0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file648595c160330-LÝ-LUẬN-CHUNG-VỀ-BẢO-HỘ-QUYỀN-TÁC-GIẢ-TRONG-MÔI-TRƯỜNG-INTERNET-.jpeg.webp

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET

2.1. Khái niệm, đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả 

2.1.1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả 

Quyền tác giả cho phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền khai  thác, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Về bản chất, quyền tác giả là quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác  phẩm. Nghĩa là, quyền tác giả được xác định trong một phạm vi và thời hạn nhất  định. Đó là quyền ngăn cấm người thứ ba khai thác, sử dụng tác phẩm được bảo hộ.  Tác phẩm được bảo hộ là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và  khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Pháp luật Việt Nam  công nhận cho người sáng tạo tác phẩm hai nhóm quyền cơ bản: quyền nhân thân  và quyền tài sản. Người sáng tạo tác phẩm không cần đăng ký để được thụ hưởng  quyền tác giả mà chỉ cần thỏa mãn ba điều kiện: (i) tác giả là người sáng tạo ra tác  phẩm, (ii) tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, (iii) tác  phẩm phải được thể hiện trên một lãnh thổ mà ở đó bảo hộ quyền tác giả. 

Bảo hộ là việc ghi nhận và đảm bảo cho ai đó hoặc cái gì đó trong tình trạng  an toàn. Bảo hộ là “che chở, không để bị tổn thất”24. Như vậy, bảo hộ quyền tác giả là những hành động mang tính chất che chở quyền tác giả nhằm không để xảy ra tổn  thất về vật chất, tinh thần. Chú thích 3, Điều 3, Hiệp định TRIPS định nghĩa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm tất cả các vấn đề liên quan điều kiện bảo hộ, duy trì  hiệu lực và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề liên quan đến sử dụng quyền sở hữu trí tuệ. Bảo hộ quyền tác giả là việc Nhà nước công nhận quyền  của tác giả đối với tác phẩm, quy định và bảo vệ cho tác giả các quyền pháp lý cụ thể đối với tác phẩm nhằm làm cho tác giả thực sự hưởng được các lợi ích vật chất  và tinh thần có được từ quyền tác giả.  

Bảo hộ quyền tác giả đem lại sự bù đắp vật chất cho người sáng tạo nhằm  khuyến khích hoạt động sáng tạo. Bảo hộ quyền tác giả đảm bảo khả năng khai thác  độc quyền lợi ích vật chất từ tác phẩm sẽ gián tiếp khuyến khích tác giả đưa sản  phẩm do mình sáng tạo lưu hành trong công chúng. Do đó, bảo hộ quyền tác giả  còn tạo điều kiện cho công chúng được tiếp cận tác phẩm một cách phù hợp. Các  tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật được sáng tạo trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nếu tác giả cần công chúng thưởng thức tác phẩm thì công chúng cần được tiếp  cận tri thức, tận hưởng văn hóa, nghệ thuật. Tác giả yêu cầu tác phẩm do mình sáng  tạo phải được bảo vệ, chống lại việc sử dụng tác phẩm mà không được sự đồng ý  của tác giả. Trong khi công chúng yêu cầu quyền được khai thác tác phẩm với lý do  tiếp cận tri thức, tận hưởng văn hóa, nghệ thuật.  

Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của người  sáng tạo và lợi ích công cộng nhằm tạo động lực cho các nỗ lực sáng tạo thông qua  việc dành sự thừa nhận chính thức đối với người sáng tạo, tạo nguồn cung cấp  thông tin quan trọng cho xã hội. Bảo hộ quyền tác giả là sự thỏa hiệp ngầm định và  tương đối giữa lợi ích của người sáng tạo tác phẩm và lợi ích công cộng. Đây là triết  lý cơ bản của gần như tất cả các điều ước quốc tế và pháp luật mọi quốc gia. Lần  đầu tiên trên thế giới, Đạo luật bản quyền Anh năm 1710 quy định chủ sở hữu  quyền tác giả phải gửi bảy bản sao tác phẩm tới bảy thư viện lớn. Nghĩa là, người  sáng tạo tác phẩm muốn được bảo hộ quyền tác giả thì phải cung cấp miễn phí bản  sao tác phẩm cho công chúng thông qua các thư viện. Mục đích của quy định pháp  luật này là để đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo và công chúng. 

Như vậy, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải thiết lập được một sự cân  bằng giữa lợi ích của người sáng tạo và lợi ích công cộng xoay quanh tác phẩm  được bảo hộ. Bảo hộ quyền tác giả phải xác lập, bảo vệ quyền kiểm soát hành vi  khai thác, sử dụng tác phẩm nhưng cũng phải đảm bảo quyền tự do tiếp cận tri thức,  tận hưởng văn hóa, nghệ thuật. Để thực hiện chức năng này, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải cân nhắc hai vấn đề sau: 

(i) Xác lập, công nhận quyền tác giả cho các tổ chức, cá nhân với việc quản lý,  sử dụng, khai thác quyền tác giả; bảo vệ quyền tác giả chống lại các hành vi xâm  phạm nhằm đảm bảo cho tác giả quyền kiểm soát hành vi khai thác, sử dụng tác  phẩm của người dùng Internet, tạo động lực đủ mạnh để khuyến khích hoạt động  sáng tạo 

(ii) Xác lập, công nhận một số trường hợp ngoại lệ quyền tác giả cho phép điều  hòa giữa yêu cầu của việc bảo hộ quyền tác giả với các yêu cầu khác vì lợi ích  chung nhằm đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa, tận hưởng nghệ thuật, tiếp cận tri  thức

Hài hòa và cân bằng lợi ích giữa các chủ thể là một trong những điều kiện  căn bản để đảm bảo tính đúng đắn, khả thi của các quy định pháp luật về quyền tác  giả trong thực tiễn. Điều đó có nghĩa là, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả chỉ có  giá trị thực thi cao khi các chủ thể còn lại chấp nhận các giá trị cơ bản mà pháp luật  đặt ra. Quyền tác giả có thể bóp méo cạnh tranh, cản trở lưu thông hàng hóa dịch vụ và hạn chế khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với sản phẩm sáng tạo. Vì vậy, một  số quy định pháp luật được ban hành và một số học thuyết được hình thành nhằm  đảm bảo lưu thông thị trường, cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu quyền tác giả và  lợi ích công cộng.  

Bảo hộ quyền tác giả quá mức có thể chuyển giao thặng dư cho người sáng  tạo, hi sinh lợi ích của công chúng và hạn chế khả năng tiếp cận tri thức cho các  sáng tạo tiếp theo. Bảo hộ quyền tác giả phải cân bằng lợi ích của người sáng tạo  và lợi ích công cộng bằng cách quy định những trường hợp sử dụng tác phẩm được bảo hộ mà không cần xin phép. Các trường hợp này như một thông điệp nhắc nhở rằng quyền tác giả được đặt ra để đảm bảo lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội. Sự hài hòa và cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo với lợi ích của công chúng  nhằm đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: 

Thứ nhất, yêu cầu của quyền tự do ngôn luận: Tự do ngôn luận là vấn đề đã được thừa nhận ở các điều ước quốc tế. Quyền tự do ngôn luận là cơ sở cơ bản  cho sự vận hành của một xã hội dân chủ đồng thời cũng phục vụ cho việc nâng cao  mức độ minh bạch và trách nhiệm xã hội. Việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận bao  gồm hai khía cạnh là tự do thể hiện ý tưởng và tự do tiếp nhận ý tưởng. Ở khía  cạnh thứ hai của quyền tự do ngôn luận thì việc tiếp nhận các ý tưởng, tri thức có  thể mâu thuẫn với lợi ích của người sáng tạo trong những trường hợp khai thác tác  phẩm đã công bố.  

