụng phương pháp phân tích luật viết trong toàn bộ Luận án làm sáng tỏ các nội dung từ các quy định pháp luật về sự tham gia của người dân, từ đó, Luận án cho thấy các hình thức và mức độ tham gia ngân sách của người dân theo quy định của pháp luật Việt Nam. Phương pháp tổng hợp: với mục đích tập hợp văn bản và quy phạm pháp luật liên quan đến quyền tham gia vào quy trình ngân sách nhà nước của người dân ở Chương III nhằm đánh giá tính hiệu quả của các quy phạm pháp luật.                        KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Qua khảo cứu tổng quan lý thuyết tại Chương 1, có thể thấy rằng, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước là một chủ đề được nghiên cứu có hệ thống và tương đối đầy đủ trong cộng đồng nghiên cứu trên thế giới. Những vấn đề lý luận như khái niệm, bản chất, đặc điểm; các mức độ và hình thức tham gia; vai trò và các giá trị mà sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước đã được chứng minh và nhận được sự đồng thuận rộng rãi. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước tại Việt Nam một cách đầy đủ dựa trên bối cảnh chính trị đặc thù của Việt Nam. Tại Việt Nam, nghiên cứu của các học giả trong nước, chủ yếu tập trung vào sự tham gia của người dân trong lĩnh vực công. Sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước hầu như không có nghiên cứu nào đầy đủ và hệ thống. Một giả thiết được đặt ra là, gần đây, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách mới được quy định trong pháp luật chuyên ngành, không cởi mở đón nhận vai trò của người dân trong lĩnh vực này là quan điểm trước đây của nhà nước, việc cố gắng tiếp cận đối với những thông tin ngân sách chưa được công bố, người dân có thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý trước nhà nước đã từng là một quy định bắt buộc. Có thể đây cũng là lý do, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống tại Việt Nam. Từ những vấn đề còn bỏ ngỏ ở trên, Luận án xác định các nhiệm vụ trọng tâm gồm: Thứ nhất, Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý thuyết về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách, đó là: khái niệm và bản chất, các đặc trưng và vai trò, các hình thức và mức độ, các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước.Thứ hai, Luận án góp phần xây dựng các quan niệm đầy đủ về sự tham gia của người dân nói chung và vào quy trình ngân sách nói riêng, và thể chế hóa chúng trong quy định của pháp luật. Các hình thức, mức độ và phạm vi tham gia theo quy định hiện hành được xem như một hình thức thực hiện dân chủ cơ sở. Luậnán có nhiệm vụ làm rõ các đặc thù của sự tham gia của người dân tùy theo ở Việt Nam. Thứ ba, sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước được cho là đã có dấu hiệu manh nha từ khá sớm trong lịch sử pháp luật Việt Nam và được thúc đẩy mạnh mẽ từ thời kỳ Đổi Mới. Luận án sẽ góp phần phân tích quy định của pháp luật và đánh giá việc tổ chức thực hiện quá trình này.Thứ tư, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào cả trong và ngoài nước nghiên cứu có hệ thống về sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước, do đó, đánh giá tính hiệu quả, các giá trị mà sự tham gia của người dân vào quy trình ngân sách nhà nước mang lại, cũng như các gợi ý về chính sách, các dự báo phát triển sự tham gia của người dân vào quy trình nghiên cứu cũng  là một nội dung mà Luận án hướng tới để giải quyết. [1] Các nhà nghiên cứu ở VN nghiên cứu về cấy ghép pháp luật gồm có: (1) Đào Trí Úc, Lê Minh Thông. Sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương Đông và phương Tây đối với sự phát triển các tư tưởng pháp lý Việt Nam, xuất bản trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tháng 5/1999, tr. 3-16; (2)  Phạm Duy Nghĩa với bài viết: Tiếp nhận pháp luật nước ngoài-Thời cơ và thách thức mới cho nghiên cứu lập pháp, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2002, tr. 50-57; (3) Trần Ngọc Đường, Nhu cầu và thực tiễn tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam hiện nay và (4) Bùi Xuân Hải, Tiếp nhận pháp luật nước ngoài, lý thuyết và thực tiễn trong pháp luật công ty của Việt Nam (https://phapluatdansu.edu.vn/2007/09/17/10/50/12423/ ( truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2021). [2] Bui Ngoc Son, 2017, The Law of China and Vietnam in Comparative Law, Fordham International Law Journal