Thứ hai, yêu cầu tăng cường các giá trị xã hội: Các kiến thức và kỹ năng mà  con người có thể tiếp cận từ các tác phẩm được bảo hộ là nguồn nguyên liệu quan  trọng cho sự tăng trưởng trong bất kỳ xã hội nào. Tuy nhiên, chủ sở hữu quyền tác  giả có quyền định đoạt mức chi phí để công chúng có thể tiếp cận tác phẩm do mình  sáng tạo. Chính điều này đã ngăn cản việc tiếp cận tác phẩm được bảo hộ của những  người không có khả năng chi trả. Bảo hộ quyền tác giả quá mức có thể dẫn đến việc  tạo ra chi phí quá lớn cho các chủ thể khác trong xã hội. Việc cho phép tiếp cận tác  phẩm được bảo hộ trong những trường hợp ngoại lệ quyền tác giả sẽ bù đắp cho  những chủ thể khác và giúp tái cân bằng xã hội. 

Thứ ba, yêu cầu bảo vệ lợi ích công cộng: Lợi ích công cộng là đại diện cho  lợi ích của nhà nước nhưng cũng bao gồm lợi ích của từng cá nhân, lợi ích chung  của toàn xã hội. Thuật ngữ lợi ích công cộng hiện nay được sử dụng một cách linh  hoạt để chỉ bất kỳ loại lợi ích nào có lợi cho công chúng khi đồng nghĩa với các  khái niệm “lợi ích chung”. Đây là một trong những vấn đề quan trọng mà pháp luật  về bảo hộ quyền tác giả phải xem xét. 

Như vậy, xét về tổng lợi ích xã hội thì pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải  đáp ứng các tiêu chí sau: (i) chỉ được áp dụng cho xã hội một khi dự kiến được sẽ mang lại tổng phúc lợi xã hội tối ưu; (ii) cung cấp các quyền độc quyền pháp lý  dành cho người sáng tạo như một động lực khuyến khích hoạt động sáng tạo; (iii)  kích thích sản xuất và sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học để đóng  góp tối đa tổng phúc lợi xã hội. 

Bảo hộ quyền tác giả hiểu một cách chung nhất là việc Nhà nước ban hành  các quy phạm pháp luật, tạo cơ sở cho việc xác lập, công nhận và bảo vệ quyền, lợi  ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do họ sáng tạo. Nhà nước  thực hiện các thủ tục xác lập quyền tác giả, thực hiện quản lý nhà nước đối với  quyền tác giả, quy định các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quy định những biện  pháp xử lý quyền tác giả nhằm chấm dứt hành vi xâm phạm quyền tác giả, đảm bảo  cho quyền tác giả được tôn trọng. Chủ thể thực hiện hành vi bảo hộ quyền tác giả là  nhà nước còn chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ quyền tác giả có thể là nhà nước  hoặc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Trong khi đó, chủ thể thực thi quyền tác giả có thể là nhà nước, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc các chủ thể khác như hiệp hội, tổ chức tập thể. 

Đối với bảo hộ quyền tác giả, Nhà nước thực hiện rất nhiều hành vi khác  nhau, từ thực hiện thủ tục xác lập quyền, quản lý nhà nước đến xác định hành vi  xâm phạm và quy định biện pháp xử lý hành vi xâm phạm. Đối với bảo vệ quyền  tác giả thì chủ thể quyền và các cơ quan nhà nước chỉ được phép tiến hành các biện  pháp bảo vệ được pháp luật quy định. Đối với thực thi quyền tác giả, các chủ thể thực thi quyền có thể áp dụng các biện pháp luật định và các biện pháp không trái  với quy định pháp luật34. Ở Việt Nam, khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lần  đầu được quy định trong Phần thứ V, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Trước đó,  những khái niệm được sử dụng thường xuyên là “bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” và  “thực thi quyền sở hữu trí tuệ”. Công ước Berne, Hiệp ước WCT đều sử dụng khái  niệm bảo hộ quyền tác giả và thực thi quyền tác giả.  

Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả có thể hiểu là việc nhà nước xác lập, công nhận  và đảm bảo các quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm nhằm kiểm  soát hành vi khai thác, sử dụng tác phẩm; cho phép hoặc ngăn cấm chủ thể khác  khai thác tác phẩm phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cân bằng  giữa lợi ích của người sáng tạo tác phẩm và lợi ích công cộng. 

2.1.2. Mục đích của bảo hộ quyền tác giả 

Bảo hộ quyền tác giả mang đầy đủ những nội dung của bảo hộ quyền sở hữu  trong môi trường vật chất hữu hình. Nghĩa là, quyền tác giả là sự bảo hộ của nhà  nước được đảm bảo bằng pháp luật đối với người sáng tạo. Mặt khác, quyền tác giả là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình là tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật nên bảo hộ quyền tác giả còn có hai mục đích sau: (i) bảo hộ quyền tác giả nhằm  đảm bảo quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm, (ii) bảo hộ quyền tác  giả nhằm đảm bảo lợi ích công cộng bằng quy định pháp luật về ngoại lệ quyền tác  giả.  

Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả nhằm đảm bảo quyền độc quyền dành cho  người sáng tạo tác phẩm. 

Các quyền tài sản của người sáng tạo tác phẩm được pháp luật Việt Nam bảo  hộ gồm: Quyền làm tác phẩm phái sinh; quyền biểu diễn tác phẩm trước công  chúng; quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao  tác phẩm; quyền truyền đạt tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng  thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; quyền cho thuê bản  gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Các quyền này do tác  giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực  hiện. Việc công nhận quyền tác giả là một quyền độc quyền có thể xem như một vũ  khí hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của tác giả. Quyền tác giả cho phép người sáng tạo tác phẩm độc quyền khai thác lợi ích vật chất từ tác phẩm và không ai có thể khai thác tác phẩm khi không được tác giả cho phép. Từ đó, mọi người đều yên tâm  sáng tạo và khuyến khích cả công đồng sáng tạo. Nếu không bảo hộ quyền độc  quyền của người sáng tạo tác phẩm thì tác giả chỉ có thể sáng tạo vì niềm đam mê  

và hoạt động sáng tạo nói chung của cộng đồng sẽ không được khuyến khích.  Quyền tác giả là quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm. Nghĩa  là được pháp luật quy định và được bảo vệ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.  Nói cách khác, quyền tác giả được bảo hộ thông qua việc bảo vệ các quyền độc  quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm. Số lượng và nội dung quyền độc quyền  dành cho tác giả sẽ thể hiện phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải ghi nhận, đảm bảo cho tác giả quyền độc quyền sử dụng, khai  thác tác phẩm được bảo hộ. Đồng thời, phải đảm bảo lợi ích công cộng thông qua  quy định pháp luật về các trường hợp khai thác tác phẩm đã công bố mà không phải  xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.  

Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người thể hiện quyền được bảo vệ đối với  kết quả sáng tạo của con người như sau: “Mọi người đều có quyền tự do tham gia  vào đời sống văn hóa của cộng đồng, sáng tạo nghệ thuật và tham gia hoạt động  khoa học. Mỗi người đều có quyền được bảo vệ lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần  có được từ hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật mà họ là tác giả”36. Tuyên bố này khẳng định việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng  là một trong những yêu cầu cơ bản để bảo vệ hoạt động sáng tạo của con người. 

Nhà nước bảo hộ quyền tác giả để đảm bảo cho người sáng tạo tác phẩm văn học,  khoa học, nghệ thuật quyền kiểm soát việc sử dụng, khai thác tác phẩm trong một  thời hạn nhất định, không ai có quyền khai thác tác phẩm khi không được sự cho  phép của chủ sở hữu quyền tác giả.  

Quyền tác giả đảm bảo lợi thế thương mại cho người sáng tạo tác phẩm,  cung cấp động lực to lớn để thúc đẩy hoạt động sáng tạo nhằm nâng cao đời sống  tinh thần của toàn nhân loại. Do đó, một trong những mục đích quan trọng nhất của  bảo hộ quyền tác giả là xác định phạm vi quyền độc quyền dành cho người sáng tạo  tác phẩm từ đó tạo ra lợi thế thương mại cho tác giả. Quyền tác giả cũng là một  phần thưởng trao cho người sáng tạo, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Thông  qua quyền tác giả, người sáng tạo tác phẩm có quyền kiểm soát các chủ thể khác  thực hiện hành vi sao chép, phân phối, truyền đạt, cho thuê tác phẩm. 

Internet phát triển đã đặt ra những vấn đề chưa từng xuất hiện trong môi  trường vật chất hữu hình. Công nghệ kỹ thuật số cho phép tạo bản sao tác phẩm số với chất lượng như bản gốc mà không tốn chi phí hoặc chi phí rất thấp đã đặt ra vấn  đề cần phải xem xét lại khái niệm nền tảng của quyền tác giả là quyền sao chép.  Hơn nữa, hành vi áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm  quyền tác giả trong môi trường Internet cũng đặt ra vấn đề cần phải xem xét phạm  vi quyền tự bảo vệ tác phẩm bằng biện pháp công nghệ nhằm đảm bảo quyền của  người sáng tạo tác phẩm. 

Thứ hai, bảo hộ quyền tác giả nhằm đảm bảo lợi ích công cộng bằng quy định  pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả. 

Bảo hộ quyền tác giả nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng tiếp cận tác phẩm  một cách thích hợp. Bản thân việc bảo hộ đảm bảo cho tác giả khả năng khai thác  độc quyền lợi ích vật chất từ tác phẩm đã gián tiếp khuyến khích tác giả đưa tác  phẩm lưu hành rộng rãi, qua đó giúp công chúng được tiếp cận với tác phẩm.  Quyền độc quyền của tác giả đối với tác phẩm chỉ có tính tương đối bởi vì các  quyền độc quyền này cần phải tôn trọng các lợi ích cơ bản khác. Một số hạn chế được giải thích là do sự cần thiết của việc phải bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản  (tự do báo chí, tự do ngôn luận…) điển hình như các quyền trích dẫn, phân tích,  đánh giá báo chí… Tuy nhiên, đối với một số hạn chế khác thì được giải thích dựa  trên lợi ích công cộng, ví dụ như sử dụng tác phẩm vì mục đích giảng dạy, nghiên  cứu hay các hoạt động tuyên truyền. Mặt khác, quyền tác giả cũng giống như , quyền sở hữu và các loại quyền khác đều chịu sự ràng buộc của quy định pháp luật  được ban hành nhằm đảm bảo quyền tự do cho tất cả mọi người.  Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người39 cũng khẳng định rằng: “mọi người  đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, để tận hưởng  nghệ thuật và được chia sẻ tiến bộ khoa học và lợi ích của nó" và “mọi người đều  được hưởng quyền giáo dục”. Tuyên ngôn này khẳng định con người phải được  đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa, tận hưởng nghệ thuật và được hưởng quyền giáo  dục. Quyền con người được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) quyền con người với nghĩa  bị động: là quyền được tiếp cận với văn hóa, nghệ thuật, khoa học; (ii) quyền con  người với nghĩa chủ động: là quyền của người sáng tạo nhằm bảo vệ những giá trị tinh thần và giá trị vật chất đạt đươc từ hoạt động sáng tạo của tác giả. Điều này  thể hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải đảm bảo yêu cầu cân bằng lợi ích  giữa quyền tác giả và quyền con người. 

Bảo hộ quyền tác giả có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa quyền của người sáng tạo  và quyền con người. Một mặt, cần phải bảo hộ quyền tác giả nhằm khuyến khích  hoạt động sáng tạo. Mặt khác, để nâng cao trình độ khoa học, giáo dục, văn hoá thì  công chúng cần phải được quyền tiếp cận tác phẩm cho các mục đích phù hợp. Do  đó, bên cạnh việc nhà nước công nhận quyền nhân thân, quyền tài sản dành cho  người sáng tạo tác phẩm thì pháp luật về bảo hộ quyền tác giả cũng cho phép người  dùng khai thác tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả trong  một số trường hợp nhằm đảm bảo quyền tiếp cận tri thức, tận hưởng văn hóa, nghệ thuật của nhân loại41. 

Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả phải đảm bảo rằng thông tin được phổ biến tự do  vì lợi ích công cộng, làm giảm chi phí sáng tạo, khuyến khích tạo ra các tác phẩm  mới, khuyến khích cạnh tranh là hết sức cần thiết. Mục tiêu của bảo hộ quyền tác  giả là phải thúc đẩy lợi ích xã hội bằng cách khuyến khích hoạt động sáng tạo và  phổ biến các tác phẩm mới cho công chúng. Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả chỉ được coi là có ích một khi pháp luật tăng cường được tổng phúc lợi xã hội của cả cộng đồng. 

Vì lẽ đó, triết lý cơ bản của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả là phải cân bằng  được lợi ích của người sáng tạo và lợi ích công cộng. Pháp luật về bảo hộ quyền  tác giả là sự mặc cả và thỏa hiệp ngầm định giữa lợi ích của người sáng tạo tác  phẩm và lợi ích công cộng xoay quanh tác phẩm được bảo hộ. Trước hết, chủ sở 

hữu quyền tác giả có những quyền lợi cơ bản và xác định trong một khoảng thời  gian nhất định. Nhưng nếu người sáng tạo nhận được quá nhiều quyền độc quyền  thì có thể làm giảm lợi ích công cộng. Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải cân  nhắc quyền lợi của công chúng với việc cho phép khai thác tác phẩm được bảo hộ trong những trường hợp ngoại lệ quyền tác giả.  

Ngoại lệ quyền tác giả đề cập đến những trường hợp công chúng có thể khai  thác tác phẩm đã công bố mà không cần phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.  Việc khai thác nghĩa là thực hiện các hành vi thuộc phạm vi quyền tác giả nhưng  không cần phải xin phép tác giả, không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Đây là  những trường hợp pháp luật bắt buộc chủ sở hữu quyền tác giả phải cho phép công  chúng được khai thác tác phẩm trong một số trường hợp nhất định. Mặc dù được  khái quát chung như vậy, song cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất ở cấp  độ quốc tế và quốc gia về ngoại lệ quyền tác giả. Một số học giả cho rằng “ngoại lệ”  có nghĩa là sử dụng miễn phí trong khi “giới hạn” bao gồm việc sử dụng miễn phí  và cho phép khai thác tác phẩm theo quy định pháp luật hoặc thu hẹp phạm vi quyền độc quyền tác giả. 

Công ước Berne, Hiệp định TRIPS, Hiệp ước WCT cũng cho phép các quốc  gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội sẽ xây dựng nên những quy định về ngoại  lệ hoặc giới hạn khác nhau trong những trường hợp được xác định. Nhìn chung,  pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả của các quốc gia trên thế giới được thiết kế theo  hướng căn cứ vào các yếu tố cần xem xét đối với từng vụ việc cụ thể hoặc liệt kê  những trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không cần xin phép. Cụ thể như sau: 

Một là, xác định ngoại lệ quyền tác giả bằng các quy định pháp luật về các  yếu tố cần xem xét đối với từng vụ việc cụ thể. Phương thức này có nhược điểm là  không tạo ra sự chính xác triệt để nhưng có ưu điểm là hết sức linh hoạt. Điển  hình cho hệ thống pháp luật này là Luật Bản quyền của Hoa Kỳ. “Sử dụng hợp lý”  (fair use) là quy định của pháp luật Hoa Kỳ cho phép khai thác tác phẩm trong một  số trường hợp không cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả về lý thuyết  được áp dụng đối với tất cả các quyền độc quyền dành cho tác giả. Để xác định  việc khai thác tác phẩm trong một trường hợp cụ thể được coi là sử dụng hợp lý hay  không thì phải xem xét bốn yếu tố sau đây: 

- Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, dù việc sử dụng đó có bản chất phục  vụ thương mại hay vì mục đích giáo dục phi lợi nhuận; 

- Bản chất của tác phẩm; 

- Khối lượng và bản chất được sử dụng trong mối quan hệ với toàn bộ tác  phẩm có bản quyền. Vì sẽ là không công bằng nếu tác phẩm được sử dụng nhiều  hơn mức cần thiết trong ý nghĩa của trường hợp ngoại lệ; 

- Ảnh hưởng của việc sử dụng đối với thị trường tiềm năng hoặc giá trị của tác  phẩm có bản quyền. Có nghĩa là, cần phải cân đối giữa lợi nhuận chủ sở hữu quyền  tác giả sẽ nhận được và lợi ích mà công chúng có được từ việc khai thác tác phẩm  nếu việc khai thác được coi là công bằng. Việc một tác phẩm chưa được xuất bản  không cản trở việc đưa ra kết luận về sử dụng hợp lý nếu kết luận đó được rút ra  nhờ xem xét tất cả những yếu tố trên49.  

Hai là, xác định ngoại lệ quyền tác giả bằng quy định pháp luật về những  trường hợp sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng quy định ngoại lệ quyền tác giả bằng phương  pháp liệt kê này.  

Ở Việt Nam, ngoại lệ quyền tác giả lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật  Dân sự 1995 như sau: “Cá nhân, tổ chức được khai thác tác phẩm của người khác  đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng  đó không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác  bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ 

sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức khai thác tác phẩm không phải xin phép và  không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi  hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm”. Việc khai thác tác phẩm bao gồm  các hình thức sau đây: “Sao lại tác phẩm để sử dụng riêng; trích dẫn tác phẩm mà  không làm sai lạc ý của tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của  mình; trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để viết báo, để dùng  trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;  trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để giảng dạy, kiểm tra kiến  thức trong nhà trường; Sao lại tác phẩm để lưu trữ, dùng trong thư viện; dịch, phổ biến tác phẩm từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam và ngược lại; biểu  diễn các tác phẩm sân khấu và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các  buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động ở nơi công cộng; ghi âm, ghi hình  trực tiếp các buổi biểu diễn với tính chất đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy; chụp  ảnh, truyền hình, giới thiệu hình ảnh của tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh,  mỹ thuật ứng dụng trưng bày ở nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của các tác  phẩm đó; chuyển tác phẩm sang chữ nổi cho người mù”50.  

Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ như sau: “Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong  phạm vi và thời hạn bảo hộ; việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm  phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên  quan”; công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ  sở đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng;  khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần  phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”51. Để cụ thể hóa quy định pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả, Luật sở hữu trí tuệ Việt  Nam sử dụng phương pháp liệt kê những trường hợp được sử dụng tác phẩm đã  công bố mà không phải xin phép. Theo đó, hành vi sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả khi và chỉ khi đáp ứng cả hai  điều kiện sau đây: 

(i) Điều kiện thứ nhất: Để được xem là ngoại lệ quyền tác giả thì việc sử dụng  tác phẩm phải thuộc các hành vi được liệt kê thuộc hai trường hợp xác định sau: Một là, trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép,  không phải trả thù lao, nhuận bút bao gồm: “tự sao chép một bản nhằm mục đích  nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không  làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; trích dẫn  tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ,  trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu; trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích  thương mại; sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;  biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi  sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;  ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy; chụp  ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được  trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó; chuyển tác  phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; nhập khẩu bản sao  tác phẩm của người khác để sử dụng riêng”. 

Hai là, trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng  phải trả tiền nhuận bút, thù lao là trường hợp tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã  công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào.

(ii) Điều kiện thứ hai: Ngoại lệ quyền tác giả nếu thuộc các trường hợp được liệt  kê nói trên thì việc sử dụng tác phẩm đã công bố phải không được làm ảnh hưởng  đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của  tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất  xứ của tác phẩm. 

Có thể thấy rằng, Pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả không sử dụng  thuật ngữ “giới hạn” hay “ngoại lệ”. Tuy nhiên, bằng phương thức liệt kê những  trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép chủ sở hữu  quyền tác giả đã đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa các chủ thể trong xã hội thông  qua các ngoại lệ quyền tác giả. Trên thực tế, dù là “ngoại lệ”, “giới hạn” hay các  thuật ngữ có ý nghĩa tương tự thì đều được sử dụng để xác định những trường hợp  được pháp luật quy định cho phép công chúng được khai thác tác phẩm mà không  phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả. Vì vậy, để thống nhất về mặt ngôn ngữ thì  Luận án sử dụng thuật ngữ “ngoại lệ quyền tác giả”.  

Ngoại lệ quyền tác giả được hiểu là những quy phạm pháp luật cho phép  công chúng được quyền khai thác tác phẩm mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu  quyền tác giả với những điều kiện nhất định, trong những trường hợp xác định,  không được sử dụng vì mục đích thương mại, không được làm phương hại một cách  bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả.  

Cuộc cách mạng Internet đã tạo ra sự không nhất quán giữa tình trạng quyền  độc quyền dành cho tác giả được hiện đại hóa trong khi ngoại lệ quyền tác giả có  thể vẫn còn lỗi thời. Nếu cán cân lợi ích nghiêng về phía người sáng tạo tác phẩm  thì một số khía cạnh thuộc chức năng xã hội của quyền tác giả không được thực  hiện hiệu quả. Ngoại lệ quyền tác giả cần phải được áp dụng linh hoạt trong môi  trường Internet nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội. 

Theo tác giả: Võ Trung Hậu

Link tài liệu đính kèm: https://docs.google.com/document/d/1sDYgDJRuBAHvsoxpjTL-DeR3DGG84u1t/edit

 

 

avatar
Đặng Quỳnh
1066 ngày trước
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET
2.1. Khái niệm, đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả 2.1.1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả Quyền tác giả cho phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền khai  thác, sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Về bản chất, quyền tác giả là quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác  phẩm. Nghĩa là, quyền tác giả được xác định trong một phạm vi và thời hạn nhất  định. Đó là quyền ngăn cấm người thứ ba khai thác, sử dụng tác phẩm được bảo hộ.  Tác phẩm được bảo hộ là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và  khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Pháp luật Việt Nam  công nhận cho người sáng tạo tác phẩm hai nhóm quyền cơ bản: quyền nhân thân  và quyền tài sản. Người sáng tạo tác phẩm không cần đăng ký để được thụ hưởng  quyền tác giả mà chỉ cần thỏa mãn ba điều kiện: (i) tác giả là người sáng tạo ra tác  phẩm, (ii) tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, (iii) tác  phẩm phải được thể hiện trên một lãnh thổ mà ở đó bảo hộ quyền tác giả. Bảo hộ là việc ghi nhận và đảm bảo cho ai đó hoặc cái gì đó trong tình trạng  an toàn. Bảo hộ là “che chở, không để bị tổn thất”24. Như vậy, bảo hộ quyền tác giả là những hành động mang tính chất che chở quyền tác giả nhằm không để xảy ra tổn  thất về vật chất, tinh thần. Chú thích 3, Điều 3, Hiệp định TRIPS định nghĩa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm tất cả các vấn đề liên quan điều kiện bảo hộ, duy trì  hiệu lực và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề liên quan đến sử dụng quyền sở hữu trí tuệ. Bảo hộ quyền tác giả là việc Nhà nước công nhận quyền  của tác giả đối với tác phẩm, quy định và bảo vệ cho tác giả các quyền pháp lý cụ thể đối với tác phẩm nhằm làm cho tác giả thực sự hưởng được các lợi ích vật chất  và tinh thần có được từ quyền tác giả.  Bảo hộ quyền tác giả đem lại sự bù đắp vật chất cho người sáng tạo nhằm  khuyến khích hoạt động sáng tạo. Bảo hộ quyền tác giả đảm bảo khả năng khai thác  độc quyền lợi ích vật chất từ tác phẩm sẽ gián tiếp khuyến khích tác giả đưa sản  phẩm do mình sáng tạo lưu hành trong công chúng. Do đó, bảo hộ quyền tác giả  còn tạo điều kiện cho công chúng được tiếp cận tác phẩm một cách phù hợp. Các  tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật được sáng tạo trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nếu tác giả cần công chúng thưởng thức tác phẩm thì công chúng cần được tiếp  cận tri thức, tận hưởng văn hóa, nghệ thuật. Tác giả yêu cầu tác phẩm do mình sáng  tạo phải được bảo vệ, chống lại việc sử dụng tác phẩm mà không được sự đồng ý  của tác giả. Trong khi công chúng yêu cầu quyền được khai thác tác phẩm với lý do  tiếp cận tri thức, tận hưởng văn hóa, nghệ thuật.  Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của người  sáng tạo và lợi ích công cộng nhằm tạo động lực cho các nỗ lực sáng tạo thông qua  việc dành sự thừa nhận chính thức đối với người sáng tạo, tạo nguồn cung cấp  thông tin quan trọng cho xã hội. Bảo hộ quyền tác giả là sự thỏa hiệp ngầm định và  tương đối giữa lợi ích của người sáng tạo tác phẩm và lợi ích công cộng. Đây là triết  lý cơ bản của gần như tất cả các điều ước quốc tế và pháp luật mọi quốc gia. Lần  đầu tiên trên thế giới, Đạo luật bản quyền Anh năm 1710 quy định chủ sở hữu  quyền tác giả phải gửi bảy bản sao tác phẩm tới bảy thư viện lớn. Nghĩa là, người  sáng tạo tác phẩm muốn được bảo hộ quyền tác giả thì phải cung cấp miễn phí bản  sao tác phẩm cho công chúng thông qua các thư viện. Mục đích của quy định pháp  luật này là để đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo và công chúng. Như vậy, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải thiết lập được một sự cân  bằng giữa lợi ích của người sáng tạo và lợi ích công cộng xoay quanh tác phẩm  được bảo hộ. Bảo hộ quyền tác giả phải xác lập, bảo vệ quyền kiểm soát hành vi  khai thác, sử dụng tác phẩm nhưng cũng phải đảm bảo quyền tự do tiếp cận tri thức,  tận hưởng văn hóa, nghệ thuật. Để thực hiện chức năng này, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải cân nhắc hai vấn đề sau: (i) Xác lập, công nhận quyền tác giả cho các tổ chức, cá nhân với việc quản lý,  sử dụng, khai thác quyền tác giả; bảo vệ quyền tác giả chống lại các hành vi xâm  phạm nhằm đảm bảo cho tác giả quyền kiểm soát hành vi khai thác, sử dụng tác  phẩm của người dùng Internet, tạo động lực đủ mạnh để khuyến khích hoạt động  sáng tạo (ii) Xác lập, công nhận một số trường hợp ngoại lệ quyền tác giả cho phép điều  hòa giữa yêu cầu của việc bảo hộ quyền tác giả với các yêu cầu khác vì lợi ích  chung nhằm đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa, tận hưởng nghệ thuật, tiếp cận tri  thứcHài hòa và cân bằng lợi ích giữa các chủ thể là một trong những điều kiện  căn bản để đảm bảo tính đúng đắn, khả thi của các quy định pháp luật về quyền tác  giả trong thực tiễn. Điều đó có nghĩa là, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả chỉ có  giá trị thực thi cao khi các chủ thể còn lại chấp nhận các giá trị cơ bản mà pháp luật  đặt ra. Quyền tác giả có thể bóp méo cạnh tranh, cản trở lưu thông hàng hóa dịch vụ và hạn chế khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với sản phẩm sáng tạo. Vì vậy, một  số quy định pháp luật được ban hành và một số học thuyết được hình thành nhằm  đảm bảo lưu thông thị trường, cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu quyền tác giả và  lợi ích công cộng.  Bảo hộ quyền tác giả quá mức có thể chuyển giao thặng dư cho người sáng  tạo, hi sinh lợi ích của công chúng và hạn chế khả năng tiếp cận tri thức cho các  sáng tạo tiếp theo. Bảo hộ quyền tác giả phải cân bằng lợi ích của người sáng tạo  và lợi ích công cộng bằng cách quy định những trường hợp sử dụng tác phẩm được bảo hộ mà không cần xin phép. Các trường hợp này như một thông điệp nhắc nhở rằng quyền tác giả được đặt ra để đảm bảo lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội. Sự hài hòa và cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo với lợi ích của công chúng  nhằm đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: Thứ nhất, yêu cầu của quyền tự do ngôn luận: Tự do ngôn luận là vấn đề đã được thừa nhận ở các điều ước quốc tế. Quyền tự do ngôn luận là cơ sở cơ bản  cho sự vận hành của một xã hội dân chủ đồng thời cũng phục vụ cho việc nâng cao  mức độ minh bạch và trách nhiệm xã hội. Việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận bao  gồm hai khía cạnh là tự do thể hiện ý tưởng và tự do tiếp nhận ý tưởng. Ở khía  cạnh thứ hai của quyền tự do ngôn luận thì việc tiếp nhận các ý tưởng, tri thức có  thể mâu thuẫn với lợi ích của người sáng tạo trong những trường hợp khai thác tác  phẩm đã công bố.  Thứ hai, yêu cầu tăng cường các giá trị xã hội: Các kiến thức và kỹ năng mà  con người có thể tiếp cận từ các tác phẩm được bảo hộ là nguồn nguyên liệu quan  trọng cho sự tăng trưởng trong bất kỳ xã hội nào. Tuy nhiên, chủ sở hữu quyền tác  giả có quyền định đoạt mức chi phí để công chúng có thể tiếp cận tác phẩm do mình  sáng tạo. Chính điều này đã ngăn cản việc tiếp cận tác phẩm được bảo hộ của những  người không có khả năng chi trả. Bảo hộ quyền tác giả quá mức có thể dẫn đến việc  tạo ra chi phí quá lớn cho các chủ thể khác trong xã hội. Việc cho phép tiếp cận tác  phẩm được bảo hộ trong những trường hợp ngoại lệ quyền tác giả sẽ bù đắp cho  những chủ thể khác và giúp tái cân bằng xã hội. Thứ ba, yêu cầu bảo vệ lợi ích công cộng: Lợi ích công cộng là đại diện cho  lợi ích của nhà nước nhưng cũng bao gồm lợi ích của từng cá nhân, lợi ích chung  của toàn xã hội. Thuật ngữ lợi ích công cộng hiện nay được sử dụng một cách linh  hoạt để chỉ bất kỳ loại lợi ích nào có lợi cho công chúng khi đồng nghĩa với các  khái niệm “lợi ích chung”. Đây là một trong những vấn đề quan trọng mà pháp luật  về bảo hộ quyền tác giả phải xem xét. Như vậy, xét về tổng lợi ích xã hội thì pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải  đáp ứng các tiêu chí sau: (i) chỉ được áp dụng cho xã hội một khi dự kiến được sẽ mang lại tổng phúc lợi xã hội tối ưu; (ii) cung cấp các quyền độc quyền pháp lý  dành cho người sáng tạo như một động lực khuyến khích hoạt động sáng tạo; (iii)  kích thích sản xuất và sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học để đóng  góp tối đa tổng phúc lợi xã hội. Bảo hộ quyền tác giả hiểu một cách chung nhất là việc Nhà nước ban hành  các quy phạm pháp luật, tạo cơ sở cho việc xác lập, công nhận và bảo vệ quyền, lợi  ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do họ sáng tạo. Nhà nước  thực hiện các thủ tục xác lập quyền tác giả, thực hiện quản lý nhà nước đối với  quyền tác giả, quy định các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quy định những biện  pháp xử lý quyền tác giả nhằm chấm dứt hành vi xâm phạm quyền tác giả, đảm bảo  cho quyền tác giả được tôn trọng. Chủ thể thực hiện hành vi bảo hộ quyền tác giả là  nhà nước còn chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ quyền tác giả có thể là nhà nước  hoặc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Trong khi đó, chủ thể thực thi quyền tác giả có thể là nhà nước, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc các chủ thể khác như hiệp hội, tổ chức tập thể. Đối với bảo hộ quyền tác giả, Nhà nước thực hiện rất nhiều hành vi khác  nhau, từ thực hiện thủ tục xác lập quyền, quản lý nhà nước đến xác định hành vi  xâm phạm và quy định biện pháp xử lý hành vi xâm phạm. Đối với bảo vệ quyền  tác giả thì chủ thể quyền và các cơ quan nhà nước chỉ được phép tiến hành các biện  pháp bảo vệ được pháp luật quy định. Đối với thực thi quyền tác giả, các chủ thể thực thi quyền có thể áp dụng các biện pháp luật định và các biện pháp không trái  với quy định pháp luật34. Ở Việt Nam, khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lần  đầu được quy định trong Phần thứ V, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Trước đó,  những khái niệm được sử dụng thường xuyên là “bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” và  “thực thi quyền sở hữu trí tuệ”. Công ước Berne, Hiệp ước WCT đều sử dụng khái  niệm bảo hộ quyền tác giả và thực thi quyền tác giả.  Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả có thể hiểu là việc nhà nước xác lập, công nhận  và đảm bảo các quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm nhằm kiểm  soát hành vi khai thác, sử dụng tác phẩm; cho phép hoặc ngăn cấm chủ thể khác  khai thác tác phẩm phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cân bằng  giữa lợi ích của người sáng tạo tác phẩm và lợi ích công cộng. 2.1.2. Mục đích của bảo hộ quyền tác giả Bảo hộ quyền tác giả mang đầy đủ những nội dung của bảo hộ quyền sở hữu  trong môi trường vật chất hữu hình. Nghĩa là, quyền tác giả là sự bảo hộ của nhà  nước được đảm bảo bằng pháp luật đối với người sáng tạo. Mặt khác, quyền tác giả là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình là tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật nên bảo hộ quyền tác giả còn có hai mục đích sau: (i) bảo hộ quyền tác giả nhằm  đảm bảo quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm, (ii) bảo hộ quyền tác  giả nhằm đảm bảo lợi ích công cộng bằng quy định pháp luật về ngoại lệ quyền tác  giả.  Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả nhằm đảm bảo quyền độc quyền dành cho  người sáng tạo tác phẩm. Các quyền tài sản của người sáng tạo tác phẩm được pháp luật Việt Nam bảo  hộ gồm: Quyền làm tác phẩm phái sinh; quyền biểu diễn tác phẩm trước công  chúng; quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao  tác phẩm; quyền truyền đạt tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng  thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; quyền cho thuê bản  gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Các quyền này do tác  giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực  hiện. Việc công nhận quyền tác giả là một quyền độc quyền có thể xem như một vũ  khí hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của tác giả. Quyền tác giả cho phép người sáng tạo tác phẩm độc quyền khai thác lợi ích vật chất từ tác phẩm và không ai có thể khai thác tác phẩm khi không được tác giả cho phép. Từ đó, mọi người đều yên tâm  sáng tạo và khuyến khích cả công đồng sáng tạo. Nếu không bảo hộ quyền độc  quyền của người sáng tạo tác phẩm thì tác giả chỉ có thể sáng tạo vì niềm đam mê  và hoạt động sáng tạo nói chung của cộng đồng sẽ không được khuyến khích.  Quyền tác giả là quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm. Nghĩa  là được pháp luật quy định và được bảo vệ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.  Nói cách khác, quyền tác giả được bảo hộ thông qua việc bảo vệ các quyền độc  quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm. Số lượng và nội dung quyền độc quyền  dành cho tác giả sẽ thể hiện phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải ghi nhận, đảm bảo cho tác giả quyền độc quyền sử dụng, khai  thác tác phẩm được bảo hộ. Đồng thời, phải đảm bảo lợi ích công cộng thông qua  quy định pháp luật về các trường hợp khai thác tác phẩm đã công bố mà không phải  xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.  Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người thể hiện quyền được bảo vệ đối với  kết quả sáng tạo của con người như sau: “Mọi người đều có quyền tự do tham gia  vào đời sống văn hóa của cộng đồng, sáng tạo nghệ thuật và tham gia hoạt động  khoa học. Mỗi người đều có quyền được bảo vệ lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần  có được từ hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật mà họ là tác giả”36. Tuyên bố này khẳng định việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng  là một trong những yêu cầu cơ bản để bảo vệ hoạt động sáng tạo của con người. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả để đảm bảo cho người sáng tạo tác phẩm văn học,  khoa học, nghệ thuật quyền kiểm soát việc sử dụng, khai thác tác phẩm trong một  thời hạn nhất định, không ai có quyền khai thác tác phẩm khi không được sự cho  phép của chủ sở hữu quyền tác giả.  Quyền tác giả đảm bảo lợi thế thương mại cho người sáng tạo tác phẩm,  cung cấp động lực to lớn để thúc đẩy hoạt động sáng tạo nhằm nâng cao đời sống  tinh thần của toàn nhân loại. Do đó, một trong những mục đích quan trọng nhất của  bảo hộ quyền tác giả là xác định phạm vi quyền độc quyền dành cho người sáng tạo  tác phẩm từ đó tạo ra lợi thế thương mại cho tác giả. Quyền tác giả cũng là một  phần thưởng trao cho người sáng tạo, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Thông  qua quyền tác giả, người sáng tạo tác phẩm có quyền kiểm soát các chủ thể khác  thực hiện hành vi sao chép, phân phối, truyền đạt, cho thuê tác phẩm. Internet phát triển đã đặt ra những vấn đề chưa từng xuất hiện trong môi  trường vật chất hữu hình. Công nghệ kỹ thuật số cho phép tạo bản sao tác phẩm số với chất lượng như bản gốc mà không tốn chi phí hoặc chi phí rất thấp đã đặt ra vấn  đề cần phải xem xét lại khái niệm nền tảng của quyền tác giả là quyền sao chép.  Hơn nữa, hành vi áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm  quyền tác giả trong môi trường Internet cũng đặt ra vấn đề cần phải xem xét phạm  vi quyền tự bảo vệ tác phẩm bằng biện pháp công nghệ nhằm đảm bảo quyền của  người sáng tạo tác phẩm. Thứ hai, bảo hộ quyền tác giả nhằm đảm bảo lợi ích công cộng bằng quy định  pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả. Bảo hộ quyền tác giả nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng tiếp cận tác phẩm  một cách thích hợp. Bản thân việc bảo hộ đảm bảo cho tác giả khả năng khai thác  độc quyền lợi ích vật chất từ tác phẩm đã gián tiếp khuyến khích tác giả đưa tác  phẩm lưu hành rộng rãi, qua đó giúp công chúng được tiếp cận với tác phẩm.  Quyền độc quyền của tác giả đối với tác phẩm chỉ có tính tương đối bởi vì các  quyền độc quyền này cần phải tôn trọng các lợi ích cơ bản khác. Một số hạn chế được giải thích là do sự cần thiết của việc phải bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản  (tự do báo chí, tự do ngôn luận…) điển hình như các quyền trích dẫn, phân tích,  đánh giá báo chí… Tuy nhiên, đối với một số hạn chế khác thì được giải thích dựa  trên lợi ích công cộng, ví dụ như sử dụng tác phẩm vì mục đích giảng dạy, nghiên  cứu hay các hoạt động tuyên truyền. Mặt khác, quyền tác giả cũng giống như , quyền sở hữu và các loại quyền khác đều chịu sự ràng buộc của quy định pháp luật  được ban hành nhằm đảm bảo quyền tự do cho tất cả mọi người.  Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người39 cũng khẳng định rằng: “mọi người  đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, để tận hưởng  nghệ thuật và được chia sẻ tiến bộ khoa học và lợi ích của nó" và “mọi người đều  được hưởng quyền giáo dục”. Tuyên ngôn này khẳng định con người phải được  đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa, tận hưởng nghệ thuật và được hưởng quyền giáo  dục. Quyền con người được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) quyền con người với nghĩa  bị động: là quyền được tiếp cận với văn hóa, nghệ thuật, khoa học; (ii) quyền con  người với nghĩa chủ động: là quyền của người sáng tạo nhằm bảo vệ những giá trị tinh thần và giá trị vật chất đạt đươc từ hoạt động sáng tạo của tác giả. Điều này  thể hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải đảm bảo yêu cầu cân bằng lợi ích  giữa quyền tác giả và quyền con người. Bảo hộ quyền tác giả có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa quyền của người sáng tạo  và quyền con người. Một mặt, cần phải bảo hộ quyền tác giả nhằm khuyến khích  hoạt động sáng tạo. Mặt khác, để nâng cao trình độ khoa học, giáo dục, văn hoá thì  công chúng cần phải được quyền tiếp cận tác phẩm cho các mục đích phù hợp. Do  đó, bên cạnh việc nhà nước công nhận quyền nhân thân, quyền tài sản dành cho  người sáng tạo tác phẩm thì pháp luật về bảo hộ quyền tác giả cũng cho phép người  dùng khai thác tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả trong  một số trường hợp nhằm đảm bảo quyền tiếp cận tri thức, tận hưởng văn hóa, nghệ thuật của nhân loại41. Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả phải đảm bảo rằng thông tin được phổ biến tự do  vì lợi ích công cộng, làm giảm chi phí sáng tạo, khuyến khích tạo ra các tác phẩm  mới, khuyến khích cạnh tranh là hết sức cần thiết. Mục tiêu của bảo hộ quyền tác  giả là phải thúc đẩy lợi ích xã hội bằng cách khuyến khích hoạt động sáng tạo và  phổ biến các tác phẩm mới cho công chúng. Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả chỉ được coi là có ích một khi pháp luật tăng cường được tổng phúc lợi xã hội của cả cộng đồng. Vì lẽ đó, triết lý cơ bản của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả là phải cân bằng  được lợi ích của người sáng tạo và lợi ích công cộng. Pháp luật về bảo hộ quyền  tác giả là sự mặc cả và thỏa hiệp ngầm định giữa lợi ích của người sáng tạo tác  phẩm và lợi ích công cộng xoay quanh tác phẩm được bảo hộ. Trước hết, chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền lợi cơ bản và xác định trong một khoảng thời  gian nhất định. Nhưng nếu người sáng tạo nhận được quá nhiều quyền độc quyền  thì có thể làm giảm lợi ích công cộng. Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải cân  nhắc quyền lợi của công chúng với việc cho phép khai thác tác phẩm được bảo hộ trong những trường hợp ngoại lệ quyền tác giả.  Ngoại lệ quyền tác giả đề cập đến những trường hợp công chúng có thể khai  thác tác phẩm đã công bố mà không cần phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.  Việc khai thác nghĩa là thực hiện các hành vi thuộc phạm vi quyền tác giả nhưng  không cần phải xin phép tác giả, không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Đây là  những trường hợp pháp luật bắt buộc chủ sở hữu quyền tác giả phải cho phép công  chúng được khai thác tác phẩm trong một số trường hợp nhất định. Mặc dù được  khái quát chung như vậy, song cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất ở cấp  độ quốc tế và quốc gia về ngoại lệ quyền tác giả. Một số học giả cho rằng “ngoại lệ”  có nghĩa là sử dụng miễn phí trong khi “giới hạn” bao gồm việc sử dụng miễn phí  và cho phép khai thác tác phẩm theo quy định pháp luật hoặc thu hẹp phạm vi quyền độc quyền tác giả. Công ước Berne, Hiệp định TRIPS, Hiệp ước WCT cũng cho phép các quốc  gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội sẽ xây dựng nên những quy định về ngoại  lệ hoặc giới hạn khác nhau trong những trường hợp được xác định. Nhìn chung,  pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả của các quốc gia trên thế giới được thiết kế theo  hướng căn cứ vào các yếu tố cần xem xét đối với từng vụ việc cụ thể hoặc liệt kê  những trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không cần xin phép. Cụ thể như sau: Một là, xác định ngoại lệ quyền tác giả bằng các quy định pháp luật về các  yếu tố cần xem xét đối với từng vụ việc cụ thể. Phương thức này có nhược điểm là  không tạo ra sự chính xác triệt để nhưng có ưu điểm là hết sức linh hoạt. Điển  hình cho hệ thống pháp luật này là Luật Bản quyền của Hoa Kỳ. “Sử dụng hợp lý”  (fair use) là quy định của pháp luật Hoa Kỳ cho phép khai thác tác phẩm trong một  số trường hợp không cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả về lý thuyết  được áp dụng đối với tất cả các quyền độc quyền dành cho tác giả. Để xác định  việc khai thác tác phẩm trong một trường hợp cụ thể được coi là sử dụng hợp lý hay  không thì phải xem xét bốn yếu tố sau đây: - Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, dù việc sử dụng đó có bản chất phục  vụ thương mại hay vì mục đích giáo dục phi lợi nhuận; - Bản chất của tác phẩm; - Khối lượng và bản chất được sử dụng trong mối quan hệ với toàn bộ tác  phẩm có bản quyền. Vì sẽ là không công bằng nếu tác phẩm được sử dụng nhiều  hơn mức cần thiết trong ý nghĩa của trường hợp ngoại lệ; - Ảnh hưởng của việc sử dụng đối với thị trường tiềm năng hoặc giá trị của tác  phẩm có bản quyền. Có nghĩa là, cần phải cân đối giữa lợi nhuận chủ sở hữu quyền  tác giả sẽ nhận được và lợi ích mà công chúng có được từ việc khai thác tác phẩm  nếu việc khai thác được coi là công bằng. Việc một tác phẩm chưa được xuất bản  không cản trở việc đưa ra kết luận về sử dụng hợp lý nếu kết luận đó được rút ra  nhờ xem xét tất cả những yếu tố trên49.  Hai là, xác định ngoại lệ quyền tác giả bằng quy định pháp luật về những  trường hợp sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng quy định ngoại lệ quyền tác giả bằng phương  pháp liệt kê này.  Ở Việt Nam, ngoại lệ quyền tác giả lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật  Dân sự 1995 như sau: “Cá nhân, tổ chức được khai thác tác phẩm của người khác  đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng  đó không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác  bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức khai thác tác phẩm không phải xin phép và  không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi  hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm”. Việc khai thác tác phẩm bao gồm  các hình thức sau đây: “Sao lại tác phẩm để sử dụng riêng; trích dẫn tác phẩm mà  không làm sai lạc ý của tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của  mình; trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để viết báo, để dùng  trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;  trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để giảng dạy, kiểm tra kiến  thức trong nhà trường; Sao lại tác phẩm để lưu trữ, dùng trong thư viện; dịch, phổ biến tác phẩm từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam và ngược lại; biểu  diễn các tác phẩm sân khấu và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các  buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động ở nơi công cộng; ghi âm, ghi hình  trực tiếp các buổi biểu diễn với tính chất đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy; chụp  ảnh, truyền hình, giới thiệu hình ảnh của tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh,  mỹ thuật ứng dụng trưng bày ở nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của các tác  phẩm đó; chuyển tác phẩm sang chữ nổi cho người mù”50.  Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ như sau: “Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong  phạm vi và thời hạn bảo hộ; việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm  phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên  quan”; và “công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ  sở đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng;  khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần  phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”51. Để cụ thể hóa quy định pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả, Luật sở hữu trí tuệ Việt  Nam sử dụng phương pháp liệt kê những trường hợp được sử dụng tác phẩm đã  công bố mà không phải xin phép. Theo đó, hành vi sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả khi và chỉ khi đáp ứng cả hai  điều kiện sau đây: (i) Điều kiện thứ nhất: Để được xem là ngoại lệ quyền tác giả thì việc sử dụng  tác phẩm phải thuộc các hành vi được liệt kê thuộc hai trường hợp xác định sau: Một là, trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép,  không phải trả thù lao, nhuận bút bao gồm: “tự sao chép một bản nhằm mục đích  nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không  làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; trích dẫn  tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ,  trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu; trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích  thương mại; sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;  biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi  sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;  ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy; chụp  ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được  trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó; chuyển tác  phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; nhập khẩu bản sao  tác phẩm của người khác để sử dụng riêng”. Hai là, trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng  phải trả tiền nhuận bút, thù lao là trường hợp tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã  công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào.(ii) Điều kiện thứ hai: Ngoại lệ quyền tác giả nếu thuộc các trường hợp được liệt  kê nói trên thì việc sử dụng tác phẩm đã công bố phải không được làm ảnh hưởng  đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của  tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất  xứ của tác phẩm. Có thể thấy rằng, Pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả không sử dụng  thuật ngữ “giới hạn” hay “ngoại lệ”. Tuy nhiên, bằng phương thức liệt kê những  trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép chủ sở hữu  quyền tác giả đã đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa các chủ thể trong xã hội thông  qua các ngoại lệ quyền tác giả. Trên thực tế, dù là “ngoại lệ”, “giới hạn” hay các  thuật ngữ có ý nghĩa tương tự thì đều được sử dụng để xác định những trường hợp  được pháp luật quy định cho phép công chúng được khai thác tác phẩm mà không  phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả. Vì vậy, để thống nhất về mặt ngôn ngữ thì  Luận án sử dụng thuật ngữ “ngoại lệ quyền tác giả”.  Ngoại lệ quyền tác giả được hiểu là những quy phạm pháp luật cho phép  công chúng được quyền khai thác tác phẩm mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu  quyền tác giả với những điều kiện nhất định, trong những trường hợp xác định,  không được sử dụng vì mục đích thương mại, không được làm phương hại một cách  bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả.  Cuộc cách mạng Internet đã tạo ra sự không nhất quán giữa tình trạng quyền  độc quyền dành cho tác giả được hiện đại hóa trong khi ngoại lệ quyền tác giả có  thể vẫn còn lỗi thời. Nếu cán cân lợi ích nghiêng về phía người sáng tạo tác phẩm  thì một số khía cạnh thuộc chức năng xã hội của quyền tác giả không được thực  hiện hiệu quả. Ngoại lệ quyền tác giả cần phải được áp dụng linh hoạt trong môi  trường Internet nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội. Theo tác giả: Võ Trung HậuLink tài liệu đính kèm: https://docs.google.com/document/d/1sDYgDJRuBAHvsoxpjTL-DeR3DGG84u1t/edit